TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM (PRODUCT LIABILITY)
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI XUẤT KHẨU
VÀO THỊ TRƯỜNG NƯỚC PHÁT TRIỂN
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hương Giang
Lớp : Anh 1 Luật Kinh Doanh Quốc Tế
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : TS. Tăng Văn Nghĩa
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
3-MCPD 3- MonoChloropropane Diol Chất 3-MCPD
AFSCA
Federal Agency for the Safety of the
Food Chain
(Agence fédérale pour la sécurité de
la chaîne alimentaire)
Cơ quan chất lượng an toàn thực
phẩm liên bang Bỉ
ALI The American Law Institute Viện luật Hoa Kỳ
ASEAN
The Assosiation of the South East
Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASTA American Spice Trade Association Hiệp hội gia vị Hoa Kỳ
DIN
German Institute for Standardization
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Trong xu thế hội nhập toàn cầu và tự do hóa thương mại, thị trường các nước
phát triển là những thị trường đầy tiềm năng hấp dẫn các nhà xuất khẩu. Tuy nhiên
đây cũng là những thị trường “khó tính” với yêu cầu cao về sản phẩm nhập khẩu.
Hàng hoá nhập khẩu vào thị trường các nước phát triển được kiểm soát bằng một hệ
thống luật pháp tương đối chặt chẽ vì các lý do bảo vệ quyền lợi an ninh quốc gia,
lợi ích kinh tế hoặc bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng. Hàng
hoá nhập khẩu còn bị chi phối bởi hàng loạt các quy định về trách nhiệm của nhà
sản xuất và người kinh doanh sản phẩm về việc phải bồi thường đối với các thiệt hại
do sử dụng những sản phẩm chất lượng không đảm bảo.
Doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường các nước phát triển nói
chung gặp phải những vẫn đề về trách nhiệm sản phẩm (TNSP). Thực tiễn cho thấy
nhiều doanh nghiệp đã phải bồi thường cho người tiêu dùng những khoản tiền
khổng lồ do hàng hóa có khuyết tật, thiếu an toàn gây tổn hại đến tài sản, sức khỏe,
thậm chí tính mạng của người tiêu dùng. Việc khối lượng lớn đồ chơi sản xuất ở
Trung Quốc nhập vào Mỹ bị thu hồi, các công ty thuốc lá phải bồi thường cho nhiều
bệnh nhân ung thư là một vài minh chứng. Các quy định về TNSP buộc các doanh
nghiệp phải đảm bảo độ an toàn của sản phẩm khi đưa vào lưu thông và phải cảnh
báo cho người tiêu dùng những tác động xấu của việc sử dụng sản phẩm mà họ
buộc phải thấy tại thời điểm thiết kế, sản xuất hoặc đưa sản phẩm vào thị trường. Vi
phạm nghĩa vụ này, doanh nghiệp, người sản xuất phải bồi thường những tổn hại
gây cho người tiêu dùng. TNSP còn bảo vệ người tiêu dùng ở mức độ cao hơn nữa,
đó là khi nhà sản xuất, nhập khẩu bồi thường những tổn hại gây cho người tiêu
dùng được áp dụng ngay cả khi không có lỗi của họ.
Trước thực tiễn đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm sản phẩm (Product
Liability) và những vấn đề đặt ra khi xuất khẩu vào thị trường nước phát triển”
để làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Hi vọng khóa luận này có thể góp một phần
1
trong việc giúp các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam thành công hơn khi xuất
- Chương 2: Vấn đề về TNSP đặt ra khi xuất khẩu vào thị trường nước phát
triển
- Chương 3: Một số đề xuất cho doanh nghiệp về TNSP khi xuất khẩu vào thị
trường nước phát triển
Tôi xin bày lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Tăng Văn Nghĩa, thầy đã tận tình chỉ
bảo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình tìm
kiếm tài liệu, thu thập thông tin và hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Xin trân trọng cảm ơn!
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM VÀ
LUẬT TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM
I. Khái quát về trách nhiệm sản phẩm
1. Khái niệm sản phẩm
Khi nói tới “Trách nhiệm sản phẩm” thì “Sản phẩm” là yếu tố cơ bản cần tìm
hiểu. Có nhiều quan niệm khác nhau về sản phẩm.
