Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trên: Trận Austerlitz
Dưới: Trận Waterloo
.
Thời gian
khoảng thời gian 1803–1815
Địa điểm
Châu Âu, Đại Tây Dương,
Sông La Plata, Guyane thuộc
Pháp, Ấn Độ Dương, Bắc Mỹ
Kết quả
Phe Liên Minh chiến thắng,
Đại hội Viên
Kết thúc Đế chế thứ
nhất, phục hưng nhà Bourbon
Thành lập Nhóm hoà
hợp các cường quốc châu Âu
Thay đổi lớn về các triều
đại và lãnh thổ
Tham chiến
Đế quốc Anh
Đế quốc Áo
[a][b]
Đế quốc Nga
[c]
[i]
Liên bang
Thụy Sĩ
Liên hiệp Hà Lan
Lãnh địa Brunswick
Hoàng gia Pháp
Tuyển hầu
Hanover
Nassau
Naples
[j]
Liên bang
sông Rhine
[k]
Tây Ban
Nha
Đan Mạch–Na
Uy
[l]
Đế quốc
Ottoman
[m]
Đế quốc Áo
[a][b]
Schwarzenberg
Archduke Johann
Alexander I
Mikhail Kutuzov
Michael Andreas
Barclay de Tolly
Bá tước
Bennigsen
Pyotr Bagration †
Frederick
William III
Gebhard von
Blücher
Công tước
Brunswick †
Hoàng tử
Hohenlohe
Ferdinand VII
Miguel de Álava
Hoàng tử John
Miguel Pereira
Forjaz
William, Hoàng
tử Orange
Ferdinand IV
Davout
Jean Lannes †
John
[o]
Công tước
Brunswick-
Wolfenbüttel †
Louis XVIII
Tổn thất
từ 3.350.000 đến 6.500.000 người chết
.
a. Thuật ngữ "Đế quốc Áo" được sử
dụng từ sau khi Napoleon lên ngôi Hoàng
đế nước Pháp năm 1804, và do đó Franz II
của đế quốc La Mã Thần thánh phải nhận
danh hiệu Hoàng đế Áo (Kaiser von
Österreich) cho tương xứng. Đế quốc La
Mã Thần thánh tan rã vào năm 1806, và
theo đó "Hoàng đế Áo" trở thành danh hiệu
chính của Francis. Vì lý do này, thuật ngữ
"Đế quốc Áo" vẫn thường được dùng để
thay thế cho "Đế quốc La Mã Thần thánh"
cho ngắn gọn khi nói về các cuộc chiến
tranh Napoleon, mặc dù 2 thực thể này vốn
không đồng nghĩa.
b. Cả Áo và Phổ đều đã từng trở thành
đồng minh của Pháp trong thời gian ngắn
và có đưa quân tham gia cuộc xâm lược
nước Nga năm 1812.
c. Nga đã trở thành đồng minh của
j. Vương quốc Naples đã liên minh
với Áo một thời gian ngắn trong năm 1814,
rồi lại liên minh Pháp và đánh lại Áo trong
cuộc chiến tranh Naples năm 1815.
k. 16 đồng minh của Pháp trong số các
quốc gia Đức (bao gồm cả Bavaria và
Württemberg) đã tạo nên Liên bang sông
Rhine vào tháng 7 năm 1806 sau trận
Austerlitz tháng 12 năm 1805. Sau trận
Jena-Auerstedt tháng 10 năm 1806, nhiều
quốc gia Đức khác trước đó theo phe đồng
minh chống Pháp, trong đó có Saxony và
Westphalia, cũng liên minh với Pháp và gia
nhập Liên bang này. Saxony lại đổi phe lần
nữa trong trận Leipzig năm 1813, làm hầu
hết các quốc gia thành viên khác cũng
nhanh chóng theo sau và tuyên chiến với
Pháp.
l. Đan Mạch-Na Uy giữ trung lập cho
đến trận Copenhagen năm 1807. Đan Mạch
bị buộc phải nhường lại Na Uy cho Thụy
Điển theo hòa ước Kiel năm 1814. Sau
chiến dịch ngắn ngủi của Thụy Điển tại Na
Uy năm 1814, Na Uy đã tham gia vào khối
liên minh riêng với Thụy Điển.
m. Đế quốc Ottoman có chiến tranh với
Napoleon trong chiến dịch của Pháp tại Ai
Cập và Syria, một phần của Chiến tranh
Cách mạng Pháp, cho đến năm 1803.
