Lời nói đầu
Hội nhập với nền kinh tế thế giới là một xu thế tất yếu khách quan của
tất cả các quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.Đó cũng là
quá trình thực hiện các hoạt động thơng mại song ,đa phơng giữa các nớc thể
hiện sự phụ thuộc, ảnh hởng lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các nớc.Để có
cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động đó và sự quản lý điều tiết hợp lý mối
quan hệ giữa các nớc đã nảy sinh ra quá trình đàm phán ,ký kết các hiệp định
song phơng, đa phơmg giữa các quốc gia. Nớc ta đã thực hiện ký kết các hiệp
định thơng mại song phơng với hơn 70 nớc và khu vực trên thế giới trong đó
có các nớc có nền kinh tế phát triển nh Nhật bản, khối EU, Với các hiệp
định thơng mại song phơng trên chỉ đàm phán về lĩnh vực thơng mại hàng
hoá còn hiệp định thơng mại song phơng mà nớc ta ký với Hoa kỳ lại có nội
dung bao hàm nhiều lĩnh vực khác nhau không riêng gì thơng mại hàng hoá .
Hiệp định thơng mại Việt nam - Hoa kỳ là một bản hiệp định có rất
nhiều đổi mới ,có sự tiến bộ hơn các bản hiệp định khác mà Việt nam đã ký
trớc đó. Hiệp định thơng mại Việt nam - Hoa kỳ đợc ký dựa trên các nguyên
tắc ứng xử cơ bản của tổ chức thơng mại thế giới (WTO) và các cam kết
quốc tế khác liên quan đến thơng mại. Hiệp định này điều chỉnh rất nhiều
lĩnh vực khác nhau liên quan đến hoạt độmg thơng mại giữa hai nớc từ th-
ơng mại hàng hoá, dịch vụ đến bảo hộ sở hữu trí tuệ và hoạt động đầu t. Điều
đó sẽ ảnh hởng rất lớn đến nhiều lĩnh vực, trong đó có hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hoá giữa hai nớc. Nó cũng sẽ ảnh hởng đến xuất khẩu hàng hoá
của Việt nam nói chung và xuất khẩu của Việt nam sang thị trờng Hoa kỳ nói
riêng. Đây là mẫu chốt cơ bản để em nghiên cứu đề tài này:"ảnh hởng của
hiệp định thơng mại Việt nam - Hoa kỳ đối với xuất khẩu của Việt nam
sang thị trờng Mỹ.
Đề tài bao gồm 4 chơng :
Ch ơng 1: Động thái quan hệ thơng mại giữa Việt nam và Hoa kỳ.
Ch ơng 2: Nội dung cơ bản của hiệp định thơng mại Việt nam - Hoa kỳ.
Ch ơng 3: ảnh hởng của hiệp định thơng mại này đến xuất khẩu của Việt
nam sang thị trờng Mỹ.
năm đầu tiên Việt nam có xuất khẩu sang thị trờng Hoa kỳ với một lợng giá
trị đạt 5000 USD và ngày càng tăng dần, năm 1991 Việt nam xuất sang mỹ
đạt 9000 USD, năm 1992 là 11000 USD và đạt 58000 USD vào năm 1993,
tăng gấp 4 lần so với năm 1992.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt nam thì mối quan hệ kinh
tế giữa hai nớc Việt nam và Hoa kỳ ngày càng lớn dần buộc hai nớc phải
xem xét đến vấn đề tạo ra sự phát triển cho mối quan hệ này. Để đáp ứng cho
vấn đề ngày càng tăng trong hoạt động xuất nhập khẩu và mở rộng mối quan
hệ thừơng mại giữa hai nớc, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chính thức tuyên
bố bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt nam vào ngày 3 / 2/ 1994.Đây là
sự kiện đánh dấu một bớc phát triển mới trong quan hệ giữa hai nớc nói
chung và trong quan hệ thơng mại nói riêng. Tiếp đó bộ thơng mại Mỹ đã
chuyển Việt nam từ nhóm Z (gồm Bắc triều tiên, Cu ba, Việt nam - là nhóm
không có quan hệ thơng mại) lên nhóm Y (gồm Mông cổ, Lào, Cămpuchia,
các nớc Đông âu và Liên xô cũ-là những nớc ít hạn chế thơng mại hơn ) và
bộ vận tải Mỹ cũng đã bãi bỏ lệnh cấm vận tàu biển và máy bay Mỹ vận
chuyển hàng hoá sang Việt nam đồng thời cho phép tàu mang cờ Việt nam
cập các cảng biển của Mỹ.