Theo Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000:2000 thì sản phẩm là kết quả của một
quá trình, trong đó “quá trình” là tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc
tương tác với nhau để biến đổi đầu vào (input) thành đầu ra (output). Các chủng loại
sản phẩm phổ biến nhất gồm: hàng hóa (gồm cả phần mềm - software, phần cứng –
hardware, vật liệu chế biến - processed meterial) và dịch vụ. Khái niệm này không
dựa trên tính chất trao đổi (mua bán), chức năng hay dạng vật chất của sản phẩm để
định nghĩa mà dựa trên chu trình sống của sản phẩm. Sản phẩm chỉ trở thành hàng
hoá ở giai đoạn lưu thông sản phẩm trên thị trường.
Dưới giác độ Marketing thì sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu
mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào
bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng. Theo đó,
một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản vật chất và phi vật
chất. Như vậy, theo quan điểm của cả Marketing và Tiêu chuẩn quản lý chất lượng
ISO, sản phẩm gồm 2 bộ phận: hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, theo quy định của
rd
Torts”
(luật bồi thường thiệt hại, bản sửa đổi lần thứ 3) 1997 của Hoa Kỳ định nghĩa sản
phẩm là những tài sản cá nhân hữu hình, bao gồm cả nguyên liệu chưa qua chế biến.
Quy định của pháp luật Hoa Kỳ không quan tâm tới quá trình tạo ra sản phẩm chỉ
xem xét sản phẩm trên khía cạnh hình thái vật chất và chủ thể sở hữu sản phẩm. .
Tóm lại dưới giác độ của TNSP, sản phẩm bao gồm những động sản được sản
xuất hoặc chế biến
4
, nó không phụ thuộc vào việc sản xuất theo dây chuyền công
nghiệp với quy mô lớn hay sản xuất thủ công những sản phẩm riêng lẻ
5
. Cách hiểu
này tương đồng với quy định của pháp luật ở nhiều nước về sản phẩm đồng thời
mang tính chất đặc thù của pháp luật trách nhiệm sản phẩm.
2
Nguyên văn trích Luật trách nhiệm sản phẩm Nhật Bản số 85/1994: “the term “product “means
movable property manufactured or processed “
3
Nguyên văn trích chỉ thị 34/1999 về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu EU : ‘product’
means all movables even if incorporated into another movable or into an immovable. ‘Product’
includes electricity
4
Theo điều 2 điểm 2 luật TNSP CHLB Đức (produkthaftungsgetz sửa đổi 2002)
5
TS. Tăng Văn Nghĩa (2008), “Bàn về Luật trách nhiệm sản phẩm trong kinh doanh quốc tế “, tạp
chí Nhà nước và pháp luật, (2), trang 41-49
5
2. Khái niệm về người sản xuất
Các quan niệm về sản phẩm đều đồng nhất ở điểm, sản phẩm là kết quả của
khẩu đã không dán nhãn phụ bằng ngôn ngữ trong nước cho sản phẩm mà mình
nhập khẩu, nhằm hướng dẫn người tiêu dùng cách sử dụng, trong trường hợp người
đó dùng sai quy cách dẫn đến có thiệt hại, người nhập khẩu sẽ phải chịu trách
nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật. Vì thế, đối với pháp luật TNSP, họ
cũng là người sản xuất.
Tóm lại:
Người sản xuất là những người tham gia vào quá trình tạo ra và phân phối
sản phẩm nhằm mục đích kinh doanh. Họ phải chịu trách nhiệm cho những sản
phẩm của mình trước người tiêu dùng. Họ là đối tượng chịu trách nhiệm sản phẩm.
Từ phần sau của khóa luận, thuật ngữ “người sản xuất” sẽ dùng để chỉ chung
những chủ thể phải chịu trách nhiệm sản phẩm như: người sản xuất thực sự, người
tương tự người sản xuất, người phân phối, người xuất nhập khẩu
3. Khái niệm khuyết tật sản phẩm
Sau khi sản phẩm tới tay người tiêu dùng, người sản xuất vẫn phải chịu trách
nhiệm đối với sản phẩm đó nếu sản phẩm gây thiệt hại cho người tiêu dùng dù thời
gian bảo hành sản phẩm còn hay không. Trước đây, trách nhiệm sản phẩm dựa trên
nguyên tắc lỗi, người bị thiệt hại chỉ được bồi thường khi chứng minh được hành vi
có lỗi của người sản xuất có quan hệ nhân quả với thiệt hại của mình. Ví dụ, một
chi tiết máy không được lắp chặt đúng mức, người sử dụng bị tai nạn. Giám định
kết luận, chi tiết đó không đảm bảo độ an toàn. Trong trường hợp này người sản
xuất sẽ phải bồi thường do có lỗi. Trong một trường hợp khác, người tiêu dùng sử
dụng nước uống có ga, sau đó ăn kẹo Mentos và bị phản ứng phụ dẫn tới ngộ độc. Ở
đây không có lỗi của nhà sản xuất do sản phẩm đó an toàn. Tuy nhiên, người nhập
khẩu sản phẩm đó đã không dán nhãn phụ để cảnh báo đầy đủ cho khách hàng về
những khả năng nguy hiểm có thể xảy ra. Trong trường hợp này người tiêu dùng có
được bồi thường hay không?
