Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Pdf 21

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều chuyển biến mạnh
mẽ. Chúng ta đặt mục tiêu rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế xã hội với
các nước trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu đến năm 2020 trở thành
nước công nghiệp. Đầu tư vào các dự án kinh tế hiệu quả được coi là chiếc
chìa khoá để mở ra thành công. Hệ thống ngân hàng tài chính với chức năng là
kênh dẫn vốn quan trọng bậc nhất của nền kinh tế đã tham gia đầu tư ngày
càng tích cực vào các dự án. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (NHNTVN)
cũng không đứng ngoài xu thế đó. Nếu như trước đây, Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam thường được biết đến là một ngân hàng chuyên doanh hoạt
động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và thường chỉ quan hệ với các doanh
nghiệp nhà nước lớn, thì nay với chiến dịch chuyển dịch cơ cấu, Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam đã nổi lên như một ngân hàng đa năng, cung cấp các
dịch vụ tín dụng có chất lượng cao, tương xứng với tiềm năng của ngân hàng.
Cho vay theo dự án được coi là ưu tiên trong chiến lược cho vay của ngân
hàng. Nhưng đây là hình thức tín dụng có độ rủi ro cao vì những đặc thù nhất
định. Mở rộng, nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn, hạn chế rủi ro là
một bài toán khó và tương đối phức tạp đối với hệ thống các ngân hàng
thương mại ở Việt Nam nói chung cũng như Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam nói riêng.
Một trong hai hoạt động chính của ngân hàng là hoạt động tín dụng.
Hoạt động tín dụng có chất lượng tốt hay xấu đều ảnh hưởng tới kết quả kinh
doanh của ngân hàng, trong đó tín dụng trung và dài hạn là các khoản ngân
hàng cho vay với số vốn lớn, thời hạn dài và thời gian thu hồi vốn chậm, do
đó, rủi ro từ hoạt động tín dụng trung và dài hạn là rất lớn, nhưng làm tốt thì
lợi nhuận thu được từ tín dụng trung và dài hạn rất cao.
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Qua một thời gian thực tập tại Ngân hàng Ngoại thương, nhận thấy đây

nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các
loại hình Ngân hàng.
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền
kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh
tế - xã hội đều gửi tiền tại Ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò là người thủ
quỹ cho toàn xã hội. Thu nhập từ Ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng
của nhiều hộ gia đình. Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các
doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước (thành phố,
tỉnh…). Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín
dụng để phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua
sắm trang thiết bị kỹ thuật. Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh
toán cho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy
nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử…Và khi họ cần thông tin tài
chính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường đến ngân hàng để nhận lời tư vấn.
Các khoản tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ (thông qua mua chứng
khoán Chính phủ) là nguồn tài chính quan trọng để đầu tư phát triển.
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng
nhất. Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền
tệ, vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ ổn
định kinh tế.
Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ
hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Nhưng cách tiếp cận thận
trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch
vụ mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm,

Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư. Cơ chế hoạt
động trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng kỹ thuật
nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.
Ngân hàng sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro trong
khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền. Thực tế, các
ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro. Ngân hàng cũng thỏa mãn nhu cầu
thanh khoản của nhiều khách hàng.
Ngân hàng là một trung gian thanh toán. Ngân hàng thay mặt khách
hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ với nhiều hình thức
thanh toán như bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ...cung cấp mạng
lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng
cần. Các ngân hàng cũng thực hiện bù trừ lẫn nhau thông qua Ngân hàng
Trung ương hoặc thông qua trung tâm thanh toán. Hiện nay, ngân hàng trở
thành trung gian thanh toán lớn nhất ở hầu hết các quốc gia.
Một lý do để ngân hàng phát triển thịnh vượng là khả năng thẩm định
thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin
được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên
môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn
những công cụ với các yếu tố rủi ro – lợi nhuận hấp dẫn nhất.
Thứ hai, ngân hàng là tổ chức kinh doanh phải có điều kiện. Ngân hàng
chịu sự điều hành chặt chẽ của Chính phủ hơn bất kỳ tổ chức nào trong nền
kinh kế, bởi ngân hàng là thủ quỹ của cả nền kinh tế. Ngân hàng muốn được
cấp giấy phép hoạt động phải có một lượng vốn nhất định, cam kết thực hiện
một số chính sách nhất định như cho vay, tài trợ cho một dự án hay một
khoản chi tiêu nào đó, đồng thời trong quá trình hoạt động, ngân hàng chịu sự
quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Muốn hoạt động tốt, ngân hàng không ngừng

