Thiết kế công trình hoàn thiện và quản lý rủi ro xây dựng dành cho kiến trúc sư và kỹ sư doc - Pdf 21

Thiết kế công trình hoàn thiện và quản lý rủi ro xây dựng
dành cho kiến trúc sư và kỹ sư
Hans-Ulrich Moennig
Tổng Giám đốc ICCS
Chủ tịch Phòng Thương mại Kỹ sư Thuringen,
CHLB Đức
1. Mở đầu Erfurt – thủ phủ bang Thuringen,CHLB Đức
Các công trình đều mang bản tính riêng và độc đáo. Điều này phân biệt chúng
với các sản phẩm công nghiệp khác mà có thể sản xuất hàng loạt hay chế tạo với
cấp độ lặp lại và tiêu chuẩn hóa cao. Sự sai lệch ra khỏi các định mức là khó tránh
khỏi ngay cả khi các qui tắc và qui định kỹ thuật được đáp ứng. Đó là do các ảnh
hưởng từ bên ngoài tác động vào công trình, vật liệu sử dụng hay tay nghề, đó là
các tiêu chí chủ quan, có thể ảnh hưởng xấu tới dự án công trình. Chi phí lên tới
10% - 20% của xây dựng hàng năm có thể phải bỏ ra để cải tạo công trình hay để
đạt tới chất lượng theo kế hoạch. Về khối lượng quốc gia công tác xây dựng, điều
này có nghĩa rằng nước Đức phải chi tới 15-20 tỷ euro hàng năm.
Đây chỉ là ước tính mà không có các con số chính xác về phương diện này, bởi
vì các công việc yếu kém và sai sót thường không được thống kê đầy đủ.
Công trình có nghĩa là đầu tư và thường bao hàm chi phí vốn lớn. Rủi ro là cao
với khả năng chủ đầu tư/khách hàng sẽ phải chịu đựng một công trình chất lượng
kém, không hoàn thiện hay lỗi về chức năng. Nhu cầu do vậy được hình thành để
bảo đảm đối phó với rủi ro này ở cấp độ quốc gia và quốc tế.
Nếu một KTS hay KS gây nên lỗi trong một dự án và gây ra thiệt hại cho bên
thứ ba như một hậu quả, chúng sẽ được xử lý bằng chính sách bảo hiểm. Điều này
cũng áp dụng cho tất cả nhưng người tham gia vào công tác xây dựng. Tuy nhiên
sẽ không thể có bảo hiểm nếu như chưa cung cấp dịch vụ (hoàn thành hợp đồng)
hay được thực hiện „yếu kém“ (tay nghề yếu). Chỉ có những hậu quả của những
lỗi đó được đưa vào nội dung bảo hiểm trách nhiệm, nếu chúng gây nên thiệt hại

chính.
Một kỹ sư cần biết rõ về hợp đồng, dự án được dựa trên cơ sở nào với các thông
số và thu xếp, những cái quyết định về chất lượng của công trình và các thông số
kỹ thuật và kinh tế quan trọng nhất của nó. Một trong những lỗi thường xuyên
nhất của là KTS và KS là gây ra yêu cầu trách nhiệm của bên thứ ba, mà thường
chỉ được xử lý bởi một công ty bảo hiểm, đơn giản là bởi vì họ không hiểu rõ về
nội dung hợp đồng. Trong nhiều trường hợp điều này gây nên kết quả là các yêu
cầu trách nhiệm và thiệt hại tài chính cho các cá nhân. Do vậy cần thiết phải có sự
hợp tác chặt chẽ giữa các KS, nhà kế hoạch, và luật sư trong quá trình soạn ra hợp
đồng, để tất cả các đặc tính và yếu tố kỹ thuật trong dự án được tính đến hết, và
như vậy tránh được bất kỳ lỗi phân xử pháp lý và kỹ thuật mà có thể xảy ra khi dự
án đang được hoàn thành.
Điều này ứng với việc thực hiện các dự án ở cấp độ quốc gia và quốc tế.
1.3. Quản lý công trường và kiểm tra
Sai sót thường xuyên và nghiêm trọng thường có trong công tác kiểm tra công
trình. Các khiếm khuyết bao gồm công tác xây dựng không tuân theo kế hoạch dự
án và/hay không có chất lượng vật liệu xây dựng hay vật liệu phối được bảo đảm
khi các loại vật liệu thay thế với chất lượng kém hơn đựa đưa vào sử dụng.
Qui tắc quan trọng nhất cho công tác xây dựng hay kiểm tra mà không có lỗi là
hoàn thành dự án với chất lượng và số lượng kết cấu chính xác theo như các hạng
mục công việc ghi trong hợp đồng. Trách nhiệm của nhà kiểm tra xây dựng không
chỉ là đảm bảo công tác xây dựng tuân theo các kế hoạch trên tay, mà còn kiểm tra
tính khả thi và tính chính xác của chúng và, nếu cần thiết, yêu cầu cải thiện/thay
đổi. Nhà kiểm tra công trình do vậy có trách nhiệm rất lớn bởi vì hai nhiệm vụ này
và do vậy mối rủi ro chính về sai sót hay lỗi phân xử dễ xảy ra. Một phân tích về
các trường hợp thiệt hại chỉ rõ rằng tần suất sai sót và rủi ro thiệt hại là rất lớn
trong lĩnh vực này.
Ngoài các yếu tố nêu trên liên quan tới việc tránh rủi ro gây thiệt hại, cũng cần
bảo đảm rằng công tác xây dựng hay công tác kiểm tra được lập hồ sơ kỹ lưỡng
trong mỗi giai đoạn của dự án để cung cấp bằng chứng rõ ràng về quá trình công