Trong triều đại của Napoleon từ năm 1803
tiếp nối các cuộc chiến do cuộc Cách mạng Pháp phát sinh, kéo dài suốt thời Đệ
nhất Đế chế ở Pháp.
Không có sự nhất trí về điểm xuất phát của các cuộc chiến này. Một số người cho
rằng các cuộc chiến này bắt đầu, khi tướng Bonaparte lên nắm quyền vào tháng 11
năm 1799. Một số người khác lại cho rằng các cuộc chiến của cuộc Cách mạng
Pháp kéo dài tới năm 1802 và họ cho rằng lời tuyên chiến giữa Pháp và Anh năm
1802 - sau một thời hòa bình ngắn tiếp theo Hòa ước Amiens năm 1802 - là điểm
xuất phát của các cuộc chiến tranh của Napoléon. Các cuộc chiến này chấm dứt
ngày 20 tháng 11 năm 1815, sau thất bại quyết định của Napoléon tại trận
Waterloo dẫn tới Hiệp ước Paris thứ hai, ngày 20 tháng 11 năm 1815.
Các cuộc chiến này đã làm đảo điên các quân đội các nước châu Âu, với việc sử
dụng pháo binh, cũng như các tổ chức quân sự ở một mức độ chưa từng thấy.
Nước Pháp, trên đà các cuộc chinh phục cách mạng, thấy sức mạnh của mình tăng
trưởng rất nhanh và trải rộng sự thống trị của mình ra toàn châu lục. Tuy nhiên, sự
thất bại còn nhanh hơn. Từ cuộc rút lui thảm hại khỏi Nga, tới trận Waterloo, tới
tận khi vương triều Bourbon được khôi phục. Toàn bộ các cuộc xung đột này
khiến cho tổng cộng khoảng 2,5 triệu người chết, trong đó 1,5 triệu là binh lính và
1 triệu thường dân.
Cũng có người gọi các cuộc chiến này là Các cuộc chiến tranh của Cách mạng
và Đế chế (Guerres de la Révolution et de l'Empire) vì coi chúng chủ yếu là tiếp
tục các cuộc chiến bảo vệ Cuộc cách mạng Pháp, do các vương quốc châu Âu liên
kết chống lại Pháp trong Liên minh thứ nhất. Tuy nhiên một số người khác lại cho
đây là các cuộc chiến tranh xâm lược không thể chối cãi, chẳng hạn như cuộc
chiến tranh giành độc lập của Tây Ban Nha 1808-1814. Các sử gia châu Âu đôi
khi cũng gọi thời kỳ chiến tranh liên tục từ ngày 20 tháng 4 năm 1792, khi Pháp
tuyên chiến với Áo, tới ngày 20 tháng 11 năm 1815 là Cuộc đại chiến của Pháp
(Grande guerre francaise). Cuối cùng đôi khi người ta cũng coi các cuộc chiến
này tạo ra phần chính của Cuộc chiến tranh 100 năm lần thứ ba (Troisème
guerre de Cent ans) giữa Pháp và Anh.
Mục lục
[ ] Các trận chiến tranh với Liên minh thứ hai
1
Sau mưu toan nghiền nát Cuộc cách mạng Pháp của Liên minh thứ nhất gồm Anh,
Áo, Phổ, Tây Ban Nha và một số nước nhỏ (1792-1797), phe Liên minh bị thất bại
bởi cuộc tổng động viên của Pháp (300.000 người) với việc cải cách quân đội bởi
tướng Lazare Nicolas Marguerite Carnot và chiến thuật chiến tranh toàn diện.
