Hoàn thiện chính sách Tỷ giá ở Việt Nam: Cơ sở xác định, cơ chế và công cụ điều tiết trước yêu cầu của WTO và các đối tác thương mại doc - Pdf 11

Nhóm thực hiện:
1. Nguyễn Hoàng Công
2. Bùi Thị Đào
3. Đinh Trọng Đạt
4. Diệp Thị Dệt
5. Nguyễn Danh Đoàn
6. Nguyễn Huy Đức
7. Hoàng Thị Kim Dung
8. Lý Thị Phương Dung
Lớp: CH21D
Môn học: Tài chính quốc tế
Chuyên đề 4: Hoàn thiện chính sách Tỷ giá ở Việt Nam: Cơ sở xác định, cơ chế
và công cụ điều tiết trước yêu cầu của WTO và các đối tác thương mại.
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 1 / 19
MỤC LỤC
1. Cơ sở lý thuyết về tỷ giá hối đoái 3
1.1. Khái niệm 3
1.2. Mục tiêu của chính sách tỷ giá 3
1.2.1. Ổn định giá cả 3
1.2.2. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm 4
1.2.3. Cân bằng cán cân vãng lai 4
1.3. Vai trò của chính sách tỷ giá đến tăng trưởng kinh tế 5
1.3.1. Đối với cán cân thanh toán 5
1.3.2. Đối với lạm phát và lãi suất 5
1.3.3. Đối với sản lượng và việc làm 5
1.3.4. Đối với đầu tư quốc tế 5
1.3.5. Đối với đầu tư nước ngoài 6
1.4. Các công cụ điều tiết chính của chính sách tỷ giá 6
1.4.1. Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá 6

hành tỷ giá và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm đạt được một mức tỷ giá nhất định, để
tỷ giá tác động tích cực đến hoạt động cuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của quốc gia.
1.2. Mục tiêu của chính sách tỷ giá
1.2.1. Ổn định giá cả
Với các yếu tố khác không đổi, khi phá giá nội tệ (tức tỷ giá tăng), làm cho giá hàng hoá
nhập khẩu (bao gồm hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị cho sản suất trong
nước) tính bằng nội tệ tăng. Giá hàng hoá nhập khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung
của nền kinh tế tăng, tức gây lạm phát. Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hoá nhập
khẩu càng lớn thì tỷ lệ lạm phát càng cao. Điều này được thể hiện thông qua công thức:
P
t
= α.P + (1 - α).E.P
*
Trong đó:
α - là tỷ trọng hàng hoá sản suất trong nước
(1 - α) là tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu
P - là mức giá cả hàng hoá sản xuẩttong nước tính bằng nội tệ
P
*
- là mức giá cả hàng hoá nhập khẩu tính bằng ngoại tệ
E – là tỷ giá (số đơn vị nội tệ trên 1 đơn vị ngoại tệ)
P
t
– là mức giá cả hàng hoá chung của nền kinh tế
Ngược lại, khi nâng giá nội tệ (tức tỷ giá giảm), làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tính bằng
nội tệ giảm, tạo áp lực giảm lạm phát.
Qua phân tích thấy được, chính sách tỷ giá có thể được sử dụng như một công cụ hữu hiệu
nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá cả. Với các yếu tố khác không đổi, muốn kiềm chế lạm
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam

nhập khẩu, giúp điểu chỉnh cán cân vãng lai từ trạng thái thặng dư trở về trạng thái cân bằng
hay thâm hụt.
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 4 / 19
Với chính sách tỷ giá cân bằng sẽ có tác dụng cân bàng suất khẩu và nhập khẩu, giúp cán
cân vãng lai tự động cân bằng
1.3. Vai trò của chính sách tỷ giá đến tăng trưởng kinh tế
1.3.1. Đối với cán cân thanh toán
Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là quan trọng đối với một quốc gia vì trước tiên nó tác
động trực tiếp tới giá cả hàng suất nhập khẩu của chính quốc gia đó. Khi TGHĐ tăng (đồng
nội tệ xuống giá) sẽ làm tăng giá trong nước của hàng nhập khẩu và giảm giá ngoài nước
của hàng suất khẩu của nước đó, cải thiện sức cạnh tranh quốc tế của hàng trong nước. Các
nguồn lực sẽ được thu hút vào những ngành sản suất mà giờ đây có thể cạnh tranh hiệu quả
hơn so với hàng nhâp khẩu và cũng vào ngành suất khẩu mà giờ đây có thể có hiệu quả hơn
trên các thị trường quốc tế. Kết quả là suất khẩu tăng nhập khẩu giảm làm cán cân thanh
toán được cải thiện.
1.3.2. Đối với lạm phát và lãi suất
Khi các yếu tố khác không đổi TGHĐ tăng làm tăng giá các mặt hàng nhập khẩu tính bằng
nội tệ. Các hộ gia đình,các nhà sản suất sử dụng đầu vào nhập khẩu phải tiêu dùng hàng
nhập khẩu với mức giá tăng cùng tỷ lệ phá giá. Kết quả mức giá chung trong nền kinh tế trở
nên cao hơn đặc biệt là nền kinh tế nhỏ, mở cửa với thế giới bên ngoài có suất khẩu và nhập
khẩu chiếm tỷ lệ cao so với GDP. Nếu TGHĐ tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm
có nghĩa là lạm phát đã tăng. Nếu lãi suất tăng ở mức vừa phải có thể kiểm soát sẽ kích
thích tăng trưởng nhưng nếu lạm phát tăng quá cao sẽ tác động làm lãi suất tăng làm giảm
đầu tư ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế giảm sút.
1.3.3. Đối với sản lượng và việc làm
Đối với các lĩnh vực sản suất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước thì khi TGHĐ tăng, sự
tăng giá hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này giúp phát
triển sản suất từ đó tạo thêm công ăn việc làm giảm thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể

thả nổi). Để tiến hành can thiệp buộc NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh.
Hơn nữa, các hoạt động can thiệp trực tiếp của NHTW tạo ra hiệu ứng thay đổi cung ứng
tiền trong lưu thông, có thể tạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho nền
kinh tế; chính vì vậy, đi kèm theo hoạt động can thiệp trực tiếp, NHTW thường phải sử
dụng thêm một nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cung hay bổ sung phần thiếu
hụt tiền tệ trong lưu thông. Do có hạn chế nhất định, nên các NHTW của các nước phát triển
đã dần chuyển từ can thiệp trực tiếp sang can thiệp gián tiếp mà chủ yếu là thông qua công
cụ lãi suất tái chiết khấu.
Thuộc nhóm công cụ trực tiếp còn có các biện pháp can thiệp hành chính của Chính phủ:
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 6 / 19
Biện pháp kết hối:
Là việc Chính phủ quy định đối với các cá nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ
phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được phép
kinh doanh ngoại hối. Biện pháp kết hối được áp dụnh trong những thời kỳ khan hiếm
ngoại tệ giao dịch trên thị trường ngoại hối. Mục đích chính của biện pháp kết hối là
nhằm tăng cung ngoại tệ tức thời để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho thị trường, hạn chế
hành vi đầu cơ và giảm áp lực phải phá giá nội tệ.
Quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử dụng
ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời điểm được mua
ngoại tệ. Tất cả các biện pháp này đều nhằm mục đích giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ
và tác động giữ cho tỷ giá ổn định.
1.4.2. Nhóm công cụ tác động gián tiếp lên tỷ giá
Bao gồm các công cụ như: Lãi suất tái chiết khấu, thuế quan, hạn ngạch, giá cả v.v… Trong
số các công cụ gián tiếp thì công cụ lãi suất tái chiết khấu thường được sử dụng nhiều nhất
và tỏ ra hiệu quả nhất.
Lãi suất tái chiết khấu: Với các yếu tố khác không đổi, khi NHTW tăng mức lãi suất tái
chiết khấu, sẽ có tác động làm tăng mặt bằng lãi suất thị trường; lãi suất thị trường tăng
hấp dẫn các luồng vốn ngoại tệ chạy vào làm cho nội tệ lên giá. Khi lãi suất tái chiết

