Bàn về chế độ hạch toán các khoản dự phòng trong doanh nghiệp. - Pdf 51

MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng
đang bước sang một giai đoạn phát triển mới đầy cơ hội và thách thức, khi Việt
Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế
giới WTO. Theo như cam kết gia nhập, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
đã có những điều chỉnh, tạo nên tính thống nhất cao, tính ứng dụng thật phù
hợp với điều kiện của mọi loại hình doanh nghiệp.
Trong công tác hạch toán các khoản dự phòng của doanh nghiệp, đã có
hai văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, phù hợp với tình hình
mới. Đó là quyết định số 15/2006/QĐ – BTC ban hành “Chế độ kế toán doanh
nghiệp”, thông tư số 13/2006/TT – BTC hướng dẫn “chế độ trích lập các khoản
dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ khó
đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp tại doanh nghiệp ”.
Một điều rất quan trọng là các văn bản này đã quy định thống nhất cho tất cả
các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, hai văn bản trên vẫn
không tránh khỏi những thiếu sót gây khó khăn trong quá trình hạch toán của
doanh nghiệp. Vì vậy, em xin chọn đề tài “Bàn về chế độ hạch toán các khoản
dự phòng trong doanh nghiệp ” để làm rõ vấn đề trên và từ đó đưa ra một số
kiến nghị phù hợp.
Em xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thày giáo hướng dẫn. Tuy
nhiên, do thời gian và trình độ hạn chế, đề án môn học không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong thầy cô và các bạn đóng góp những ý kiến quý báu để đề
tài hoàn thiện hơn.
1
1
I. CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VỀ CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG
I.1. Tính tất yếu khách quan của việc hạch toán các khoản dự phòng trong
doanh nghiệp
I.1.1. Dự phòng và tích hợp dự phòng là gì?
Dự phòng là sự xác nhận về phương diện kế toán một khoản giảm giá trị
tài sản hay lợi ích kinh tế của doanh nghiệp do những nguyên nhân mà hậu quả

Dự phòng thực chất là việc ghi trước một khoản chi phí thực tế chưa thực
chi vào chi phí kinh doanh, chi phí đầu tư tài chính của niên độ báo cáo để có
nguồn tài chính cần thiết bù đắp những thiệt hại có thể xảy ra trong niên độ sau.
Dự phòng làm tăng tổng chi phí nên nó đồng nghĩa với sự tạm thời giảm thu
nhập ròng của niên độ báo cáo – niên độ lập dự phòng.
Thực chất, lập dự phòng của các niên độ kế toán trong doanh nghiệp không
làm thay đổi lợi nhuận trong dài hạn, mà chỉ là quá trình chuyển lợi nhuận từ
kỳ kế toán này sang kỳ kế toán khác. Như vậy, lợi nhuận trong các năm sẽ ổn
định, tránh những ảnh hưởng lớn gây “sốc” tới hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Qua các giai đoạn, trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp
Việt Nam như hiện nay, cùng với những cơ hội phát triển kinh doanh, không
tránh khỏi những rủi ro kinh tế. Những rủi ro này có thể do những nguyên nhân
khách quan (thiên tai, địch họa…) hay do những nguyên nhân chủ quan (thị
trường tài chính biến động, giá nguyên vật liệu trong nước và thế giới thay đổi,
con nợ phá sản…).
Vì vậy, để hạn chế tác hại của những rủi ro kinh tế, việc trích lập dự phòng
là một yêu cầu bắt buộc của doanh nghiệp. Nó sẽ tạo ra một sự ổn định cho
doanh nghiệp kể cả khi doanh nghiệp rơi vào tình huống khó khăn, giúp cho
3
3
quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường, tránh
trường hợp phá sản do mất khả năng thanh toán,…
Việc trích lập dự phòng thường diễn ra đối với các khoản mục tài sản, phải
thu chịu tác động rất lớn từ những yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp. Ví dụ
như các khoản mục sau:
- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
- Dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính
- Dự phòng nợ phải thu khó đòi
- Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp tại

