Giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ giá ở Việt Nam hậu WTO (2) - Pdf 23

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTW: Ngân hàng Trung ương
TGGDBQLNH: tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng
CNH-HĐH: công nghiệp hoá - hiện đại hoá
NHTM: ngân hàng thương mại
ITG: hàng hoá có thể tham gia thương mại quốc tế
NITG: hàng hoá không thể tham gia thương mại quốc tế
XNK: xuất nhập khẩu
1
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 1986 Đảng và Nhà nước ta quyết định cải cách nền kinh tế,
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN dưới sự quản lý và điều tiết của Nhà nước.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu
đáng kể như: kinh tế tăng trưởng khá, thu nhập bình quân đầu người tăng, đời
sống nhân dân được cải thiện … Tuy nhiên, ngưỡng cửa hội nhập đòi hỏi
chúng ta phải đổi mới toàn diện hơn nữa nền kinh tế đất nước, CNH – HĐH
đất nước. Hội nhập cũng đặt ra cho Việt Nam những cơ hội và thách thức
mới, do đó chúng ta phải có những bước đi và chính sách phù hợp với tiến
trình hội nhập mà cốt lõi là nâng cao nội lực nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế
thị trường vững mạnh. Lĩnh vực tài chính – ngân hàng được xem là một trong
những trọng điểm cải cách để thực hiện nền kinh tế mở và hội nhập thành
công.
Qua gần 20 năm kể từ mốc đầu tiên cải cách tỷ giá (1988), chính sách
tỷ giá Việt Nam đã có những bước tiến nhất định. Đặc biệt với sự ra đời của
Quyết định số 64/QĐ/NHNN7 (25/2/1999) cơ chế tỷ giá Việt Nam có bước
cải cách triệt để hơn. Kể từ đó đến nay, chính sách tỷ giá Việt Nam đã đạt
được những thành công nhất định đặc biệt là ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy
nhiên, trước những thách thức khi là thành viên của APEC, AFTA, WTO hay
phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ thì chính sách tỷ

tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù
hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.
Theo nghĩa hẹp, chính sách tỷ giá là những hoạt động của NHTW thông
qua cơ chế điều hành tỷ giá và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm đạt được
một mức tỷ giá nhất định, để tỷ giá tác động tích cực đến hoạt động cuất nhập
khẩu hàng hoá và dịch vụ của quốc gia.
1.1.2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá
1.1.2.1 Ổn định giá cả
Với các yếu tố khác không đổi, khi phá giá nội tệ (tức tỷ giá tăng), làm
cho giá hàng hoá nhập khẩu (bao gồm hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu, máy
móc, thiết bị cho sản xuất trong nước) tính bằng nội tệ tăng. Giá hàng hoá
nhập khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế tăng, tức gây
lạm phát. Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu càng lớn thì
tỷ lệ lạm phát càng cao. Điều này được thể hiện thông qua công thức:
P
t
= α.P + (1 - α).E.P
*
α - là tỷ trọng hàng hoá sản xuất trong nước
(1 - α) là tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu
P - là mức giá cả hàng hoá sản xuẩttong nước tính bằng nội tệ
4
P
*
- là mức giá cả hàng hoá nhập khẩu tính bằng ngoại tệ
E – là tỷ giá (số đơn vị nội tệ trên 1 đơn vị ngoại tệ)
P
t
– là mức giá cả hàng hoá chung của nền kinh tế
Ngược lại, khi nâng giá nội tệ (tức tỷ giá giảm), làm cho giá hàng hoá