Tỷ giá cố định là tỷ giá được cố định (giữ không đổi) hoặc chỉ được cho phép dao động
trong một phạm vi rất hẹp. Nếu tỷ giá bắt đầu dao động quá nhiều thì các chính phủ có thể
can thiệp để duy trì tỷ giá hối đoái trong vòng giới hạn của phạm vi này. Chế độ tỷ giá hối
đoái cố định là một chế độ tỷ giá hối đoái được nhà nước công bố sẽ duy trì không thay đổi
tỷ giá giữa đồng nội tệ với một đồng ngoại tệ nào đó.
Đặc điểm của chế độ tỷ giá cố định:
Về cơ bản, những lực cung - cầu vẫn tồn tại trong thị trường ngoại tệ và chi phối số
lượng cung - cầu ngoại tệ trên thị trường. Nhà nước cam kết sẽ duy trì tỷ giá hối đoái ở
mức độ cố định nào đó bằng cách nếu cung trên thị trường lớn hơn cầu ở mức tỷ gía cố
định thì nhà nước đảm bảo mua hết số dư cung ngoại tệ. Nếu cung trên thị trường nhỏ
hơn cầu ở mức tỷ gía cố định đó thì nhà nước sẽ đảm bảo cung cấp một lượng ngoại tệ
bằng đúng lượng dư cầu. Nhà nước sẽ thực hiện hoạt động mua bán lượng dư cung hay
cầu đó với tư cách là người mua bán cuối cùng, người điều phối. Những dự báo thay đổi
tỷ giá trên thị trường gần bằng không trừ trường hợp nhà nước thay đổi mức tỷ giá cố
định. Chế đô tỷ giá cố định được một số nước áp dụng như Trung Quốc từ những năm
80 của thập niên 20. Đáng chú ý là Thái Lan với cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
tháng 7/1999 do áp dụng chế độ tỷ giá cố định quá lâu. Nước ta trước năm 1991 đã áp
dụng chế độ tỷ giá hối đoái này. Nói chung chế độ tỷ giá này chỉ phù hợp với một thời
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 8 / 19
gian nào đó mà thôi. Hiện nay chế độ tỷ giá hối đoái này coi như không được áp dụng
trên thế giới.
Điều kiện:
Phải có sự can thiệp của chính phủ
Ưu điểm:
Đảm bảo sự ổn định về tỷ giá trong một thời gian dài.
Nhược điểm:
Không phản ánh đúng tỷ giá thị trường do vậy phát sinh tình trạng tỷ giá ngầm. Đây chỉ
là tỷ giá mang tính hình thức.

hàng nhà nước tuyên bố một mức biến động cho phép đối với tỷ giá và chỉ can thiệp vào thị
trường với tư cách là người mua bán cuối cùng khi tỷ giá có sự biến động mạnh vượt mức
cho phép. Nếu tình hình kinh tế có những thay đổi lớn thì mức tỷ giá hối đoái, biên độ dao
động cho phép được nhà nước xác định và công bố lại. Do những ưu điểm của chế độ này
nên chế độ này được nhiều nước áp dụng đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có
Việt Nam
2. Thực trạng
1.6. Chế độ tỷ giá của VN hiện nay
Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, Việt Nam đã lựa chọn cơ chế tỷ giá
thả nổi có điều tiết.
Sự thả nổi của chính sách tỷ giá được thể hiện ở đây chính là: Chúng ta đã từ bỏ cơ
chế tỷ giá neo mềm, theo đó, tỷ giá thị trường được giao dịch quanh tỷ giá chính thức do Ngân
hàng nhà nước (NHNN) công bố tỷ giá bình quân liên ngân hàng và một biên độ được ấn định
sẵn. Việc thay thế tỷ giá chính thức bằng tỷ giá bình quân liên ngân hàng cho thấy, lần đầu tiên
tỷ giá do NHNN công bố phản ánh mức tỷ giá do thị trường quyết định.
Sự điều tiết của NHNN được thể hiện qua việc NHNN: Tham gia vào thị trường liên
ngân hàng bằng hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường này để tác động tới cung cầu ngoại
tệ, từ đó tác động tới tỷ giá, hướng tỷ giá về mức tỷ giá mục tiêu ( Đó là mức tỷ giá mà tại đó
NHNN mong muốn đạt được các mục tiêu: Góp phần đảm bảo cân bằng cán cân thương mại, ổn
định kinh tế vĩ mô, giảm lạm pháp, bảo hộ được cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước,
đồng thời hạn có thể hạn chế nhập khẩu ở một mức độ nhất định…tùy vào từng bối cảnh kinh tế
cụ thể.)
Tuy nhiên, thực tế chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết nhưng vẫn còn mang nặng tính điều tiết
cao bởi:
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng không phải là tỷ giá có sẵn mà phải được NHNN tính
toán theo các cơ chế nhất định
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 10 / 19
Biên độ giao động rất nhỏ so với tỷ giá của ngày làm việc trước nên trong 1 ngày làm

giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 11 / 19
Nợ nước ngoài lớn: Tính đến hết năm 2012 tổng nợ nước ngoài của Việt Nam ước
khoảng… tỷ USD. Việc nâng tỷ giá lên với biên độ lớn sẽ khuếch đại số nợ này, làm
tăng nghĩa vụ nợ, gây mất an toàn cho quốc gia.
Tất nhiên số nợ này sẽ không bị ảnh hưởng nếu Việt Nam có nguồn trả nợ bằng ngoại tệ.
Tuy nhiên, với việc xuất khẩu vẫn gặp nhiều khó khăn và kho dự trữ ngoại hối còn hạn
hẹp thì Việt Nam vẫn cần phải cân nhắc kỹ mỗi khi muốn nâng tỷ giá.
Áp lực lạm phát: Tỷ giá tăng ngay lập tức sẽ ảnh hưởng đến giá các mặt hàng nhập
khẩu, trực tiếp gây áp lực lên lạm phát trong nước. Phần lớn các mặt hàng nhập khẩu của
Việt Nam là nguyên vật liệu, máy móc thiết bị mà các sản phẩm trong nước chưa thay
thế được, do đó tỷ giá tăng không có tác dụng kiềm chế nhập khẩu mà trái lại còn là chất
xúc tác gây ra lạm phát.
Xu hướng giảm giá của đồng USD trên thị trường thế giới: với các gói kích thích kinh
tế lớn cùng với mong muốn duy trì đồng USD yếu nhằm hỗ trợ xuất khẩu của Chính
quyền Mỹ, đồng USD được dự báo sẽ còn tiếp tục giảm gái trong trung và dài hạn.
Với những lý do nêu trên, việc điều hành tỷ giá đặt ra cho Việt Nam những thách thức và
lựa chọn không dễ. Ưu tiên và hy sinh cho mục đích nào sẽ còn phụ thuộc rất lớn vào những
biến động kinh tế, đặc biệt là trong những tháng giáp tết. Một kịch bản mà trong đó các lợi
ích và mục tiêu được hài hòa và cân bằng sẽ được NHNN lựa chọn.
1.8. Cơ chế điều chỉnh tỷ giá của VN hiện nay
Cơ chế điều chỉnh tỷ giá của VN cũng như của các nước đang phát triển hiện nay đều được
thực hiện thông qua các công cụ điều tiết ( gồm công cụ trực tiếp hoặc gián tiếp của chính
sách tỷ giá), thông qua việc sử dụng các công cụ này NHNN tác động trực tiếp hoăc gián
tiếp tới cung, cầu ngoại tệ, từ đó làm thay đổi tỷ giá về mức mong muốn ( hay mức tỷ giá
mục tiêu) của NHNN.
Từ khi thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết đến nay, việc điều tiết tỷ giá của VN chủ
yếu thông qua các công cụ trực tiếp và thường mang tính hành chính cao.Trước mỗi biến
động kinh tế làm tác động tới tỷ giá, NHNN đã đưa ra nhiều quyết định thay đổi biên độ
giao động tỷ giá để đảm bảo mức tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng có thể gần