Nước Pháp thắng trận đã sát nhập vùng Rheinland và vùng Bỉ-Hà Lan-
Luxembourg thuộc Tây Ban Nha vào Pháp. Việc chinh phục Cộng hòa Hà Lan
(cũng gọi là "7 tỉnh hợp nhất", tuyên chiến với Pháp năm 1793) và chuyển thành
nước Cộng hòa Batavia bởi Hiệp ước La Haye ngày 19.01.1795, đến trước việc từ
bỏ Phổ rồi Tây Ban Nha trong cùng một năm. Cuối cùng là trận chiến thắng lợi
của vị tướng trẻ Napoléon Bonaparte tại Ý (1796-1797), trước hết tách vùng
Piemonte (của Ý) và sau đó các nước dưới quyền Giáo hoàng ra khỏi phe Liên
minh, cuối cùng đã buộc Áo phải ký hiệp ước Campo-Formio[2] (17 tháng 10 năm
1797) chấm dứt Liên minh.
Vương quốc Anh - cường quốc chính còn chiến tranh với Pháp - tài trợ một Liên
minh thứ hai gồm Anh, Nga, Áo, Đế quốc Ottoman, Thụy Điển, Vương quốc
Lưỡng Sicilia, Đế quốc La mã thần thánh. Chính phủ Pháp thời đó vừa tham
nhũng vừa bất ổn, đã không thể chống lại các cuộc đảo chính, cũng không thể đối
mặt với sự đe dọa từ bên ngoài, thiếu các bộ trưởng giỏi như Carnot, hoặc tướng
tài như Bonaparte (vì sang Ai cập). Quân Pháp bị quân của Liên minh dưới sự chỉ
huy cuả tướng Nga Aleksandr Vasilyevich Suvorov đánh bại.
Bonaparte trao quyền chỉ huy quân đội ở Ai Cập cho tướng Jean Baptiste Kléber,
trở về Pháp làm một cuộc đảo chính vào ngày 18 tháng sương mù (9 tháng 11 năm
1799), lật đổ Ban đốc chính (Directoire) và lên nắm quyền. Sự đe dọa cấp bách
nhất là cuộc tấn công của Áo cùng một lúc tại 2 mặt trận ở Ý và Đức. Viên Đệ
nhất tổng tài (Napoléon) tổ chức một đạo quân gọi là trừ bị, vượt qua dãy núi Alps
sang Ý. Ngày 18 tháng 6 năm 1800 Napoléon thắng trận Marengo (Ý) và ngày 3
tháng 12 năm 1800, tướng Jean Victor Marie Moreau cũng thắng quân Áo tại
Khi sự thù hận tái diễn vào năm 1805, thì vương quốc Anh làm chủ trên biển bằng
chiến thắng quyết định trước hạm đội Pháp - Tây Ban Nha ở Trafalgar (tây nam
Tây Ban Nha) ngày 21.10.1805 và dễ dàng đẩy lui đoàn quân viễn chinh của Pháp
tiến sang Ireland. Tuy nhiên, các trận hải chiến vẫn tiếp tục. Một trận hải chiến ở
vùng Caribbe có hậu quả trực tiếp và tức thời đối với diễn tiến của cuộc chiến, vì
đã đẩy Napoléon quay về lục địa châu Âu.
[ ] Các trận chiến với Liên minh thứ ba
6
Tháng 4 năm 1805, Anh và Nga ký một hiệp ước nhằm đẩy Pháp ra khỏi Hà Lan
và Thụy Sĩ. Sau khi sát nhập Genève vào Pháp và Napoléon tuyên bố mình làm
vua nước Ý, thì Áo cũng quay sang theo phe Liên minh. Ngày 9 tháng 8 năm 1805
Vương quốc Napoli và Thụy Điển cũng gia nhập phe Liên minh thứ ba (gồm Anh,
Nga, Áo, Thụy Điển, Vương quốc Napoli).
Phe đồng minh của Pháp gồm có Tây Ban Nha, Ý, Cộng hòa Bayern, công quốc
Baden và Württemberg. Napoléon chuẩn bị tập trung tại Boulogne (Pháp) để xâm
chiếm Anh, cuộc xâm chiếm mà Pháp cần phải làm chủ được eo biển Manche.