làm. Với các yêu tố khác không đổi, muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần
áp dụng chính sách phá giá nội tệ; ngược lại muốn kiềm chế và giảm tốc độ
tăng trưởng kinh tế thì áp dụng chính sách nâng giá nội tệ.
1.1.2.3 Cân bằng cán cân vãng lai
Với chính sách tỷ giá định giá thấp nội tệ sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất
khẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện được cán cân vãng lai từ trạng thái
thâm hụt trở về trạng thái cân bằng hay thặng dư.
Với chính sách tỷ giá định giá cao nội tệ sẽ có tác dụng kìm hãm xuất
khẩu và kích thích nhập khẩu, giúp điểu chỉnh cán cân vãng lai từ trạng thái
thặng dư trở về trạng thái cân bằng hay thâm hụt.
Với chính sách tỷ giá cân bằng sẽ có tác dụng cân bàng xuất khẩu và nhập
khẩu, giúp cán cân vãng lai tự động cân bằng.
1.2 Nội dung của chính sách tỷ giá
Hành vi phá giá nội tệ, tức bao gồm những can thiệp của Chính phủ để
đồng nội tệ trở nên được định giá thấp hơn.
Hành vi nâng giá nội tệ, tức bao gồm những can thiệp của Chính phủ để
đồng nội tệ trở nên được định giá cao hơn.
Hành vi duy trì tỷ giá ở một mức nhất định, tức bao gồm những can thiệp
của Chính phủ để duy trì tỷ giá là ổn định không đổi
6
Không can thiệp, để cho tỷ giá biến động tự do theo quan hệ cung cầu thị
trường.
1.3 Các công cụ của chính sách tỷ giá
1.3.1 Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá.
Thông thường đó là hoạt động của NHTW trên thị trường ngoại hối
thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định (trong
chế độ tỷ giá cố định), hay ảnh hưởnglàm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức
nhất định theo mục tiêu đã đề ra (trong chế độ tỷ giá thả nổi). Để tiến hành
can thiệp buộc NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh. Hơn nữa,
các hoạt động can thiệp trực tiếp của NHTW tạo ra hiệu ứng thay đổi cung

- Thuế quan: thuế quan cao sẽ có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu;
nhập khẩu giảm làm cho cầu ngoại tệ giảm, kết quả làm cho nội tệ lên giá.
Khi thuế quan thấp sẽ có tác dụng ngược lại.
- Hạn ngạch: hạn ngạch có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu, do đó có
tác động lên tỷ giá giống như thuế quan cao. Dỡ bỏ hạn ngạch có tác dụng
làm tăng nhập khẩu, do đó có tác dụng lên tỷ giá giống như thuế quan thấp.
- Giá cả: thông qua hệ thống giá cả, Chính phủ có thể trợ giá cho những
mặt hàng xuất khẩu chiến lược hay đang trong giai đoạn đầu sản xuất. Trợ giá
xuất khẩu làm cho khối lượng xuất khẩu tăng, làm tăng cung ngoại tệ, khiến
cho nội tệ lên giá. Chính phủ cũng có thể bù giá cho một số mặt hàng nhập
khẩu thiết yếu; bù giá làm tăng nhập khẩu, kết quả là làm cho nội tệ giảm giá.
Ngoài các công cụ gián tiếp, trong từng thời kỳ Chính phủ (chủ yếu là
các nước đang phát triển) còn có thể áp dụng một số biện pháp cá biệt khác
như:
8
- Điều chính tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các NHTM: khi
ngoại tệ khan hiếm trên thị trường ngoại hối, NHTW có thể tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc đối với vốn huy động bằng ngoại tệ của các NHTM, làm cho chi phí
sử dụng vốn ngoại tệ tăng; để kinh doanh có lãi buộc các NHTM phải hạ lãi
suất huy động ngoại tệ, kết quả là việc nắm giữ ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn
hơn so với nắm giữ nội tệ, khiến cho những người sử dụng ngoại tệ phải bán
đi lấy nội tệ, làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
- Quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại
tệ.
- Quy định trạng thái ngoại tệ đối với các NHTM ngoài mục đích chính
là phòng ngừa rủi ro tỷ giá, còn có tác dụng hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm
giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối.
1.4 Các mô hình xác định tỷ giá
1.4.1 Mô hình ngang giá sức mua (PPP)
PPP được nhà kinh tế học Gustan Cassell đưa ra vào năm 1920. Nội

trong nuớc là tương đương ở nước ngoài.
Mối quan hệ giữa tỷ giá và ngang giá sức mua được thể hiện như sau:
E.P
*
E
R
= ---------- = 1
P
-----> E = P/P*
Mà P/P
*
= E
P
Do đó E = E
p
Như vậy, theo quy luật thì tỷ giá giao dịch trên thị trường phải phản
ánh ngang giá sức mua giữa hai đồng tiền
1.4.1.2 Quy luật một giá
Gọi P
i
là giá của hàng hoá i ở trong nước tính bằng nội tệ
P
i
*
là giá của hàng hoá i ở nước ngoài tính bằng ngoại tệ
Khi đó P
i
= E.P
i
*

*
( 1- )
Đặt: F/P
*
= f
Ta có: P = E. P
*
= (1-f)
11
Vì P và F đều là mức giá (P là giá hàng hóa, còn F là giá dịch vụ) nên
nhìn chung chúng đều tăng hoặc đều giảm cùng chiều, do đó f có thể được
xem là một hằng số
Suy ra: E = .
Đặt 1/ (1-f) = k, ta có:
E = . k
* Nếu: E < P/ P
*
⇔ P > E. P
*