Để bảo vệ người tiêu dùng, pháp luật nhiều nước đã chuyển từ nguyên tắc
trách nhiệm dựa trên lỗi sang nguyên tắc trách nhiệm dựa trên khuyết tật của sản
7
phẩm. Người sử dụng bị thiệt hại không quan tâm đến lỗi của nhà sản xuất mà chỉ
TS. Tăng Văn Nghĩa (2008), “Bàn về Luật trách nhiệm sản phẩm trong kinh doanh quốc tế “, tạp
chí Nhà nước và pháp luật, (2), trang 41-49
8
dự kiến hoặc các quy cách phẩm chất của nhà sản xuất đề ra. Ví dụ, khung xe ô tô
được hàn làm thân một máy móc thiết bị khác không phù hợp sẽ được phân loại như
là một lỗi sản xuất
Khuyết tật do cảnh báo không đầy đủ là những khuyết tật của sản phẩm trong
trường hợp thiệt hại có thể tránh hoặc giảm nhẹ nếu sử dụng những chỉ dẫn hay
cảnh báo phù hợp.
Ngoài các khuyết tật vốn có trong sản phẩm, các khuyết tật còn có thể tự
xuất hiện trong quá trình phân phối. Ví dụ, hóa chất có tính ăn mòn phải được đóng
gói trong container thích hợp. Việc không dán nhãn phụ, hướng dẫn, hoặc các cảnh
báo về một sản phẩm hay cách thức vận chuyển khi nhập khẩu cũng có thể tạo nên
khiếm khuyết cho sản phẩm. Những trường hợp gây nguy hiểm phải được cảnh báo
cho người tiêu dùng, giải thích cách sử dụng thích hợp, các trường hợp có khả năng
gây hại, và các bước giải quyết trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến sản phẩm.
Nguyên tắc dán nhãn đúng quy cách bao gồm các đơn xin bồi hoàn đính
trong brochures (tài liệu quảng cáo), sản phẩm trưng bày, và quảng cáo công khai.
Việc này phải được tự nguyện thực hiện ngoài bảo hành và các quy định bắt buộc
khác bởi vì người bán bị ràng buộc chặt chẽ các nghĩa vụ đối với người sử dụng
hoặc mua các sản phẩm dù không do người bán sản xuất.
Thậm chí khi một nhà sản xuất quảng cáo hàng hóa thông qua các phương
tiện thông tin truyền thông thì họ phải có trách nhiệm đảm bảo rằng các sản phẩm
có chất lượng tốt cho đại bộ phận công chúng, nghĩa là quảng cáo đó phải đúng sự
thực. Một số các tòa án cho phép người tiêu dùng bị thiệt hại được khởi kiện ngay
cả khi họ không đọc nhãn mác trên sản phẩm. Điều này có nghĩa là một khi quảng
cáo hướng tới đối tượng là phần lớn công chúng và làm ảnh hưởng tới quyết định
mua hàng của họ thì các nhà sản xuất sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu có
thiệt hại đối với người tiêu dùng.
Tóm lại:
- Miêu tả không trung thực (mispresentation)
- Trách nhiệm pháp lý tuyệt đối (strict tort liability)
Lỗi bất cẩn có thể được hiểu là nhà sản xuất đã không hoặc ít có sự quan tâm
cần thiết, đúng mức, không thực hiện một số nghĩa vụ pháp lý của mình đối với sản
7
TS. Tăng Văn Nghĩa (2008), “Bàn về Luật trách nhiệm sản phẩm trong kinh doanh quốc tế “, tạp
chí Nhà nước và pháp luật, (2), trang 41-49.
8
Khái niệm về người sản xuất được nêu trong phần I. 2 chương 1 của luận văn này
9
Theo http://legal-dictionary. thefreedictionary. com/Product+Liability
10
phẩm. Nhà sản xuất đó có thể bị buộc phải chịu trách nhiệm cho những sơ sót trong
khâu sản xuất, thiêt kết, lắp ráp sản phẩm mà sơ sót đó dẫn tới thiệt hại cho người
tiêu dùng. Ví dụ, một công ty sản xuất sẽ mắc lỗi sơ xuất nếu không quản lý công
nhân thực hiện đúng quy trình sản xuất dẫn tới tạo ra một sản phẩm không đủ an
toàn.