2- Sau khi bỏ lệnh cấm vận kinh tế :
Ngay sau khi bỏ lệnh cấm vận kinh tế của Mỹ ,các hãng lớn của Mỹ đã
lập tức xuất hiện trên thị trờng Việt nam và tung sản phẩm của mình ra thị tr-
ờng .Điển hình là các sản phẩm của các hãng giải khát nh Coca-cola, Pépsi-
cola và các sản phẩm điện tử , vi tính của các hãng IBM, Mobil, Microsoft,
Kodak Đây là các sản phẩm nhanh nhất tràn ngập thị trờng miền Bắc và thị
trờng miền Nam. Hoạt động thơng mại giữa hai nớc bắt đầu náo động hẳn
lên,với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nớc năm 1994 đạt 223 triệu
USD, năm 1995 đạt 451,8 triệu USD, năm 1996 là 1039,5 triệu USD, trong
đó giá trị xuất khẩu của việt nam sang thị trờng mỹ tơng ứng qua từng năm
là50,9 triệu USD (1994), 198,9 triệu USD (1995) và 319,2 triệu USD
(1996).Chỉ sau hai năm bỏ lệnh cấm vận tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
dự án với tổng số vốn đăng ký là 1479,7 triệu USD , thế nhng có 21 dự án
với số vốn đăng ký là 329,18 triệu USD bị giải thể trớc thời hạn. Về cơ cấu
ngành đầu t , các dự án của Mỹ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp
và xây dựng với 55 dự án chiếm 57 % về số dự án hiện có và chiếm tới 69 %
số vốn đầu t , lĩnh vực dịch vụ ( xây dựng văn phòng, căn hộ cho thuê, y tế ,
4
giáo dục, ngân hàng ) chiếm 28 % số dự án và chiếm 18 % số vốn đầu t ,
lĩnh vực nông sản đứng thứ ba chiếm 15 % số dự án và 13 % số vốn đầu t.
Còn hoạt động xuất nhập khẩu thì lại bị chững lại bởi ảnh hởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ ở các nớc châu á. Tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu giữa hai nớc năm 1997 chỉ đạt 705,8 triệu , năm 1998 là 748,39 triệu ,
năm 1999 là 838,39 triệu, trong đó kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang
mỹ là :
Kim ngạch hàng xuất khẩu của Việt nam sang Hoa kỳ
giai đoạn 1998-2000: Đơn vị tính: triệu usd
Năm 1998 1999 4 tháng đầu
năm 2000
Tổng kim ngạch 519,5 601,9 238,2
Cà phê 142,6 100,1 55,3
Giày dép 114,9 145,7 47,7
Hải sản 79,5 108,1 46,4
Dầu thô 66,1 83,8 32,7
Quần áo 27,9 36,4 16,2
Rau quả 23,4 23,7 10
Thực phẩm chế
biến từ cá
13,8 1,5 2,4
Nguồn: thời báo kinh tế sài gòn ngày 10.8.2000.
Mặc dù cha đợc hởng quy chế tối huệ quốc hay quan hệ bình thờng-
NTR nhng hàng hoá Việt nam xuất sang thị trờng Mỹ vẫn tiếp tục tăng. Do
khẩu hàng hoá : Mỗi bên dành ngay lập tức và vô điều kiện cho hàng hoá có
xuất xứ hoặc xuất khẩu từ lãnh thổ bên kia sự đối xử không kém phần thuận
lợi hơn sự đối xử dành cho hàng hoá tơng tự có xuất xứ hoặc xuất khẩu từ
lãnh thổ của nớc thứ ba cũng nh sự đối xử bình đẳng ,tạo điều kiện thuận lợi
cho cạnh tranh với hàng hoá trong nớc.
Các cam kết cắt giảm thuế quan : Đây là nội dung đợc các doanh
nghiệp rất chú ý và có ảnh hởng lớn đến kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai
nớc.Về phía Mỹ cam kết thực hiện ngay lập tức việc cắt giảm thuế theo quy
định của quy chế tối huệ quốc MFN khi hiệp định có hiệu lực. Còn phía Việt
nam cam kết cắt giảm thuế quan bình quân khoảng từ 1/3 đến 1/2 tuỳ từng
mặt hàng xuất khẩu của Mỹ trong giai đoạn từ 3 đến 5 năm đợc quy định ở
phụ lục E.