tiền của doanh nghiệp hoặc các tổ chức xã hội gửi vào ngân hàng với kì
hạn nhất định (có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm...) với
lãi suất kì hạn tương ứng. Kì hạn càng cao thì lãi suất tiền gửi càng lớn.
Người gửi có thể đến ngân hàng rút tiền nếu có cần một khoản tiền chi
tiêu, tuy nhiên chỉ được hưởng lãi suất thấp hơn do không rút đúng hạn.
• Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: là khoản tiền tiết kiệm của dân cư gửi
vào ngân hàng với kì hạn nhất định. Ngân hàng đưa ra nhiều hình thức
huy động và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các kì
hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ hoặc bằng vàng...).
• Tiền gửi của các ngân hàng khác: nhằm mục đích thanh toán hộ và
một số mục đích khác ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại
ngân hàng khác. Tuy nhiên, nguồn này thường không lớn.
♦ Đi vay từ các tổ chức khác: Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, khi cần, ngân hàng thường vay mượn thêm
với các phương thức đi vay đa dạng:
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
• Vay ngân hàng Nhà Nước: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu
cấp bách trong chi trả của ngân hàng thương mại. Trong trường hợp
thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc hoặc dự trữ thanh toán), ngân
hàng thương mại thường vay ngân hàng Nhà nước. Hình thức cho vay
chủ yếu là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn.
• Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn vay mượn lẫn nhau giữa
các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân
hàng. Nguồn này dùng để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách
và trong nhiều trường hợp nó bổ sụng và thay thế cho nguồn vay mượn
từ ngân hàng Nhà nước.
• Vay trên thị trường vốn: đây là nguồn vay nợ nhằm bù đắp thiếu hụt
tiền cho vay trung và dài hạn. Các ngân hàng vay bằng cách phát hành

khá, trung bình và thấp) hay theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp...) hay
theo đối tượng tài trợ (hàng hóa, hoặc bất động sản...) hoặc theo mục đích
(sản xuất, tiêu dùng...).
♦ Các hoạt động khác: Các hoạt động khác là các hoạt động như hoạt
động thanh toán, hoạt động ủy thác, hoạt động hùn vốn (ngân hàng tham gia
góp vốn với các tổ chức khác dưới hình thức nắm giữ cổ phiếu, góp vốn liên
doanh, liên kết...), các hoạt động sử dụng vốn khác như mua sắm, nhà cửa
trang thiết bị phục vụ cho quá trình kinh doanh của khác hàng và cho thuê.
1.1.2.3. Hoạt động khác
Bên cạnh các hoạt động mang tính truyền thống và đặc trưng, ngân
hàng thương mại cũng tiến hành các hoạt động khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận
như: cung cấp dịch vụ ủy thác, dịch vụ tư vấn, dịch vụ môi giới đầu tư chứng
khoán, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý...
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
9
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương
mại
1.2.1. Khái niệm của tín dụng
Tín dụng xuất phát từ chữ Latinh Creditium có nghĩa là sự tin tưởng, tín
nhiệm. Tiếng anh là Credit. Theo Kmarx, tín dụng là quá trình chuyển nhượng
tạm thời một một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng sau một
khoảng thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn dựa trên
sự tin tưởng.
Theo quan hệ tài chính, tín dụng được hiểu theo nghĩa sau đây:
• Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay: Tín dụng được coi là phương
pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người cho vay; hay tín
dụng là sự chuyển dịch từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thâm
hụt tiết kiệm.

