Cơ sở xác định nguồn gốc tiếng Việt - Pdf 21

Cơ sở xác định nguồn gốc tiếng Việt
1. Về phương pháp xác định nguồn gốc ngôn ngữ
Trong lịch sử, có những ngôn ngữ mà vì một lí do nào đó đã bị chia tách ra thành
nhiều ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ bị chia tách đó thường được gọi là ngôn ngữ
mẹ hay ngôn ngữ cơ sở. Như vậy, về nguyên tắc, có thể tìm tòi ngược dòng thời
gian lịch sử của những ngôn ngữ được giả định là vốn cùng “sinh ra” từ một ngôn
ngữ mẹ, để quy chúng vào những nhóm, những chi, những ngành, những dòng
khác nhau, tuỳ theo mức độ thân thuộc nhiều hay ít.
Đối với mỗi ngôn ngữ, ba mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cũng như các tiểu hệ
thống của nó biến đổi không đồng đều, có những mặt, những yếu tố được bảo
toàn rất lâu dài; nhưng cũng có những yếu tố đã biến đổi với những mức độ khác
nhau. “Hầu như trong mỗi từ hoặc mỗi hình thức của từ lúc nào cũng có một cái gì
đó mới và một cái gì đó cũ”.
Sự biến đổi ngữ âm (điều cần tìm kiếm đầu tiên trong khi nghiên cứu quan hệ cội
nguồn của ngôn ngữ) không phải là những biến đổi hỗn loạn mà thường có lí do,
có quy luật và theo hệ thống.
Và có một điểm đáng chú ý, được coi là tiền đề quan trọng trong việc phân loại các
ngôn ngữ theo quan hệ cội nguồn, là tính võ đoán trong quan hệ ngữ âm với ý
nghĩa. Bởi thế, ta có quyền giả định rằng: những từ gần gũi nhau về âm thanh có
liên quan hoặc gắn bó với nhau ở ý nghĩa thường luôn luôn bắt nguồn từ cùng một
gốc nào đó.
Nếu như phương pháp so sánh loại hình giúp quy các ngôn ngữ vào những loại
hình khác nhau, hay phương pháp so sánh đối chiếu phát hiện những tương đồng
và khác biệt chủ yếu trên diện đồng đại ở một hay nhiều bình diện, bộ phận của
ngôn ngữ, thì để phát hiện ra sự thân thuộc giữa các ngôn ngữ về mặt cội nguồn
người ta dùng phương pháp so sánh–lịch sử. Có thể nói, phương pháp so sánh–lịch
sử từ việc so sánh, tìm ra các quy luật tương ứng về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
để rồi qua đấy xác định xác định nguồn gốc của một ngôn ngữ, hay quan hệ thân
thuộc giữa các ngôn ngữ về mặt nguồn gốc.
2. Về các ý kiến khác nhau trong việc xác định nguồn gốc tiếng Việt
Hiện nay, quan điểm xếp tiếng Việt vào họ Nam Á (được nêu ra từ năm 1856)

thời gian dài, nó đã chi phối quan niệm về phân loại nguồn gốc ngôn ngữ của các
nhà ngôn ngữ trên thế giới. Bằng phương pháp so sánh-lịch sử, với lập luận chặt
chẽ, tỉ mỉ về các khía cạnh từ vựng cơ bản, ngữ pháp và thanh điệu, Maspéro đã
làm những nhà nghiên cứu đương thời không có cách gì bác bỏ được. Cụ thể là:
- Về từ vựng: giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Thái cũng như với các ngôn ngữ
Mon-Khmer đều có sự tương ứng;
- Về ngữ pháp: tiếng Việt gần với tiếng Thái và khác rất xa với các ngôn ngữ Mon-
Khmer hiện nay bởi các tiếng Mon-Khmer có cơ sở sơ sài về hình thái học trong
khi đó tiếng Việt là một ngôn ngữ không có giá trị hình thái học.
- Về thanh điệu: với Maspéro, thanh điệu tiếng Việt là một vấn đề quan trọng vì
tiếng Việt hiện nay là một ngôn ngữ cũng có thanh điệu như các ngôn ngữ Thái và
Hán. Trong khi đó, cho đến nay, các ngôn ngữ Mon-Khmer vẫn là các ngôn ngữ
không có thanh điệu.
Tuy nhiên, những luận điểm của Maspéro không phải là không có hạn chế và
những hạn chế đó sau này đã được A.G. Haudricourt chỉ ra một cách thuyết phục.
3. Về cơ sở để xác định nguồn gốc tiếng Việt qua hai bài báo của A.G.
Haudricourt
3.1. Lập luận của A.G. Haudricourt trong việc chứng minh nguồn gốc Nam Á
của tiếng Việt
Trong hai năm 1953 và 1954, A.G. Haudricourt đã lần lượt công bố hai bài báo
quan trọng:
- Về nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt
- Về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt
Với hai bài báo này, ông đề nghị phải xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á, chứ
không phải là họ Thái như H. Maspéro đã đề nghị. Cần phải nói ngay rằng, A.G.
Haudricourt không phải là người đầu tiên nêu ra quan điểm xếp tiếng Việt vào họ
ngôn ngữ Nam Á. Mà, như đã trình bày ở trên, quan điểm này đã được đề xuất từ
năm 1856, và hiện nay, đây là quan điểm nhận được nhiều sự đồng tình nhất bởi cơ
sở khoa học của nó. Trong số những ý kiến ủng hộ đó, có thể coi lập luận của
Haudricourt là đầy đủ nhất và là những lí lẽ đại diện cho cách phân loại này. Hơn

- Giữa thanh điệu và phụ âm đầu có liên quan chặt chẽ đến nhau theo hướng các
phụ âm đầu tắc vô thanh tương ứng với một thanh có âm vực cao, còn những phụ
âm đầu hữu thanh thì tương ứng với thanh điệu có âm vực thấp.
- Thanh điệu tiếng Việt có sự tương ứng với cách kết thúc âm tiết:
+ Hai thanh ngang-huyền: âm tiết mở;
+ Hai thanh hỏi-ngã: âm cuối xát;
+ Hai thanh sắc-nặng: âm cuối tắc yết hầu.
Và cuối cùng, dựa trên kết quả phục nguyên, Haudricourt đã đưa ra sơ đồ về nguồn
gốc các thanh trong tiếng Việt như sau:
Đầu công nguyên
(không thanh)
Thế kỉ thứ VI
(ba thanh)
Thế kỉ XII
(sáu thanh)
Ngày nay
pa

pa

pa

ba

sla, hla

hla

la


hlà

l


l


bas, bah







las, lah







pax, pa?







l


l


Sơ đ


v


ngu

n g

c các thanh trong ti
ế
ng Vi

t

Từ những lí lẽ trên, A.G. Haudricourt đã khẳng định: “tốt nhất là chỉ nên xếp tiếng
Việt là thành viên của nhánh Mon-Khmer thuộc họ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á
hiện nay”.
3.2. Cơ sở xác định nguồn gốc tiếng Việt
Chúng ta có thể nhận thấy tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu xếp vào nhiều họ
ngôn ngữ khác nhau. Điều này cho thấy các ngôn ngữ trong khu vực, trong quá
trình phát triển, có sự tiếp xúc và vay mượn của nhau rất nhiều. Cho nên, khi xác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status