Những biện pháp phi thuế quan đối với hàng hoá : Phía Mỹ cam kết
không thực hiện các hàng rào phi thuế đối với hàng xuất khẩu từ phía việt
nam trừ mặt hàng dệt may bị hạn chế bởi hạn ngạch (khoản 4 điều 1) . Việt
nam cam kết bỏ tất cả các hạn chế, hạn ngạch, yêu cầu giấy phép ,kiểm soát
xuất nhập khẩu đối với mọi loại hàng hoá và dịch vụ trừ các mặt hàng quy
định trong phụ lục B và C. Việt nam cam kết loại bỏ tất cả các hạn chế về
biện pháp phi thuế quan đối với các mặt hàng ở phụ lục B trong giai đoạn từ
6
3 đến 7 năm phụ thuộc vào từng loại mặt hàng . Theo điều 6 của chơng này
có quy định mỗi bên đợc quyền có hành động khẩn cấp đối với nhập khẩu
khi bên kia gây ra hoặc đe doạ gây ra hoặc góp phần đáng kể làm rối loạn
thị trờng trong nớc.
Về việc định giá giá trị đánh thuế hải quan và các lệ phí hải quan
phải tuân thủ các luật lệ của WTO. Sau 2 năm kể từ ngày hiệp định có hiệu
lực ,các bên áp dụng hệ thống định giá hải quan dựa trên giá trị giao dịch của
hàng hoá nhập khẩu hoặc của hàng hoá tơng tự để tính thuế . Đó là giá trị
thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hoá khi đợc bán để xuất
khẩu sang nớc nhập khẩu phù hợp với các tiêu chuẩn đợc thiết lập trong hiệp
Nội dung của chơng này đa ra các biện pháp đIều chỉnh chung các
hoạt động dịch vụ nh tiếp cận thị trờng , đợc quyền hởng và từ chối lợi ích
khi thực hiện dịch vụ và đa ra các cam kết cụ thể của từng lĩnh vực , từng
ngành cụ thể ở phụ lục F và G của hiệp định này. Phụ lục F quy định các cam
kết về dịch vụ tài chính,về di chuyển thể nhân và về viễn thông cùng với tài
liệu tham chiếu . Phụ lục G quy định lộ trình cam kết về thơng mại dịch vụ
của mỗi bên . Phía Hoa kỳ lộ trình cam kết cụ thể là lộ trình cam kết của Hoa
kỳ ở trong hiệp định chung về thơng mại dịch vụ ( GATS ) của WTO và đợc
điều chỉnh trong từng thời kỳ . Đối với Việt nam đó là cam kết trong phụ lục
G của Việt nam về cam kết chungvà các cam kết cụ thể đối với từng lĩnh vực
, từng ngành về giới hạn trong tiếp cận thị trờng và về đối xử quốc gia. Trong
mỗi lĩnh vực ,mỗi ngành cũng có các quy định về phần vốn góp và thời gian
đợc góp phần vốn đó của các công ty Hoa kỳ. Chẳng hạn trong lĩnh vực bu
chính viễn thông , Việt nam quy định sau 3 năm kể từ khi hiệp định có hiệu
lực cho phép các công ty của Mỹ liên doanh cung cấp dịch vụ Internet, sau 4
năm cho phép liên doanh cung cấp dịch vụ điện thoại di động và sau 6 năm
cho phép cung cấp dịch vụ đIửn thoại cố định với phần vốn góp trong các
liên doanh viễn thông không vợt quá 49 %.
Chơng 4 về phát triển quan hệ đầu t : Gồm có 15 điều quy định các
điều khoản có liên quan đến việc hai cam kết đối xử với các dự án đầu t của
nớc bên kia dựa trên nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia . Chơng này
đa ra các tiêu chuẩn đối xử và các biện pháp giải quyết tranh chấp , các
quyền tham gia đầu t . Các cam kết của chơng này cũng kèm theo phụ lục H
quy định về phần vốn góp và thời gian góp vốn đầu t vào một số lĩnh vực
và các cam kết bãi bỏ các biện pháp đầu t liên quan đến thơng mại ( TRIMs )
ở phụ lục I. Phía Hoa kỳ cũng nh phía Việt nam đều có cam kết về việc áp
dụng các trờng hợp ngoại lệ trong ddối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc
đối với một số ngành ở phụ lục H . Một vấn đề trong đầu t mà các bên luôn
8
quan tâm đó là phần vốn góp và bộ máy nhân sự trong liên doanh . Sau 3
những thoả thuận này và hai lá th này đợc xem nh một phần của bản hiệp
định đã ký .
9
Chơng III
ảnh hởng của hiệp định thơng mạI
việt nam - hoa kỳ đến xuất khẩu việt nam.
Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đang mong đợi sự phê chuẩn hiệp
định thơng mại Việt nam - Hoa kỳcủa quốc hội hai nớc . Hiệp định này đợc
nhận định đa lại rất nhiều cơ hội trong hoạt động thơng mại giữa hai nớc nói
chung và cho các doanh nghiệp nói riêng . Sau khi hiệp định đợc ký kết ngày
13/7/2000 của đại diện thơng mại hai nớc thì còn phải chờ quốc hội hai nớc
phê chuẩn mới có hiệu lực pháp lý trong việc sử dụng nó . Hiệp định sẽ đặt ra
nhiều thách thức cho Việt nam và cho hoạt động xuất khẩu của Việt nam khi
mà nền kinh tế Việt nam đang còn phát triển ở trình độ thấp .
Hiện nay hoạt động thơng mại của Việt nam với các nớc nói chung
và với Hoa kỳ nói riêng chủ yếu là thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hoá , trong đó xuất khẩu của Việt nam sang thị trờng Mỹ so với các nớc
khác còn rất nhỏ bé và tính cạnh tranh của hàng hoá Việt nam trên thị trờng
Mỹ còn rất kém. Xuất khẩu của Việt nam sang thị trờng Mỹ chiếm một tỷ lệ
bé nhỏ trong kim ngạch nhập khẩu của Hoa kỳ , chiếm cha đầy 0,1 %. Vì thế
khi hiệp định thơng mại này có hiệu lực có thể cải thiện đợc kim ngạch xuất
khẩu của Việt nam nh thế nào và sẽ đem lại lợi ích cũng nh những thách thức
gì cho xuất khẩu Việt nam hay không ? Đó là một câu hỏi cần đặt ra khi
nghiên cứu hiệp định , bởi thị trờng Mỹ luôn là thị trờng hấp dẫn đối với tất
cả các nớc , các doanh nghiệp và là thị trờng rộng lớn đối với tất cả các loại
hàng hoá khác nhau , từ những hàng hoá cao cấp đắt tiền đến những hàng
hoá bình dân rẻ tiền. Theo các nhà kinh tế đánh giá hiệp định hứa hẹn một sự
thay đổi lớn cho xuất khẩu Việt nam sang thị trờng Mỹ vì sự u đãi của nó cho
hàng hoá Việt nam trên thị trờng Mỹ.
1 - Tác động thúc đẩy xuất khẩu của Việt nam do hiệp định đem lại:
MFN ( % )
Thuế suất
MFN ( % )
1: Rau quả 25,5 2
2: Dệt may 68,9 13,4
3: Giày dép 33 5,6
4: Các sản phẩm bằng da 22,7 8,4
5: Hải sản ( chủ yếu là tôm ) 0 0
6: Nhóm cà phê , gia vị ,chè 0 0
7: Sản phẩm chế biến từ gỗ 37,7 3,5
8: Thủ công mỹ nghệ 45 9
9: Sản phẩm điện tử 34 2,8
10: Sản phẩm từ khoáng sản 40,4 3,8
11: Sản phẩm từ kim loại 45 4,9
12: Gạo chế biến 35 8,8
13: Dầu thô 1,3 0,4
11
Nguồn : UNCTAD.
Hiện nay các mặt hàng đang chiếm tỷ trọng lớn tronh kim ngạch xuất
khẩu của Việt nam sang Hoa kỳ là do hai mức thuế MFN và phi MFN rất
thấp nh hải sản , cà phê , dầu mỏ , các loại nông sản chế biến, Đây là
những mặt hàng mà Việt nam có u thế xuất khẩu nhng vẫn đang chịu các rào
cản thơng mại khác của Mỹ khi muốn xuất sang thị trờng này. Do đó khi
hiệp định có hiệu lực các mặt hàng này sẽ tăng lên mạnh mẽ nhờ đã định
hình đợc thị trờng từ trớc và đợc đối xử bình đẳng , không bị ảnh hởng bởi
hàng rào phi thuế.
Các mặt hàng giày dép , dệt may xuất khẩu hiện nay còn thực hiện dới
hình thức gia công là chủ yếu . Mặt khác mức thuế suất phi MFN hiện nay
lại cao và bị ảnh hởng bởi các rào cản khác nên kim ngạch xuất khẩu của hai
mặt hàng này sang Mỹ còn nhỏ bé cha tơng xứng với khả năng sản xuất của
mình .
Vậy với việc hởng u đãi về thuế quan ,hàng hoá việt nam sẽ có cơ hội
lớn để nâng cao tính cạnh tranh bởi việc giảm đợc chi phí cho hàng hoá khi
xuất khẩu sang thị trờng Mỹ và có u thế để đối mặt với hàng hoá của các nớc
khác trên thị trờng Mỹ, nh hàng hoá của Trung quốc ,các nớc ASEAN là
những nớc có cơ cấu hàng hoá xuất khẩu vào thị trờng Mỹ tơng tự nh của
Việt nam và cũng đợc hởng quy chế MFN của Mỹ.