chiều sâu của doanh nghiệp.
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tín dụng trung và dài hạn
Khái niệm của tín dụng trung và dài hạn
Ở Việt Nam theo điều 8, số 1627/2001/QĐ-NHNN quy chế cho vay
của tổ chức tín dụng: “Tín dụng trung hạn là các khoản tín dụng có thời hạn
từ 12 tháng đến 60 tháng, các khoản tín dụng có thời hạn từ 60 tháng trở lên là
tín dụng dài hạn”.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được người đi vay sử dụng để mua tài sản
cố định, cải tiến đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh và xây
dựng các dự án mới có quy mô vừa và nhỏ.
Tín dụng dài hạn chủ yếu để tài trợ vào việc đổi mới dây chuyền sản
xuất hiện đại, xây dựng công trình có quy mô, thời gian hoạt động dài như
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
11
Chuyên đề tốt nghiệp
xây dựng nhà ở, các xí nghiệp nhà mày mới, các thiết bị phương tiện vận tải
có giá trị lớn.
Nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn
nhưng từ những năm 70 trở lại đây các ngân hàng thương mại đã chuyển sang
kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ
trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ ngân hàng.
Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn:
• Vốn đầu tư lớn, thời hạn dài, thu hồi vốn chậm: Đối tượng tài trợ của
tín dụng trung và dài hạn là tài sản cố định và các công trình xây dựng.
Đặc điểm của đối tượng này là có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài.
Do đó, khoản cho vay để tài trợ cho các đối tượng này đòi hỏi một số
vốn đầu tư lớn. Mặt khác, nguồn để trả nợ là các quỹ khấu hao cơ bản
và lợi nhuận thu được từ dự án. Vì vậy, thời hạn trả nợ thường kéo dài
đến khi dự án kết thúc.
• Rủi ro cao: Do lượng vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm nên

trái phiếu, cổ phiếu. Thứ hai, không dẫn đến sự phân chia quyền kiểm soát
công ty với bên ngoài so với việc phát hành cổ phiếu. Thứ ba, tín dụng trung
và dài hạn ngân hàng tạo ra sự linh hoạt về kì hạn: doanh nghiệp có thể vay
vốn ngân hàng theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầu kinh doanh và chu kỳ thu
nhập. Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ của các khoản tín dụng trung và dài hạn của
ngân hàng là dễ dàng: khi doanh nghiệp làm ăn thuận lợi, nhanh chóng thu
hồi vốn đầu tư và làm ăn có lãi, có thể trả nợ ngân hàng trước hạn. Ngược lại,
khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất – kinh doanh, có thể xin ngân
hàng gia hạn nợ. Mặt khác, việc trả nợ trung và dài hạn được chia thành các
kỳ hạn hợp lý và ổn định, giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc tìm
kiếm nguồn trả nợ.
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
13
Chuyên đề tốt nghiệp
♦ Đối với ngân hàng: Tín dụng trung và dài hạn với đặc điểm là vốn
đầu tư lớn, thời gian cho vay dài, rủi ro cao nên có lãi suất cao, là nguồn
mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng.
Thông qua hoạt động tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng không
ngừng mở rộng quy mô khách hàng, bằng việc: thu hút thêm các khách hàng
mới, tạo ra mối liên hệ chặt chẽ và lâu bền với các khách hàng truyền thống.
Nhờ đó, ngân hàng không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, ngày càng
khảng định vị thế và vai trò của mình trong nền kinh tế.
Tín dụng trung và dài hạn góp phần vào việc làm cho vốn huy động
không bị nhàn rỗi, mà được sử dụng hiệu quả để đem lại lợi nhuận cho ngân
hàng. Do ngân hàng không thể ngừng nhận tiền gửi từ dân cư, và vẫn phải trả
lãi cho tiền gửi nên nếu để khoản tiền nhàn rỗi trong “ket”, làm tăng chi phí
ngân hàng và giảm lợi nhuận. Tín dụng trung và dài hạn là một trong các cơ
sở để ngân hàng mở rộng huy động vốn, sử dụng vốn một cách khả thi, tăng
sức cạnh tranh của bản thân ngân hàng.
♦ Đối với nền kinh tế: Ở mọi quốc gia, nhu cầu vốn trung và dài hạn là

sẽ làm cho ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của Ngân hàng, đảm bảo thỏa
mãn nhu cầu về vốn cho họ. Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay, chất
lượng là yêu cầu hàng đầu, vì vậy, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu
hợp lý của khách hàng: lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản, không phiền hà, thu
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
15
Chuyên đề tốt nghiệp
hút được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín
dụng.
♦ Trên giác độ nền kinh tế
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao
động, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, thu hút tối đã nguồn vốn nhàn rỗi trong
nước, góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo các mục tiêu kinh tế của Nhà
nước và chính phủ đặt ra.
Như vậy, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp được đánh giá
trên quan điểm của: ngân hàng, khách hàng và của nền kinh tế. Chất lượng tín
dụng trung và dài hạn là một bộ phận của chất lượng tín dụng cũng không
nằm ngoài sự đánh giá này. Tóm lại, tín dụng trung và dài hạn được đánh giá
là có chất lượng khi: khoản tín dụng đó đạt được mục đích vay vốn đã đề ra;
hoàn trả vốn vay đầy đủ, đúng hạn, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho cả
người vay và người đi vay.
1.3.2. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng trung và dài hạn của Ngân hàng
thương mại
Chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng trung và dài hạn
nói riêng là một chỉ tiêu tổng hợp, vừa mang tính cụ thể, vừa mang tín trừu
tượng. Do đó, để đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn cần thiết lập
hai nhóm chỉ tiêu: chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng:
1.3.2.1. Chỉ tiêu định tính
Chỉ tiêu này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
• Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: thủ tục đơn giản,