ngày 27/02/2006, Bộ Tài chính cũng ban hành Thông tư số 13/2006/TT – BTC
“Hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tốn
kho, tổn thất của khoản đầu tư tài chính, nợ khó đòi và bảo hành sản phẩm,
hàng hóa, công trình xây lắp tại doanh nghiệp”.
Đây thực sự là một cột mốc quan trọng của việc trích lập và hạch toán các
khoản dự phòng. Ngoài việc bổ sung thêm các vấn đề kinh tế phát sinh, thông
tư mới này đã đem tới cho doanh nghiệp Việt Nam một định hướng hạch toán
thống nhất. Cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan Thuế cũng dễ dàng quản lý
các khoản thu chi hơn nữa, tránh trường hợp trốn thuế của doanh nghiệp.
II.2.2 Nội dung chế độ kế toán của kế toán các khoản dự phòng hiện hành
Theo Thông tư số 13/2006/TT – BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày
27/02/2006, những khoản dự phòng cơ bản và quan trọng của doanh nghiệp
Việt Nam là:
- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
- Dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính
- Dự phòng nợ phải thu khó đòi
5
5
- Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp tại doanh
nghiệp
II.2.2.1 Hạch toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho
* Đối tượng lập dự phòng: Bao gồm nguyên vật liệu, dụng cụ dùng cho
sản xuất, vật tư, hàng hóa, thành phẩm tồn kho (gồm cả hàng tồn kho bị hư
hỏng, kém mất phẩm chất, lạc hậu mốt, lạc hậu kỹ thuật, lỗi thời, ứ đọng, chậm
luân chuyển…), sản phẩm dở dang, chi phí dịch vụ dở dang (sau đây gọi là
hàng tồn kho) mà giá gốc ghi trên sổ kế toán cao hơn giá trị thuần có thể thực
hiện hay đảm bảo thực hiện:
- Có hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của Bộ Tài chính hoặc
các bằng chứng khác chứng minh giá vốn hàng bán tồn kho.
- Là những vật tư, hàng hóa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tồn

+ Bên nợ: Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho không dùng đến.
+ Bên có: Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho hiện có
- Cuối kỳ kế toán, nếu số dự phòng giảm giá hàng tồn kho kỳ trước còn lại lớn
hơn số dự phòng cần trích lập cho kỳ này, kế toán hoàn nhập số chênh lệch
thừa:
Nợ TK 159 (Chi tiết từng loại): Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
không dùng đến
Có TK 632 : Giảm giá vốn hàng bán trong kỳ
- Nếu số dự phòng giảm giá hàng tồn kho kỳ trước còn lại nhỏ hơn số dự phòng
cần trích lập cho kỳ này, kế toán bổ sung vào giá vốn hàng bán:
Nợ TK 632: Tăng giá vốn hàng bán trong kỳ
7
7
Có TK 159 (Chi tiết từng loại): Trích lập bổ sung dự phòng giảm giá
hàng tồn kho
- Trong kỳ kế toán tiếp theo, nếu các loại hàng tồn kho được sử dụng hay tiêu
thụ, khoản dự phòng trên phải được hoàn nhập ghi giảm giá vốn hàng bán.
+ Bút toán 1:
Nợ TK 632: Ghi tăng giá vốn hàng bán (nếu tiêu thụ)
Nợ TK 621, 627, 641, 642…: Ghi tăng chi phi (nếu dùng cho sản xuất)
Có TK 151, 152, 153, 155, 156…: Gía gốc của hàng tồn kho
+ Bút toán 2:
Nợ TK 159 (Chi tiết từng loại): hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Có TK 632: Ghi giảm giá vốn hàng bán trong kỳ
Sơ đồ 1:
TK632
Cuối niên độ kế toán, tính, trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Cuối niên độ kế toán sau, trích bổ sung dự phòng giàm giá hàng
tồn kho (nếu dự phòng kỳ tới lớn hơn mức dự phòng kỳ này)
Cuối niên độ kế toán sau, ghi giảm chi phí số thu trích thừa

Tổng vốn góp thực tế của các bên tại tổ chức
Vốn chủ
sở hữu
thực có
Vốn góp thực tế các bên tại tổ chức
Vốn đầu tư của doanh nghiệp
=
_
×
9
Giá chứng
khoán hạch
toán trên sổ
kế toán
Số lượng chứng
khoán bị giảm giá
tại thời điểm lập báo
cáo tài chính
Mức dự
phòng giảm
giá đầu tư
chứng khoán
Giá chứng
khoán thực
tế trên thị
trường
9
+ Doanh nghiệp phải lập dự phòng riêng cho từng khoản đầu tư tài chính và
được tổng hợp lại vào bảng kê. Đây là căn cứ hạch toán chi phí tài chính của
doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status