Ta biểu diễn mối quan hệ giữa tỷ giá và ngang giá sức mua khi có đề
cập đến nhân tố F như sau:
P = E. P
*
+ E.F
Trường hợp này được hiểu là, giá hàng hóa ở nước ngoài sau khi cộng
thêm nhân tố F sẽ bằng giá hàng hóa ở trong nước. Tiếp tục biến đổi công
thức ta có:
⇔ P = (E.P
*

các dịch vụ khác. Giá cả hàng hóa ITG được hình thành theo quy luật cung
cầu và cạnh tranh trên thị trường quốc tế; trong khi đó, đặc trưng của những
hàng hóa NITG là không thể hoặc không mang lại lợi nhuận khi bán hoặc
mua chúng trên thị trường quốc tế.
Điểm khác biệt giữa hàng hóa ITG và NITG là ở chỗ: quy luật ngang
giá sức mua thỏa mãn trước hết và chủ yếu chỉ đối với hàng hóa ITG còn đối
với hàng hóa NITG thì hầu như không thỏa mãn. Điều này xảy ra là vì, giá cả
của hàng hóa ITG được điều chỉnh bởi quy luật cạnh tranh quốc tế; trong khi
đó giá cả của hàng hóa NITG được điều chỉnh chủ yếu bởi quy luật cạnh
tranh trên thị trường nội địa. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa tỷ
giá và ngang giá sức mua, khi phân biệt hàng hóa ITG và NITG. Như trên đã
phân tích đối với nhóm hàng hóa ITG, ta có thể viết:
P
T
= E. P
*
T
Trong đó:
E - tỷ giá bằng số đơn vị nội tệ trên 1 đơn vị ngoại tệ
P
T
- mức giá tính bằng nội tệ của hàng hóa ITG
13
P
*
T
- mức giá thành bằng ngoại tệ của hàng hóa ITG
Gọi P
1
là chỉ số giá chung của nền kinh tế nội địa được tính bằng tỷ

*
N
+ (1-α) P
T
()
Trong đó: β- tỷ trọng hàng hoá NITG ở trong nước
Lấy phương trình (2) chia cho phương trình (3), ta được:
1
* * *
1
(1 )
(1 )
N T
N T
P P
P
P P P
α α
β β
+ −
=
+ −
*
*
*
1
*
(1 )
1
(1 )

.
(1 )
N
T
P
P
N
T
P
E
P
P
P
α α
β β
+ −
=
+ −
E =
*
*
*
1
. (1 )
1
.
. (1 )
N
T
N

-> E = (5)
Công thức (5) nói lên rằng: mức giá cả tương đối giữa hàng hoá ITG và
NITG [tức các tỷ số (P
N
/P
T
) và (P
*
N
/P
*
T
) có ảnh hưởng đến mức tỷ giá. Trong
mỗi nền kinh tế, nếu các nhân tố khác không đổi, thì khi giá hàng hoá NITG
tương đối so với giá hàng hoá ITG (tức P
N
/P
T
tăng) sẽ làm cho tỷ giá giảm,
tức nội tệ lên giá. Ngược lại, nếu các nhân tố khác không đổi, thì khi giá hàng
hoá ITG tăng tương đối so với giá hàng hoá NITG sẽ làm cho tỷ giá tăng, tức
nội tệ giảm giá.
1.4.1.3.3 PPP Dạng tương đối - tỷ lệ %
Gọi ∆E - tỷ lệ thay đổi tỷ giá sau 1 năm
∆ P - tỷ lệ thay đổi giá sau 1 năm ở trong nước (Việt Nam)
∆ P
*
- tỷ lệ thay đổi giá sau 1 năm ở nước ngoài (Mỹ)
- Tại thời điểm đầu năm:
P

-> 1+ ∆E =
-> ∆E = (6)
Công thức (6) gọi là PPP chính xác, dạng tương đối, biểu thị bằng tỷ lệ
%, hay PPP dạng động.
15
Do ∆P
*
là tỷ lệ lạm phát (%/năm), nên thường là một số nhỏ so với 1,
do đó (1+ ∆P
*
) ≈1,nên công thức (6) ở dạng gần đúng như sau:
∆E = ∆P - ∆ P
*
(7)
Như trên đã phân tích, đối vưói PPP dạng tuyệt đối, thì nhân tố F có thể
làm cho tỷ giá E lệch khỏi PPP. Vì lệch khỏi PPP nên tỷ giá được xác định
theo công thức biến thể của PPP dạng tuyệt đối như sau:
E = . k
Như vậy, nếu đề cập nhân tố F, thì PPP dạng tuyệt đối sẽ không được
duy trì, tức tỷ giá E lệch khỏi PPP (P/ P
*
). Tuy nhiên, ở dạng tương đối, cho
dù có đề cập đến nhân tố F, thì sự biến động của tỷ giá vẫn luôn luôn phản
ánh chênh lệch mức lạm phát giữa hai đồng tiền.
Do có nhân tố F, nên:
- Tại thời điểm đầu năm:
P
0
= E
0