phản ánh một phần uy tín, khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng. Tổng
dư nợ cao, chứng tỏ ngân hàng cho vay được nhiều, có hút được nhiều khách
hàng, uy tín của ngân hàng tương tối tốt. Ngược lại, tổng dư nợ thấp cho thấy
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
17
Chuyên đề tốt nghiệp
ngân hàng khả năng thu hút khách hàng là thấp, uy tín chưa cao, khả năng mở
rộng khách hàng còn hạn chế.
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Tỷ lệ dư nợ tín dụng trung và dài hạn =
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của tín dụng trung và dài hạn trong tổng
dư nợ.
• Nếu đem so sánh với các chỉ tiêu khác của ngân hàng như tỷ lệ dư nợ
tín dụng ngắn hạn trên tổng dư nợ tín dụng, thì chỉ tiêu này cho thấy
quy mô của tín dụng trung và dài hạn so với tín dụng ngắn hạn. Chỉ tiêu
này càng cao chứng tỏ ngân hàng có quy mô tín dụng trung và dài hạn
lớn, đồng thời đem lại thu nhập cao nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro lớn cho
hoạt động tín dụng của ngân hàng.
• Có thể đem so sánh chỉ tiêu này với chỉ tiêu trung bình ngành. Nếu tỷ lệ
tín dụng trung và dài hạn trên tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng cao
hơn trung bình ngành, chứng tỏ, khả năng thu hút khách hàng có nhu
cầu cho vay trung và dài hạn là lớn, uy tín của ngân hàng tương đối tốt.
Ngược lại, nếu tỷ lệ này thấp hơn trung bình ngành, chứng tỏ ngân
hàng chưa thực sự hấp dẫn các khách hàng nhu cầu vay trung và dài
hạn.
Chỉ tiêu này chỉ là một phần đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn
của ngân hàng. Thông qua chỉ tiêu này, chưa thể đánh giá chất lượng tín dụng
trung và dài hạn của ngân hàng tốt hay xấu. Để đánh giá toàn diện và tương
đối chính xác, phải xem xét đồng thời các chỉ tiêu.

Chuyên đề tốt nghiệp
lý, còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho
vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng quy định.
Nợ khó đòi trung và dài hạn
Tỷ lệ nợ khó đòi trung và dài hạn 1 =
Nợ quá hạn trung và dài hạn
Nợ khó đòi trung và dài hạn
Tỷ lệ nợ khó đòi trung và dài hạn 2 =
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Hai chỉ tiêu này cho thấy tỷ trọng nợ khó đòi trung và dài hạn trong
tổng nợ quá hạn trung và dài hạn và trong tổng dư nợ tín dung trung và dài
hạn. Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, chứng tỏ các khoản nợ có khả năng
không đòi được càng giảm, phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng trung và dài
hạn của ngân hàng.
Các chỉ tiêu về nợ quá hạn và nợ khó đòi vẫn là những chỉ tiêu phản
ánh rõ nét nhất chất lượng tín dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu này cho thấy
không phải lúc nào dư nợ tín dụng cao cũng tốt vì nếu ngân hàng không có
chiến lược quản lý nợ tốt thì sẽ dẫn đến phát sinh nhiều nợ quá hạn, nợ khó
đòi.
♦ Hệ số sử dụng vốn trung và dài hạn
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn
Hiệu suất sử dụng vốn trung và dài hạn =
Tổng nguồn vốn trung, dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sử dụng vốn trung và dài hạn đề đầu tư
cho tín dụng trung và dài hạn. Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn hoặc bằng một, chứng
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
20
Chuyên đề tốt nghiệp
tỏ, nguồn vốn trung và dài hạn để để tài trợ cho tín dụng trung và dài hạn, tín
dụng trung và dài hạn có sự phù hợp về kỳ hạn nên độ an toàn sẽ được đảm