cũng như năng lực dự trữ ngoại hối lần đầu tiên được công khai một cách chính thức tỷ
giá dần ổn định về cuối năm.
Năm 2009: NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng và biên độ từ ±3% lên ±5%
vào thàng 4/2009. Càng về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất gi, thị trường ngoại
hối luôn có những biểu hiện căng thẳng, trong đó USD tín dụng thì thừa còn USD
thương mại thì thiếu. Những biến động trên thị trường ngoại hối đã gây ra những khó
khăn cho cho hoạt động xuất nhập khẩu. Mặt khác, sự mất giá của động nội tệ còn làm
lạm phát tăng. Trong bối cảnh làm phát có xu hướng gia tăng và tính khồng ổn định trên
thị trường tiền tệ, đòi hỏi cần có sự lựa chọn linh hoạt của cơ chế điều hành tỷ giá. Chính
vì thế, đến ngày 30/12/2009, NHNN tiếp tục ban hành thông tư quy định về việc kết hối
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 13 / 19
chi tiết 7 tập đoàn, 7 công ty nhà nước và các doanh nghiệp thành viên có 50% vốn nhà
nước có nghĩa vụ bán ngoại tệ cho NHTM và được phép mua lại ngoại tệ trong phạm vi
bán với mục đích giúp giải nhiệt thị trường ngoại tệ. Chính vì khó nới biên độ tỷ giá cao
hơn nữa, nên NHNN đã gỡ bài toán khó thống qua công cụ gián tiếp bằng phương án kết
hối ngoại tệ. Trong giai đoạn này, NHNN cũng đã có nhiều biện pháp nghiệp vụ, thanh
tra tại chỗ các hoạt động mua bán ngoại tệ của các NHTM, xử lý nghiêm khắc các hành
vi cố tình mua bán ngoại tệ vượt mức mức trần quy định.
Năm 2010, tỷ giá VND/USD được điều chính thức điều chỉnh 2 lần. Lần đầu vào ngày
11/02/2010 tỷ giá bình quân liên ngân hàng được NHNN tăng thêm 3,3%. Lần thứ 2
tăng thêm 2,1% vào ngày 18/08/2010 cả 2 lần điều chỉnh đều giữa nguyên biên độ giao
động tỷ giá ±3%. Như vậy tỷ giá bình quân liên ngân hàng được điều chỉnh tăng tổng
cộng là 5,4%.Trước đó, ngày 18/1 NNN có quyết định số 74/QĐ-NHNN giảm mạnh tỷ
lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt
buộc ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn 12 tháng. Điều này làm cho cung ngoại tệ
tăng cao. Động thái điều chỉnh tỷ giá của ngân hàng trong đợt này nhằm mục đích ngắn
hạn trước mắt đó là khơi thông nguồn cung ngoại tệ cho Ngân hàng, từ đó góp phần làm
giảm căng thẳng trên thị trường ngoại hối, tránh áp lực cho khối lượng dự trữ ngoại hối

VND/USD. Với các chính sách rõ ràng và minh bạch của NHNN ttrong công tác điều
hành chính sách tỷ giá nửa đầu năm 2012, cùng với diễn biến khả quan của cung ngoại
tệ trong nền kinh tế (Việt Nam có suất siêu trở lại sau nhiều năm, cán cân vãng lai thặng
dư sau khi đã thâm hụt trong năm 2010 và năm 2011, góp phần quan trọng tạo nên thặng
dư của cán cân tổng thể nửa đầu năm 2012) đã giúp diễn biến tỷ giá USD/VND trong 6
tháng đầu nam duy trì xu thế ổn định. Để thực hiện mục tiêu tăng dự trữ ngoại hối, tăng
cường khả năng can thiệp thị trường ngoại hối của NHNN khi cần thiết tỷ giá mua vào
cảu Sở giao dịch NHNN bắt đầu từ ngày 13/02/2012 được điều chỉnh cao hơn tỷ giá của
NHTM. Nhờ có chính sách này mà ước lượng mức dự trữ ngoại hối trong quý I/2012 đã
tăng thêm 30% so với cuối năm 20111.
Từ thực tế điều hành chính sách tỷ giá của NHNN VN trong thời gian qua, có thể thấy một
số những đặc điểm chính của chính sách tỷ giá VN hiện nay:
Về mặt tích cực:
Ổn định tỷ giá góp phần hạn chế tác động tăng của của chỉ số giá.
Giá cả ngoại tệ từng bước được gắn với Cung - Cầu
Từng bước nâng cáo vị thế của VND
Có nhiều chuyển biến tích cực về mặt chính sách theo hướng tỷ giá ngày càng linh hoạt
Mặt tồn tại:
Cung – Cầu ngoại tệ bị biến dạng ko phản ánh đúng thực tế khách quan của thị trường. ( Do
sự phân biệt DN NN XK và DN tư nhân XK)
TT NT liên ngân hàng hoạt động kém hiệu quả
Thị trường chợ đen vân tồn tại.
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 15 / 19
Hiện tượng Đô la hóa vẫn phổ biến
Nguyên nhân:
Việc định giá VND cao so với USD trong một thời gian dài làm giảm năng lực cạnh tranh
của hang hóa XK, khuyển khích NK, giảm dự trữ ngoại hối.
Chưa xây dựng được mục tiêu điều hành CSTG dài hạn và trong từng thời kỳ trong khi