Bên cạnh những lợi ích trực tiếp đó, khi hiệp định có hiệu lực khả năng
xuất khẩu của Việt nam còn có thể có đợc các lợi ích gián tiếp thông qua
hoạt động đầu t và sự xâm nhập của các công ty Mỹ vào Việt nam . Khi các
công ty Mỹ đầu t vào Việt nam họ sẽ trang bị cho các ngành của Việt nam
(đáng chú ý là các ngành có mặt hàng xuất khẩu và các ngành hỗ trợ xuất
khẩu nh ngân hàng, bu chính viễn thông) một hệ thống thiết bị công nghệ
tiên tiến, hiện đại. Mặt khác đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp Việt
nam tìm kiếm đầu t đợc các công nghệ nguồn và đổi mới hệ thống máy móc
thiết bị đã lạc hậu thông qua liên doanh liên kết với các công ty của Mỹ. Khi
đã thay thế đợc các thiết bị mới , hiện đại sẽ có khả năng nâng cao đợc chất
lợng hàng hoá , giảm đợc chi phí trong sản xuất, chế biến và sẽ nâng cao đợc
sức cạnh tranh cho hàng hoá . Đây là yếu tố rất quan trọng để tạo sự cạnh
tranh lớn cho hàng hoá khi xuất khẩu và yếu tố đem lại sự thành công trong
hoạt động xuất khẩu mà Việt nam hiện nay còn rất kém .
Khi có sự xâm nhập của các công ty Mỹ vào thị trờng Việt nam, họ
cũng đợc phép thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh kể cả thực hiện xuất
nhập khẩu hàng hoá nh các doanh nghiệp Việt nam. Cùng với sự u đãi, đối
xử giữa các doanh nghiệp luôn luôn bình đẳng, công bằng theo nguyên tắc
đối xử quốc gia sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh khốc liệt ,mạnh mẽ giữa các
13
doanh nghiệp. Khi đó các doanh nghiệp Việt nam muốn tồn tại và phát triển
họ phải đối phó tốt trớc sức cạnh tranh của hàng hoá Mỹ . Điều đó buộc họ
phải nâng cao chất lợng sản phẩm và giảm giá thành sản xuất để giảm giá
đIều chỉnh các luật tạo nên sự đồng bộ , hoàn thiện đem lại sự dễ dàng trong
14
việc quản lý và thực hiện các cam kết đó. Khi đó sẽ có sự tác động đến hoạt
động xuất khẩu của Việt nam nói chung và hoạt động xuất khẩu cuả các
doanh nghiệp nói riêng .
Thứ nhất là khi có sự điều chỉnh luật pháp sẽ tạo ra một môi trờng kinh
doanh bình đẳng, thông thoáng ,tự do cho hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp. Khi đó sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên gay gắt,
ác liệt hơn và sự pháp triển của các doanh nghiệp sẽ nhanh chóng . Bởi vì khi
một doanh nghiệp nào đó không đáp ứng đợc yêu cầu của cạnh tranh , không
đứng vững đợc trớc cạnh tranh đó thì sẽ bị tụt hậu và dẫn đến phá sản còn
các doanh nghiệp tồn tạI đợc trên thị trờng thì sẽ có cơ hội phát triển . Với
những thách thức đó buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn có ý thức nâng
cao sức cạnh tranh cho hàng hoá của mình để có thể tồn tại và pháp triển đợc
trên thị trờng . Điều đó sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh cao cho hàng hoá của
các doanh nghiệp Việt nam trên thị trờng trong nớc cũng nh trên thị trờng thế
giới. Và khả năng xâm nhập và chiếm lĩnh thị trờng sẽ tốt hơn , từ đó mới có
khả năng mở rộng thị trờng ra thị trờng quốc tế trong đó đáng chú ý là các
thị trờng lớn nh thị trờng Mỹ .Vì một doanh nghiệp có đứng vững trên thị tr-
ờng trong nớc mới có khả năng phát triển và mở rộng trởng ra bên ngoài và
việc mở rộng thị trờng ra nớc ngoài là một tất yếu khách quan đối với việc
mở rộng sản xuất kinh doanh . hơn nữa khi thị trờng trong nớc không còn có
khả năng khai thác thì việc mở rộng sang các thị trờng khác hấp dẫn hơn nh
thị trờng Mỹ là điều phải làm của các doanh nghiệp.