đất. Cũng cần tiến hành thăm dò ít nhất tại các góc của công trình hay tại các điểm
chịu tải lớn, để cho phép xác định trình tự các lớp tại các điểm khảo sát trong mặt
bằng với sự trợ giúp của các mặt cắt.
Thêm vào đó, cần phải có được các hồ sơ liên quan, nhìn chung có sẵn tại cơ
quan xây dựng địa phương hay văn phòng của chính phủ về địa chất và quy hoạch
vùng. Những tài liệu này cung cấp các chi tiết về các điều kiện nền đất nói chung.
Bất kỳ sự biểu hiện bất thường không đồng bộ nào mà không được thể hiện trong
các khảo sát lựa chọn sẽ được liệt kê riêng.
Sau khi hoàn thành công tác xây dựng và sau khi bắt đầu sử dung công trình, độ
lún trong trường hợp tòa nhà tương đối nhẹ đã là tới dm sau một thời gian ngắn.
Nhiều chuyên gia nền móng làm việc để điều tra nguyên nhân của sự lún này.
Họ áp dụng các phương pháp khảo sát đã được công nhận và sử dụng mũi khoan
và thử nghiệm.
Một nỗ lực được thực hiện để giảm sự bất thường này, mà đã thấy rõ trong quá
trình đào đất, bằng cách phủ lên khu vực đất móng một lớp đán dăm như một lớp
đệm để phân bố đều lực tải xây dựng.
Khi sự lún nhiều tiếp theo gây ra nứt và hư hỏng kết cấu nặng, lúc này cần thiết
phải xác định những nguyên nhân của sự lún. Bởi vì người ta cho rằng sự bất
thường ngâm chiết xảy ra trong nền đất, các cuộc điều tra đã tiến hành sử dụng các
phép đo kháng trở điện. Chúng cho phép các kỹ sư đạt được một hình ảnh 2 chiều
đầy đủ về nền đất tới độ sâu khoảng 90 m dọc theo tuyến giao nhau (hình ảnh 1, 2,
3). Rõ ràng là nguyên nhân của sự lún là một sự ngâm chiết hình phễu, được tạo ra
trong các thời kỳ địa chất trước đây. Nó kéo dài tới độ sâu 40-70 m, được chứa
đầy bởi một chất liệu yếu và được phủ bằng lớp đá ổn định dày 3 m.
Để ổn định các lớp đó, một khối lượng lớn bê tông được chèn vào và nền đất và
thay thế và ổn định lớp đất yếu phía dưới. Sự lún công trình được dừng lại.
Bằng cách sử dụng phương pháp thông tin này, có thể nhận được một bức tranh
liên tục của nền đất và các nguyên nhân của sự lún lớn với một chi phí nhỏ về
khảo sát cơ học. Như bức ảnh 1-3 chỉ rõ, đây là một phương pháp so sánh, thể hiện
rõ những khác biệt về mật độ trong nền đất bằng cách sử dụng các loại màu khác

mềm sử dụng vòng lặp. Kết quả cuối cùng là không chính xác, tuy nhiên, về mặt
số lượng các chu trình tính toán, kết quả không đạt được độ tiệm cận mà với một
mức độ tối đa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status