Ông ta lập một kế hoạch phức tạp để lôi kéo hạm đội Anh về phía các thuộc địa ở
vùng Tây Ấn (Caribbe). Quân Áo xâm chiếm CH Bayern với đội quân gồm
70.000 người do tướng Karl Mack chỉ huy. Napoléon lập tức quay về lục địa châu
Âu. Cuối tháng 7 năm 1805, Đại quân của Pháp chia ra 7 mũi lao vào quân Áo.
Tại trận Ulm (Đức) từ 25 tháng 9 tới 20 tháng 10 năm 1805, Napoléon vây hãm
tướng Karl Mack, khiến sau đó Mack phải đầu hàng. Cùng lúc đó đội quân Áo ở
phía nam dãy núi Alpes do Công tước Charles đối đầu với thống chế Pháp André
Masséna cũng không mang lại kết quả. Napoléon chiếm Wien. Nhưng đô đốc
Pháp Pierre-Charles Villeneuve thất trận ở mũi Finisterre (22 tháng 7 năm 1805)
và cố thủ tại Cadiz (Tây Ban Nha). Hạm đội này sau đó lại thua trận Trafalgar (21
tháng 10 năm 1805). Cuộc chiến quyết định này đã kết thúc ý đồ xâm chiếm nước
Anh.
Dù gặp khó khăn vì các tuyến đường tiếp tế quá kéo dài, Napoléon vẫn thắng một
lục địa
9
, cấm mọi việc buôn bán với Anh trong các nước chịu ảnh hưởng của Pháp.
Quân đội Anh thời đó đã giảm bớt còn khoảng 220.000 người, đối với Đại quân
Pháp có lúc trên 1 triệu quân, kể cả quân các nước đồng minh và vệ binh. Trái lại
hạm đội Anh gây khó cho việc buôn bán hàng hải của Pháp, nhưng không gây trở
ngại cho việc buôn bán trên lục địa, và cũng không đe dọa lãnh thổ Pháp. Hơn nữa,
dân số và việc sản xuất (kỹ nghệ, nông nghiệp) của Pháp cũng vượt trội Anh. Tuy
nhiên việc làm chủ trên biển đã cho Anh một sức mạnh đáng kể, khiến cho Pháp
khó có một nền hòa bình vững chắc, và Anh cũng có thể lập Liên minh chống
Pháp bất cứ lúc nào.
Napoléon tiến lên phía Bắc để đối đầu với quân Nga và mưu toan chiếm thủ đô
mới của Phổ là Königsberg (nay là Kaliningrad (Nga), một động tác chiến thuật
trong trận ác chiến tại Eylau
10
(Phổ) ngày 7 và 8 tháng 2 năm 1807, buộc Nga phải
rút lui. Sau khi chiếm Dantzig (nay là Gdansk, Ba Lan), Napoléon cũng thắng trận
quyết định ở Friedland ngày 14 tháng 6 năm 1807. Cuộc bại trận này buộc sa
hoàng phải ký hòa ước Tilsit
11
(Phổ) ngày 7 tháng 7 năm 1807. Mạnh vì chiếm
đưuợc các đất đai mới của Phổ, Napoléon cho tái lập nước Ba Lan khi lập Đại
công quốc Warsawa. Tại Hội nghị Erfurt (1808), Napoléon và Sa hoàng Aleksandr
I ký một hiệp định, theo đó Nga sẽ buộc Thụy Điển tham gia vào cuộc Phong tỏa
lục địa. Lời hứa này dẫn tới Chiến tranh Phần Lan (1808 - 1809) giữa Nga và
Thụy Điển, và Nga thắng. Thụy Điển bị chia cắt thành 2 phần, ranh giới ở vịnh
Bothnia, phần phía đông sát nhập vào Nga, tạo thành Đại công quốc Phần Lan.
[ ] Các trận chiến với Liên minh thứ năm
12
trận lớn Aspern-Essling ngày 20 - 22 tháng 5 năm 1809, thì Napoléon bị thua về
chiến thuật. Tuy nhiên Đại công tước Charles, chỉ huy quân Áo, đã mắc sai lầm,
khi không truy kích quân Pháp. Sau đó Napoléon chuẩn bị vây hãm Wien bắt đầu
từ tháng 7 năm 1809, ông ta thắng Áo ở trận Wagram (5 - 6 tháng 7 năm 1809).