(năm gốc) sẽ là bao nhiêu?
- Tại thời điểm đầu năm:
16
P
0
= E
0
. P
*
0
- Tại thời điểm cuối năm thứ nhất:
P
0
(1+ ∆P
1
) = E
0
(1+ ∆E
1
). P
*
0
(1+ ∆ P
*
1
)
CPI
1
= (1+∆E
1

2
) [= E
1
(1+∆E
2
); trong đó ∆E
0
2
là tỷ lệ thay đổi tỷ
giá năm thứ hai so với năm thứ 0, tức:
-> ∆E
1
=
∆ E
0
2
=
Ta có:
P
0
(1+ ∆P
1
) (1+ ∆P
1
)= E
0
(1+ ∆E
0
2
). P

CPI CPI CPI CPI
CPI CPI

0
1 1 2 1
0* * * *
1 1 2 1
. ...
. ...
CPI CPI CPI CPI
CPI CPI CPI CPI
=
=
Ta có:
0 0*
0
2 2
2
0*
2
CPI CPI
E
CPI

∆ =
17
Một cách tổng quát ta có:
0 0*
0
1 1

E
0
(1+ ∆E) = E
0

Trong đó:
E
0
(1+∆E) = E
1
(E
1
là tỷ giá tại thời điểm cuối năm)
(1+ ∆P) = CPI
1
(chỉ số giá tiêu dùng trong nước cuối năm)
(1+ ∆P
*
) = CPI
*
1
(chỉ số giá tiêu dùng nước ngoài cuối năm)
Thay vào công thức trên ta có:
E
1
= E
0
(10)
Công thức (10) gọi là PPP số tuyệt đối thời hạn một năm
Ta gọi:

2 CPI
2
CPI
*
2
E
2
= E
0

3 CPI
3
CPI
*
3
E
3
= E
1

4 (n) CPI
4
CPI
*
4
E
4
= E
1


Tỷ lệ lên giá của VND so với PPP được tính như sau:
Gọi tỷ giá chính thức là E, ngang giá sức mua là PPP. ta có:
- Theo tỷ giá chính thức: 1 VND = 1/E
- Theo PPP: 1 VND = 1/PPP
Do đó,VND (giá trị chính thức) sẽ lên giá so với PPP là:
% VND =
1 1
1 .100%
1
PPP E PPP
E PPP
E E
PPP


 
= = −
 
 
Đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa tỷ giá chính thức và PPP như sau:
19
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
16000

không biết trước
7. Địa điểm kinh doanh Tại hai thị trường Có thể tại một thị trường
8. Cơ hội kinh doanh Chỉ là thoảng qua Có thể tiến hành bất cứ
20
lúc nào
1.4.2 Mô hình ngang giá lãi suất
1.4.2.1 Quy luật ngang giá lãi suất có bảo hiểm – CIP
1.4.2.1.1 Khái niệm về ngang giá lãi suất
Là ngang giá lãi suất (Interest Rate Parity - IRP). IRP được nghiên cứu
trong hai trường hợp
- Ngang giá lãi suất có bảo hiểm rủi ro tỷ giá (Covered Interest Parity -
CIP).
- Ngang giá lãi suất không có bảo hiểm rủi ro tỷ giá (Uncovered
Interest Parity - UIP).
1.4.2.1.2 Kinh doanh chênh lệch lãi suất duy trì quy luật CIP
Nếu R
VND
<
VND
USD
R
, tức:
1/ 4
4 1 1
4
USD
VND
F R
R
S

giá giao ngay S tăng lên, và tác động làm cho vế phải của bất đẳng thức giảm
xuống.
Bước 3:Dùng số USD mua được để đầu tư kỳ hạn 3 tháng, làm cho lãi
suất R
USD
giảm, và tác động làm cho vế phải của bất đẳng thức giảm xuống.
Bước 4: Bán kỳ hạn 3 tháng toàn bộ gốc và lãi thu được bằng USD để
nhận lại VND, làm cho tỷ giá kỳ hạn F
1/4
giảm, và tác động làm cho vế phải
của bất đẳng thức giảm xuống.
Tất cả các bước từ 1 đến 4 được thực hiện đồng thời tại thời điểm ngày
hôm nay.
Bước 5: Tại thời điểm sau 3 tháng, thu lãi kinh doanh trên 1 VND đi
vay (đơn vị: VND), theo công thức:
[(gốc + lãi) đầu tư quy VND] - [(gốc + lãi) đi vay bằng VND]
1/ 4
1 1
4 4
USD VND
F R R
S
   