Thứ hai là khi thay đổi luật sẽ tạo ra cơ hội và điều kiện để thu hút đầu
t nớc ngoài . Hệ thống luật pháp đã thông thoáng , bình đẳng sẽ là điều kiện
thuận lợi cho các nhà đầu t nớc ngoài , không riêng gì các nhà đầu t Mỹ khi
xâm nhập và đầu t vào Việt nam , vì trong luật đầu t nớc ngoài tại Việt nam
quy định không phân biệt đối xử đối với tát cả các nhà đầu t nớc ngoài ,
không phân biệt quốc tịch . Đồng thời cùng với việc hàng hoá Việt nam đợc
trờng Châu á , trong đó xuất khẩu Việt nam sang các nớc ASEAN là chủ yếu
sau đó là thị trờng Nhật bản. Thị trờng Châu Âu là thị trờng nhập khẩu lớn
thứ hai của việt nam, trong khi đó xuất khẩu của Việt nam vào thị trờng Mỹ
chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ bé trong kim ngạch xuất khẩu của Việt nam ,
chiếm cha đầy 5 % tổng kim ngạch xuất khẩu, chỉ bằng khoảng 28 % kim
ngạch xuất khẩu của Việt nam sang thị trờng Nhật bản và bằng 20 % kim
ngạch xuất khẩu của Việt nam sang thị trờng EU. ở đây có sự chênh lệch rất
lớn của xuất khẩu Việt nam đến các trung tâm kinh tế của thế giới . Điều đó
nói lên rằng cơ cấu xuất khẩu của Việt nam cha đợc hợp lý và đòi hỏi phảI có
sự thay đổi nào đó cho phù hợp hơn. Khả năng đó sẽ đợc thực hiện khi hiệp
định thơng mại Việt - Mỹ có hiệu lực. Khi hiệp định thơng mại Việt nam -
16
Hoa kỳ có hiệu lực pháp lý sẽ đem đến sự thay đổi cho xuất khẩu của Việt
nam sang thị trờng Mỹ và hứa hẹn một sự chuyển dịch luồng mậu dịch lớn
sang thị trờng Mỹ đối với xuất khẩu Việt nam . Theo dự báo của Bộ thơng
mại thì nếu hiệp định thơng mại này có hiệu lực trong năm 2001 thì khả năng
kim ngạch xuất khẩu của Việt nam vào thị trờng Mỹ đạt khoảng 800 triệu
USD tăng 35 % so với năm 2000 còn nếu cha đợc quốc hội hai nớc thông
qua trong năm 2001thì kim ngạch xuất khẩu của việt nam sang mỹ dự kiến
chỉ đạt 680 - 700 triệu USD tăng khoảng 20 % so với năm 2000 .Với những
năm tiếp theo khi hiệp định có hiệu lực thì tốc độ tăng trởng xuất khẩu của
Việt nam sang thị trờng Mỹ bình quân đạt khoảng 30-35 %/ năm và đạt
khoảng 2,8 tỷ USD vào năm 2005 chiếm khoảng 9 % tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt nam . Sau đó nếu các doanh nghiệp của Việt nam không có
những thay đổi lớn trong đầu t nhằm nâng cao năng lực sản xuất, đa dạng
hoá mặt hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh thì tốc độ tăng trởng bình
quân sẽ giảm dần và chỉ đạt khoảng 20 %/năm cho những năm từ 2005 trở
đi, chỉ đạt khoảng 8 tỷ USD vào năm 2010, còn vẫn giữ đợc tốc độ tăng trởng
trên (khoảng 30 %/ năm) thì sẽ đạt khoảng 11 tỷ USD vào năm 2010 .
Nh vậy kết quả trên ( với mức tăng trởng khoảng 30 %/ năm ) chỉ xảy
ớng giảm xuống còn khoảng 20 % vào năm 2005 . Trong khi đó kim ngạch
xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam sang thị trờng Mỹ năm 1999 chỉ đạt
70 triệu USD chiếm cha đầy 2 % tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của
Việt nam .khi hiệp định này có hiệu lực hàng dệt may của Việt nam sẽ đợc h-
ởng thuế suất MFN thì khả năng xuất khẩu sẽ tăng lên và theo dự báo của
các nhà quản lý dệt may kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt nam xuất
sang thị trờng Mỹ chiếm tỷ trọng khoảng 20 % tổng kim ngạch xuất khẩu dệt
may của Việt nam vào năm 2005
Mặt hàng thứ hai có khả năng có kim ngạch xuất khẩu thay đổi
nghiêng sang thị trờng Mỹ đó là mặt hàng giày dép : Hiện nay xuất khẩu
giày dép của Việt nam chủ yếu sang thị trờng EU chiếm khoảng 74 % tổng
kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt nam nhng theo dự báo tỷ trọng
xuất khâủ mặt hàng này sang thị trờng EU sẽ giảm xuống còn 55 % vào năm
2005 . Còn xuất khẩu mặt hàng này của Việt nam sang thị trờng Mỹ hiện nay
chiếm khoảng 11 % tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt nam và do
mặt hàng giày dép Việt nam còn có khả năng sản xuất đồng thời thị trờng
Mỹ là thị trờng hấp dẫn cho mặt hàng này bởi mỗi năm Mỹ nhập khoảng 14
tỷ USD đối với mặt hàng này nên có khả năng tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng
này sang Mỹ sẽ tăng lên 15 % vào năm 2005 .