Cuộc chiến với Liên minh thứ năm chấm dứt bằng hòa ước Schönbrunn ngày 24
tháng 10 năm 1809 do Áo xin đình chiến.
Năm 1810, Đế quốc Pháp mở rộng tới mức tối đa. Napoléon kết hôn với Marie-
Louise, Công chúa Áo, để thiết lập Liên minh lâu dài với Áo và để có con thừa kế,
mà người vợ trước - Joséphine de Beauharnais - không có. Ngoài Pháp, Napoléon
cũng là vua Ý, người trung gian (và lãnh đạo) Liên bang Thụy Sĩ (Swiss
Confederation), Liên bang sông Rhine. Viên đại sứ của ông ta tại Warszawa điều
khiển không chính thức Đại công quốc Warszawa. Các đồng minh của ông ta là
Tây Ban Nha (do người anh Joseph Bonaparte làm vua), công quốc Westphalen
(do em út Jérôme Bonaparte cai trị), Vương quốc Napoli (em rể là thống chế
Joachim Murat làm vua), công quốc Lucca (Ý) và Piombio (Ý) (do em rể Félix
Baciocchi cai trị) cùng các nước cựu thù Phổ, Áo.
[ ] Các trận chiến với Liên minh thứ sáu
15
Liên minh thứ sáu gồm các vương quốc Anh, Nga, Phổ rồi Thụy Điển, Áo và CH
Bayern (từ 1813). Bên phía Pháp gồm Pháp, Đại công quốc Warsawa, Ý, Vương
quốc Napoli, Liên bang sông Rhein, Sachsen và CH Bayern (tới 1813).
[ ] Trận chiến tại Nga
Năm 1812 Napoléon xâm lấn Nga để buộc sa hoàng phải tuân thủ việc Phong tỏa
lục địa và không được xâm chiếm Ba Lan. Đại quân Pháp gồm 650.000 người,
trong đó 270.000 là quân Pháp, vượt qua sông Nemen ngày 23 tháng 6 năm 1812.
Nga tuyên bố cuộc đại chiến vệ quốc và dùng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến (đốt
sạch trước khi rút lui). Hai bên đối đầu nhau trong trận Borodino[16] (ngoại ô
Moskva) ngày 7 tháng 9 năm 1812, một trận chiến đẫm máu và buộc Nga phải rút
lui. Quân Pháp vào Moskva ngày 14 tháng 9 năm 1812, nhưng Sa hoàng
năm 1813), dù quân Liên minh đông hơn. Tuy nhiên tới trận Leipzig
17
, cũng gọi là
Trận đánh Liên Quốc gia từ 16 tới 19 tháng 10 năm 1813 giữa 191.000 quân phe
Pháp với 450.000 quân phe Liên minh (Đế quốc Áo, Vương quốc Phổ, Đế quốc
Nga, Vương quốc Thụy Điển), thì Napoléon thua và buộc phải rút lui.
[ ] Trận chiến ở Pháp
Các nước Liên minh muốn chấm dứt 20 năm chiến tranh và đánh bại Napoléon mà
họ gọi là "kẻ tiếm quyền". Quân Liên minh gồm 500.000 người tiến vào Pháp,
trong khi Napoléon chỉ có thể huy động được một đạo quân nhỏ gồm 70.000
người. Tuy nhiên quân Pháp đã chống trả quyết liệt quân Liên minh bị chia cắt, ở
từng tấc đất, đặc biệt ở các trận Champaubert (10 tháng 2 năm 1814) giữa Pháp và
liên quân Áo - Nga, trận Montmirail (11 tháng 2 năm 1814) giữa Pháp với Liên
quân Áo - Nga, trận Mormant (17 tháng 2 năm 1814) giữa Pháp vói Liên quân
Nga - Wurtemberg, và trận Montereau (18 tháng 2 năm 1814) chống Liên quân Áo
- Wutemberg.