Vi phạm điều khoản bảo hành có thể được hiểu là người bán đã không thực
hiện đầy đủ các điều khoản trong cam kết trong thời hạn bảo hành hàng hóa. Pháp
luật quy định rằng người bán phải đảm bảo thực hiện những cam kết về nghĩa vụ
bảo hành và phải chịu trách nhiệm về những cam kết đó.
Miêu tả không trung thực trong các chương trình quảng cáo và xúc tiến bán
hàng của một sản phẩm có thể hiểu là nhà sản xuất đưa tới người tiêu dùng những
thông tin sai lệch về độ an toàn cần có của sản phẩm, không cảnh báo những trường
hợp có thể gây nguy hiểm khi sử dụng, cố tình che giấu các mối nguy hiểm tiềm ẩn
hay sơ xuất khi miêu tả sản phẩm. Nguyên đơn muốn khởi cho những thiệt hại của
mình cần chứng minh khi sử dụng sản phẩm người đó đã thực sự tin tưởng vào
những thông tin mà nhà sản xuất đã quảng cáo. Lỗi miêu tả không trung thực có thể
được xét xử theo hướng đó chỉ là hành vi vi phạm điều kiện bảo hành hoặc là một
sự vi phạm pháp luật.
- Tích cực khắc phục hậu quả nếu có thiệt hại, bồi thường theo phán quyết của
tòa án nếu khuyết tật thuộc về trách nhiệm của người phân phối.
Tóm lại:
Pháp luật TNSP các nước đều quy định các nhà sản xuất, phân phối, tiêu
thụ… đều phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do những khuyết tật của sản phẩm
gây ra cho người sử dụng. Trách nhiệm sản phẩm thường dựa trên những nguyên
tắc pháp lý về sự bất cẩn, miêu tả không trung thực, vi phạm bảo hành và trách
nhiệm pháp lý tuyệt đối.
II. Khái quát về pháp luật trách nhiệm sản phẩm
1. Lịch sử phát triển của pháp luật trách nhiệm sản phẩm
12
Lịch sử của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm chủ yếu là sự biến chuyển
từng bước của học thuyết quan hệ độc lập (the doctrine of privity)
10
, theo đó người
bị thiệt hại có thể khởi kiện những người có hành vi gây lỗi chỉ khi hai bên độc lập
và có giao kết hợp đồng. Nói cách khác, một bị đơn chỉ phải chịu trách nhiệm thực
hiện những điều khoản đảm bảo an toàn được quy định trong các hợp đồng, và chỉ
một bên hợp đồng có thể khởi kiện cho các vi phạm. Điều này có nghĩa là một nhà
sản xuất bán sản phẩm có khuyết tật cho người đại lý, đại lý lại bán tới tay người
tiêu dùng là nguyên đơn thì chỉ nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về khuyết tật của
sản phẩm. Trong trường hợp đó, người bị thiệt hại sẽ không có quyền khiếu kiện đòi
bồi thường do đã mua sản phẩm từ đại lý.
Nguồn gốc của những quy định về TNSP ban đầu là pháp luật dân sự các
nước, dựa trên cơ sở các yêu cầu đảm bảo chất lượng của nhà cung cấp trong hợp
đồng mua bán. Đồng thời Bộ luật Dân sự cũng được sử dụng như cơ sở pháp lý cơ
bản trong việc giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của nhà sản
xuất đối với những thiệt hại của người tiêu dùng do khiếm khuyết của sản phẩm.
Điều 709 Bộ luật Dân sự Nhật Bản 1896 cho phép áp dụng nguyên tắc trách nhiệm
dựa trên khuyết tật và quy định những khuyết tật đó tồn tại phải có lỗi của nhà sản
vi liên đới trách nhiệm không chỉ bó hẹp trong chủ thể người sản xuất.
Điều khoản về đảm bảo an toàn cũng được quy định như một phần bắt buộc
trong hợp đồng. Từ đầu thế kỷ XX, những ngoại lệ nằm ngoài lý thuyết quan hệ độc
lập phát triển tới các trường hợp liên quan đến sản phẩm dành cho nhu cầu tiêu
dùng hàng ngày (thức ăn, đồ uống, thuốc…), các sản phẩm dành cho nhu cầu xa xỉ
(ví dụ như mỹ phẩm). Những sản phẩm này không có thời gian bảo hành, nhưng
nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về độ an toàn của sản phẩm trong thời hạn sử
dụng, nghĩa vụ của nhà sản xuất được quy định thành trách nhiệm pháp lý.