và dài hạn của ngân hàng là rất quan trọng trong việc đề ra các giải pháp nâng
cao chất lượng của hoạt động tín dụng này.
1.4.1. Nhân tố chủ quan
♦ Quy mô và cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Các ngân hàng khi cho vay phải cần có lượng vốn lớn. Do yêu cầu
đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên nên các khoản vay trung và dài
hạn của ngân hàng phải được tài trợ chủ yếu bằng nguồn vốn trung và dài
hạn. Nếu một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào nhưng chủ yếu là vốn ngắn
hạn, không ổn định khì không nên mở rộng cho vay trung và dài hạn. Các
nguồn vốn của một ngân hàng có thể sử dụng cho vay trung và dài hạn bao
gồm: nguồn tự có của ngân hàng, vốn vay trung và dài hạn, vốn huy động
trung và dài hạn và một bộ phận nhất định vốn ngắn hạn. Quy mô của các
nguồn này là một trong những nhân tố quyết định quy mô cho vay trung và
dài hạn và do đó ảnh hưởng đến chất lượng cho vay trung và dài hạn của ngân
hàng. Ngoài ra, một ngân hàng có nguồn vốn trung và dài hạn dồi dào cũng dễ
dàng hơn trong việc tạo lập uy tín đối với khách hàng, nhờ đó thu hút được
nhiều khách hàng hơn.
♦ Hiệu quả của công tác thẩm định của ngân hàng
Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng là vốn và lãi
phải được trả đúng hạn. Điều này khó có thể có được nếu dự án được thực
hiện không hiệu quả như mong muốn, hoặc doanh nghiệp cố tình lừa đảo
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
22
Chuyên đề tốt nghiệp
ngân hàng. Để hạn chế nguy cơ đó ngân hàng cần thực hiện tốt công tác thẩm
định dự án, thẩm định khách hàng. Nếu thẩm định sai, đánh giá sai năng lực
pháp lý, tài chính và hiệu quả của dự án sẽ dẫn đến gia tăng các khoản nợ xấu,
nợ quá hạn. Chi phí trong hoạt động thu nợ, thanh lý tài sản của ngân hàng
tăng, gây tổn thất cho ngân hàng, giảm lợi nhuận. Thậm chí, ngân hàng không
thể thu được nợ, mất vốn ngân hàng. Cũng có thể những dự án có hiệu quả

góp phần nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng
♦ Công tác tổ chức ngân hàng
Việc tổ chức các hoạt động của ngân hàng theo quy trình khoa học, hợp
lý có sự phối hợp giữa các thành viên sẽ làm giảm chi phí của ngân hàng, đáp
ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. Hoạt động ngân hàng sẽ thống nhất và
đồng bộ. Đây là cơ sở nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn.
♦ Công nghệ ngân hàng
Đây cũng là một nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng trung và dài
hạn của ngân hàng, nhất là trong thời đại khoa học – kỹ thuật phát triển như
vũ bão hiện nay. Một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại, được trang bị
các phương tiện kỹ thuật cao sẽ đem lại điều kiện đơn giản hóa các thủ tục,
rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay
vốn. Đó là điều kiện tiền đề để ngân hàng thu hút them khách hàng, mở rộng
tín dụng. Sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại còn giúp cho việc
thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, công tác lập kế hoạch, xây dựng
chính sách tín dụng cũng có hiệu quả hơn.
♦ Chất lượng nhân sự và quản lý nhân sự của ngân hàng
Cho dù khoa học kỹ thuật hiện đại đã mở ra cơ hội tự động hóa nhiều
lĩnh vực song nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định. Đặc biệt trong
hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động rất phức tạp, có liên quan đến
nhiều vấn đề của đời sống xã hội thì vai trò của con người càng quan trọng.
SVTH: Đoàn Thị Ngọc Ánh Lớp: TCDN 46A
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Các phương tiện kỹ thuật hiện đại chỉ có thể trợ giúp chứ không thể thay thế
được “sự nhạy cảm” hay “kinh nghiệm” của cán bộ tín dụng. Do vậy, vấn đề
nhân sự là một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Chất lượng
nhân sự ở đây không chỉ đề cập đến trình độ chuyên môn mà còn cả lương
tâm, đạo đức, tác phong, kỷ luật lao động của người cán bộ ngân hàng. Bên
cạnh chất lượng nhân sự thì công tác quản lý nhân sự cũng là nhân tố quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status