+ − −
   
   
Các bước kinh doanh chênh lệch lãi suất từ 1 đến 4 làm cho vế trái của
bất phương trình tăng lên (tức R
VND
tăng lên) và vế phải giảm xuống (tức

Lập luận tương tự kết luận: Nếu thị trường ở trạng thái R
VND
>
VND
USD
R
, thì
trạng thái này cũng chỉ là tạm thời; các lực lượng thị trường luôn có xu hướng
làm cho hai vế trở nên cân bằng trong dài hạn. tức R
VND
=
VND
USD
R
, đây chính là
quy luật ngang giá lãi suất CIP
1.4.2.1.3 Công thức ngang giá lãi suất dạng CIP
* Công thức CIP - dạng %
Vì các mức lãi suất trên thị trường được yết cho thời hạn là năm, nên
ngang giá lãi suất CIP có thể được biểu diễn ở dạng có ý nghĩa hơn khi ta
chọn thời hạn là 1 năm, như sau:
R
VND
=
VND
USD
R
= (1+R
USD
)-1

 
Gọi p là tỷ lệ gia tăng hay tỷ lệ khấu trừ của giá kỳ hạn 1 năm so với
tỷ giá giao ngay, tức: p =
-> P =
Sử dụng quy ước: Đồng ngoại tệ có dấu (*), đồng nội tệ không có dấu
(*) một cách tổng quát ta có:
-> p =
Công thức gọi là ngang giá lãi suất có bảo hiểm rủi ro tỷ giá dạng chính
xác thời hạn 1 năm.
23
Vì R
*
là mức lãi suất/năm nên mẫu số của công thức là một số gần bằng
1 đơn vị: một số chia cho một số gần bằng 1, thì coi như bằng chính nó; do đó
Ngang giá lãi suất có bảo hiểm rủi ro tỷ giá, dạng gần đúng, thời hạn 1 năm
là:
p = R - R
*
(***) Nếu thời hạn hợp đồng là t năm, và n là đại lượng thể hiện 1 năm
bằng bao nhiêu lần thời hạn hợp đồng (tức n=1/t), ta có công thức tổng quát
ngang giá lãi suất cho bất kỳ thời hạn nào như sau:
p
1/n
= . (12)
Trong đó: p
1/n
là điểm kỳ hạn tương ứng với thời hạn t năm (t = 1/n)
Vì (R
*
/n) là mức lãi suất/năm chia cho n (thông thường n >1), nên mẫu

= S
- Thay p
1/n
= vào công thức, ta có công thức ngang giá lãi suất số tuyệt
đối, dạng gần đúng, thời hạn t năm là:
F
1/n
= S + S .
1.4.2.2 Quy luật UIP và hiệu ứng FISHER quốc tế
1.4.2.2.1 Hành vi đầu cơ hình thành quy luật UIP
* Tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay dự tính
Gọi: t (tính bằng năm) là thời hạn hợp đồng kỳ hạn, n là đại lượng thể
hiện một năm bằng bao nhiêu lần thời hạn hợp đồng (t = 1/n), F
1/n
(VND/USD) là tỷ giá kỳ hạn của hợp đồng kỳ hạn có thời hạn t; S
c
1/n
(VND/USD) là tỷ giá giao ngay dự tính tại thời điểm sau thời hạn.
S
e
1/n
(VND/USD) = F
1/n
(VND/USD)
Hay viết ở dạng vắn tắt là: F
1/n
= S
e
1/n
* Các công thức biểu diễn UIP:

vào các công thức của CIP để có
được các công thức UIP, bao gồm:
* Công thức UIP dạng tỷ lệ:
- Công thức Ngang giá lãi suất không có bảo hiểm rủi ro tỷ giá dạng
chính xác, thời hạn 1 năm:
1/
c
n

=
25

Trích đoạn Tác động của tỷ giá đến hoạt động XNK Giải pháp ứng phó hiện tượng USD giảm giá trong thời gian qua Chính sách tỷ giá với thị trường ngoại tệ ngầm. Chính sách thu hút và quản lý kiều hối. Những thành tựu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status