Quản lý tốt dự trữ ngoại hối, tăng tích lũy ngoại tệ: Xây dựng chính sách phát triển xuất khẩu và
hạn chế nhập khẩu để giảm cầu về ngoại tệ. Tiết kiệm chi ngoại tệ, chỉ nhập những hàng hóa cần
thiết cho nhu cầu sản xuất và những mặt hàng thiết yếu trong nước chưa sản xuất được. Ngoại tệ
dự trữ khi đưa vào can thiệp trên thị trường phải có hiệu quả. Lựa chọn phương án phù hợp cho
việc dự trữ cơ cấu ngoại tệ. Trong thời gian trước mắt vẫn xem đồng USD có vị trí quan trọng
trong dự trữ ngoại tệ của mình nhưng cũng cần đa dạng hóa ngoại tệ dự trữ để phòng tránh rủi ro
khi USD bị mất giá.
Nới lỏng tiến tới tự do hóa trong quản lý ngoại hối. Hiện nay, biên độ giao động tỷ giá được nới
rộng dần từ mức 0,25% từ 2002 lên 0,5% vào cuối 2006, 1% vào tháng 3/2008, và 5% vào tháng
3/2009.
Hoạt động này bao gồm việc giảm dần, tiến đến loại bỏ sự can thiệp trực tiếp của Ngân hàng
Nhà nước trong việc xác định tỷ giá, xóa bỏ các qui định mang tính hành chính trong kiểm soát
ngoại hối, thiết lập tính chuyển đổi cho đồng tiền Việt Nam, sử dụng linh hoạt và hiệu quả các
công cụ quản lý tỷ giá, nâng cao tính chủ động trong kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng
thương mại …
Trên thực tế, Chính phủ Việt Nam đang sử dụng 2 nhóm chính sách trực tiếp và nhóm chính sách
gián tiếp. Thực hiện hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối tại Việt Nam, chúng tôi nghĩ rằng
chính phủ nên hạn chế nhóm chính sách trực tiếp và tăng cường sử dụng nhóm chính sách gián
tiếp. Đây cũng là biện pháp để thị trường hoạt động theo hướng tự điều tiết của thị trường
1.10.2. Hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam:
Tạo điều kiện cho việc thực hiện chính sách ngoại hối có hiệu quả bằng cách mở rộng thị trường
ngoại hối để các doanh nghiệp, các định chế tài chính phi ngân hàng tham gia thị trường ngày
một nhiều, tạo thị trường hoàn hảo hơn, nhất là thị trường kỳ hạn và thị trường hoán chuyển để
các đối tượng kinh doanh có liên quan đến ngoại tệ tự bảo vệ mình. Đồng thời, việc hoàn thiện
thị trường ngoại hối sẽ tăng tính chủ động cho các NHTM mua bán ngoại hối, dần xóa bỏ thị
trường chợ đen.
1.10.3. Hoàn chỉnh thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
Đây là điều kiện cần thiết để qua đó nhà nước có thể nắm được mối quan hệ cung cầu về ngoại
tệ, đồng thời qua đó thực hiện biện pháp can thiệp của nhà nước khi cần thiết. Trước mắt cần có
những biện pháp thúc đẩy các ngân hàng có kinh doanh ngoại tệ tham gia vào thị trường ngoại tệ

lực trong nền kinh tế trở nên thuận lợi hơn, hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia đó năng động
hơn.
Đồng tiền tự do chuyển đổi làm giảm sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào chính sách quản
lý ngoại hối và cơ chế điều hành tỷ giá, giúp cho tốc độ chu chuyển vốn được đẩy mạnh, góp
phần đẩy nhanh tiến độ hội nhập kinh tế thế giới.
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 18 / 19
Tuy nhiên, muốn tạo khả năng chuyển đổi cho VND phải có đủ lượng ngoại tệ dự trữ và nền
kinh tế vững mạnh. Khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam
phải được nhanh chóng cải thiện.
1.10.6. Sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất tác động đến tỷ giá
Sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất để tác động đến tỷ giá, chính phủ phải tiến hành từng bước
tự do hóa lãi suất, làm cho lãi suất thực sự là một loại giá cả được quyết định bởi chính sự cân
bằng giữa cung và cầu của chính đồng tiền đó trong thị trường chứ không phải bởi những quyết
định can thiệp hành chính của Chính phủ.
Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ
giá hối đoái tại Việt Nam
Trang 19 / 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status