Mặt hàng thứ ba mà thị trờng Mỹ còn có khả năng phát triển là các
mặt hàng hải sản : Mặt hàng này là mặt hàng Việt nam có thế mạnh và có thể
18
phát triển mạnh trong tơng lai . Đây là mặt hàng có u thế nhất khi xuất khẩu
sang thị trờng Mỹ nhng hiện nay Việt nam mới chỉ xuất sang thị trờng Mỹ
200 triệu USD năm 2000 trong khi đó mỗi năm Mỹ nhập khoảng 3 tỷ USD
mặt hàng này .Do vậy kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang Mỹ sẽ tăng
lên khi các doanh nghiệp tận dụng đợc các u đãI mà hiệp định đem lại .
Mặt hàng thứ t có khả năng xuất khẩu sang Mỹ chiếm tỷ trọng lớn là
mặt hàng thủ công mỹ nghệ . Hiện nay kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này
của Việt nam sang thị trờng Mỹ chiếm cha đầy 0,1 % tổng kim ngạch nhập
chế biến sản xuất hàng xuất khẩu . Đây cũng là những mặt hàng mà khả
năng sản xuất của nớc ta còn tơng đối lớn nếu có chiến lợc khai thác và sử
dụng hợp lý có hiệu quả .
Thế nhng để có thể thu đợc những lợi ích trên khi hiệp định có hiệu lực
còn phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp Việt nam . Kim ngạch xuất
khẩu của Việt nam sang Mỹ sẽ không thể thực hiện đợc khi các doanh
nghiệp Việt nam không tìm đợc cách khai thác các cơ hội do hiệp định đem
lại . Theo ông Đỗ Thanh Hồng - Phó tổng giám đốc tổng công ty da giày ,
mặc dù hiện nay có tới 150 doanh nghiệp da giày chuẩn bị tiếp cận thị trờng
Mỹ nhng chỉ có một vài doanh nghiệp có khả năng trụ lại đợc ở thị trờng này
do hầu hết các doanh nghiệp kể cả da giày và dệt may hiện nay đều phải
nhập nguyên vật liệu chính với khối lợng lớn ( da giày chiếm khoảng 80 % ,
dệt may chiếm khoảng 70 % ) , cơ sở vật chất lạc hậu , năng lực sản xuất
thiết bị còn hạn chế sẽ làm giảm đi sức cạnh tranh với các đối thủ từ các
quốc gia khác đang kinh doanh trên thị trờng Mỹ . Bên cạnh đó cung cách
làm ăn của các doanh nghiệp Việt nam còn manh mún sản xuất còn phân tán
rát khó cho việc tạo nguồn mua hàng để xuất khẩu và cũng sẽ hạn chế khả
năng xuất khẩu của doanh nghiệp .
20
Chơng IV
các kiến nghị và giải pháp nhằm khai thác hiệu
quả cơ hội do hiệp định đem lại:
1- Kiến nghị đối với Chính phủ:
Trớc hết là phải hoàn thiện các cam kết của hiệp định thơng mại Việt
Nam - Hoa Kỳ
Mặc dù hiệp định có hiệu lực nhng chế độ u đãi NTR mà hiệp định
đem lại cha phải là chế độ NTR vĩnh viễn mà sẽ có sự điều chỉnh sau một
thời gian nhất định (khoảng 3 năm) do đó để cho tăng trởng xuất khẩu của
Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt đợc sự ổn định cần thiết cần phải có sự nỗ lực
của cả hai phía trong đó Việt Nam phải tiến hành đàm phán để phía Hoa Kỳ
xúc tiến thơng mại của Bộ thơng mại tổ chức mời đại diện 5 bang của Mỹ
gồm bang Illinois, Louisiana, Mississippi, New Mexico và Ohio đến thành
phố Hồ Chí Minh ngày 23 - 24/4/2001 và đến Hà Nội ngày 26/4/2001 nhằm
giới thiệt các Công ty của bang họ và giúp các doanh nghiệp Việt Nam trực
tiếp tìm hiểu cũng nh ký hợp đồng
Thứ t: Nhà nớc phải có chính sách hõ trợ các doanh nghiệp trong việc
đầu t, đổi mới thiết bị công nghệ. Để thực hiện đợc điều này Nhà nớc phải có
chiến lợc xuất khẩu sang thị trờng Mỹ trong đó chú trong đến chiến lợc mặt
hàng nhằm xác định đợc những mặt hàng trọng diểm cần phải đầu t và phát
triển. Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các doanh
nghiệp làm hàng xuất khẩu đang sử dụng các thiết bị công nghệ lạc hậu đến
2, 3 thập kỷ và sử dụng các thiết bị công nghệ của các nớc trung gian nên khi
hiệp định có hiệu lực sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp trang bị đợc thiết bị,
công nghệ hiện đại với công nghệ nguồn từ Mỹ. Đây cũng là biện pháp đẻ
nâng cao chất lợng sản phẩm, giảm đợc chi phí sản xuất và từ đó nâng cao đ-
ợc sức cạnh tranh cho hàng hoá xuất khẩu và là yêu cầu tất yếu để hàng hoá
Việt Nam xâm nhập đợc vào thế giới.