Dù thất bại ở một số trận, nhưng phe Liên minh ký Hiệp ước Chaumont ngày 8
tháng 3 năm 1814 (gồm Anh, Áo, Nga, Phổ), quyết tâm đánh bại Napoléon. Quân
Liên minh tiến chiếm Paris ngày 30 tháng 3 năm 1814, do sự thông đồng của
thống chế Marmont (rút lui, không chiến đấu với Liên quân). Tuy nhiên, Hoàng đế
Napoléon vẫn hy vọng có thể tập hợp được 900.000 quân của mình đang ở Đức,
Bỉ, Hà Lan cùng các tân binh, nhưng kế hoạch này không thực hiện được.
Napoléon phải tuyên bố thoái vị ngày 6 tháng 4 năm 1814 tại Fontainebleau và bị
đày tới làm hoàng đế đảo Elba. Các nước Liên minh thắng trận và Pháp họp Hội
nghị Wien[18] từ 1 tháng 10 năm 1814 tới 9 tháng 6 năm 1815, quyết định trả lại
biên giới của các nước châu Âu như cũ, trước khi có cuộc Cách mạng Pháp. Trước
đó Liên minh và Pháp cũng đã ký Hiệp ước Paris ngày 30 tháng 5 năm 1815, trả
cho Pháp biên giới nguyên trạng như trước ngày 1 tháng 1 năm 1792.
[ ] Các trận chiến với Liên minh thứ bảy
19
khỏi các vị trí của họ. Hôm sau, khi quân Phổ tới tấn công cánh hữu của Pháp thì
chiến thuật chia cắt quân Liên minh của Napoléon hoàn toàn thất bại và phải tháo
chạy hỗn loạn.
Trở về Paris 3 ngày sau trận Waterloo, Napoléon buộc phải thoái vị lần thứ hai
vào ngày 22 tháng 6 năm 1815 và bị phe Liên minh đày ra đảo Saint Helena trên
Đại Tây Dương cho tới chết.
[ ] Các hậu quả của các cuộc chiến tranh này
Các cuộc chiến tranh của Napoléon đã có những hậu quả lớn lao trên toàn thế giới,
đặc biệt ở lục địa châu Âu:
Pháp không còn là cường quốc thống trị châu Âu, như dưới thời vua Louis
XIV của Pháp
Trong nhiều nước châu Âu, việc du nhập các lý tưởng và các tiến bộ của
cuộc Cách mạng Pháp (dân chủ, bãi bỏ các đặc quyền của giới tăng lữ và quí tộc,
bãi bỏ việc tra tấn, quyền bình đẳng trước pháp luật v.v.) đã để lại dấu ấn lâu dài.
Các vua ở châu Âu khó tái lập chế độ chuyên chế thời tiền Cách mạng Pháp và đôi
khi buộc phải áp dụng một số cải cách (vd. Bộ luật dân sự Pháp thời Napoléon,
được một số nước áp dụng lâu, hoặc ảnh hưởng tới luật của một số nước).
Một phong trào mới và mạnh đã xuất hiện: chủ nghĩa dân tộc đã làm thay
đổi tiến trình lịch sử châu Âu, là sức mạnh giết chết các đế quốc. Bản đồ châu Âu
được vẽ lại hoàn toàn trong 100 năm sau các cuộc chiến này.
Cuộc chiến ở Tây Ban Nha đã hủy hoại quân đội (hạm đội và lục quân)
nước này, tình trạng trầm trọng thêm vì các cuộc cách mạng xẩy ra ở các thuộc địa
của Tây Ban Nha tại châu Mỹ. Tới năm 1825 hầu như toàn bộ thuộc địa của Tây
Ban Nha hoặc đã độc lập hoặc đã sát nhập vào Hoa Kỳ (các tiểu bang Florida,
Louisiana) hoặc vào Vương quốc Anh (Trinidad) hay Haiti (Saint Domingue).
Vương quốc Anh trở thành cường quốc bá chủ thế giới trên đất liền và trên
biển.
Việc Pháp chiếm đóng Hà Lan (trong thời kỳ chiến tranh) đã cho phép
Pháp chiếm các thuộc địa của nước này: Tích Lan (nay là Sri Lanka), Malacca,
Nam Phi, Guyana