Bên cạnh đó Nhà nớc cũng nên có chính sách để hỗ trợ các doanh
nghiệp thực hiện các hoạt động giới thiệu sản phẩm, tham gia hội chợ, triển
lãm trên thị trờng Mỹ, đặc biệt là các doanh nghiệp mong muốn xâm nhập
vào thị trờng Mỹ.
2- Các giải pháp nhằm khai thác tốt cơ hội từ hiệp định.
Để có thể khai thác tốt cơ hội đợc tạo ra bởi hiệp định Thơng mại Việt
Nam - Hoa Kỳ cũng nh thực hiện tốt các hoạt động kinh doanh trên thị trờng
Mỹ ngoài những giúp đỡ của Nhà nớc thì các doanh nghiệp phải tự mình đa
ra đợc các biện pháp chiến lợc riêng nhằm có chỗ đứng tốt cho mình trên thị
trờng Mỹ. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trờng Mỹ trớc hết
22
phải đáp ứng đợc các yêu cầu của hệ thống luật pháp Mỹ về chất lợng sản
phẩm, tiêu chuẩn chất lợng về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trờng
- Nhanh chóng làm quen và sử dụng tốt các dịch vụ Internet trong hoạt
động kinh doanh của mình nhằm khai thác các thông tin cũng nh đa thông
23
tin của mình lên mạng để tiếp cận thị trờng.
- Chuẩn bị tốt các thông tin cần quảng bá trên mạng để có thể quảng
bá tốt nhất cho sản phẩm hàng hoá của mình.
- Đào tạo và nâng cao đội ngũ thực hiện hoạt động kinh doanh trên
mạng, trong đó chú ý đến trình độ tiếng Anh và các kiến thức chuyên môn
cho việc kinh doanh trên mạng.
Thứ ba là phải nghiên cứu và nắm vững hệ thống luật pháp của Mỹ. Bộ
luật thơng mại của Hoa Kỳ rất toàn diện, chi tiết rõ ràng liên quan đến hoạt
động xuất nhập khẩu, ngăn chặn các hành động thơng mại gian lận và các
quy định của hải quan liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hoá. Đây là
các vấn đề cơ bản phải nghiên cứu đối với các doanh nghiệp khi thực hiện
kinh doanh với đối tác Mỹ. Trong hoạt động xuất khẩu của mình các doanh
nghiệp Việt Nam phải nhất thiết tuân thủ các quy định của hải quan Mỹ về
ứng dụng công nghệ mã số, mã vạch, áp mã của hải quan và tính thuế nhập
khẩu cho hàng hoá của mình và phải làm đầy đủ các thủ tục hải quan theo
quy định.
Thứ t phải tận dụng triệt để lực lợng Việt Kiều đang sinh sống và làm
việc tại Hoa Kỳ cũng nh khai thác có hiệu quả các u đãi mà Hoa Kỳ dành
cho các nớc đang phát triển. Lực lợng Việt kiều là những ngời hiểu biết rất rõ
luật pháp cũng nh cung cách làm ăn của ngời Mỹ. Các doanh nghiệp Việt
Nam khai thác đợc u điểm này sẽ tránh đợc các rủi ro không cần thiết trong
vấn đề đàm phán kinh doanh với đối tác Hoa Kỳ. Còn việc tận dụng các u đãi
nhằm tìm chỗ đứng trong việc xâm nhập thị trờng và nâng cao đợc tính cạnh
tranh cho hàng hoá trên thị trờng Mỹ.
24
Kết luận
Hiệp định thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ là hiệp định rất tổng quát,