Năm 1979, Luật TNSP lần đầu tiên ra đời ở Hoa Kỳ. Pháp luật TNSP của
Các nước thuộc liên minh châu Âu (EU) ra đời vào thập niên 80, và được cụ thể hóa
tại chỉ thị của Ủy ban châu Âu (EC) về trách nhiệm sản phẩm số 85/374/EEC (sau
11
Chẳng hạn thuốc diệt cỏ chứa trong các thùng màu da cam mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến
tranh Việt Nam có chứa dioxin, gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe và tính mạng những người
sống trong khu vực đó và các thế hệ con cháu. Các công ty cung cấp chất này phủ nhận trách nhiệm
đối với người Việt Nam do cho rằng mục đích của sản phẩm chỉ nhằm “khai hoang “. Tham khảo
http://dongtac. net/spip. php?article1888
14
đây gọi là chỉ thị 85), ban hành ngày 25 tháng 7 năm 1985 (được sửa đổi thành chỉ
thị 34/1999/EC năm 1999). Trên cơ sở đó, các nước thành viên EU áp dụng và xây
dựng cho mình một Luật TNSP riêng như Luật TNSP của Đan Mạch tháng 6/1989,
CH Ailen tháng 12/1991, Tây Ban Nha tháng 7/1994 … Một số nước ở châu Âu
nhưng chưa là thành viên của EU tại thời điểm đó cũng áp dụng quy định chỉ thị 85,
xây dựng Luật TNSP như Nauy tháng 1/1989, Aixlen tháng 1/1992, Hungary tháng
1/1994 …
Ở châu Á, Luật TNSP xuất hiện khá muộn như Luật TNSP Nhật Bản năm
1994 có hiệu lực tháng 7/1995; Luật TNSP Hàn Quốc năm 2001 có hiệu lực tháng
7/2002
Bên cạnh đó tại một số quốc gia, các quy định về TNSP không được tập
trung lại thành một luật riêng mà lại được đưa thêm vào luật cũ, nhằm bổ sung luật
dụng nguyên tắc trách nhiệm dựa trên khuyết tật đã cho phép bất cứ người tiêu dùng
và người thứ ba bị thiệt hại bởi khuyết tật của sản phẩm đều có thể được bồi thường
bởi bất kỳ chủ thể nào trong chuỗi phân phối sản phẩm (người sản xuất, bán hàng,
nhập khẩu…). Người sản xuất buộc phải đảm bảo sản phẩm đủ an toàn cần thiết khi
đưa vào lưu thông trên thị trường.
Nguồn của pháp luật TNSP các nước chủ yếu là luật TNSP hoặc văn bản
pháp lý tương đương, chẳng hạn: chỉ thị của Ủy ban châu Âu (EC) về trách nhiệm
sản phẩm số 85/374/EEC, Luật TNSP Nhật Bản năm 1994…Ngoài ra, tại một
TNSP còn được quy đinh trong bộ luật dân sự, bộ luật hình sự, chẳng hạn: bộ luật
dân sự Pháp quy định trách nhiệm do lỗi (Tort liability) quy định từ điều 1382-1383
của Bộ luật Dân sự; trách nhiệm hợp đồng (Contractual liability) quy định tại điều
1641 của Bộ luật Dân sự; trách nhiệm do khuyết tật sản phẩm (Defective product
liability) quy định tại điều 1386-1 đến 1386-18 của Bộ luật Dân sự và trách nhiệm
phạt bồi thường (Penal liability) quy định tại điều 222-19 của Bộ luật Hình sự.
2. 2. Đối tượng áp dụng Luật trách nhiệm sản phẩm
16
Hầu hết pháp luật TNSP các nước đều quy định các đối tượng áp dụng của
Luật trách nhiệm sản phẩm là người sản xuất
12
bao gồm: người sản xuất thành
phẩm, người chế biến nguyên liệu thô, người sản xuất bán thành phẩm, những
người tương tự như những người sản xuất (Quasi-producers) và kể cả những người
không tham gia sản xuất như người phân phối (gồm: người bán hàng, người xuất
nhập khẩu…)
Đối tượng áp dụng của luật TNSP là bất cứ cá nhân, tổ chức có hành vi tham
gia vào quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm, nghĩa là biến đổi đầu vào thành
đầu ra và đưa sản phẩm đó tới tay người tiêu dùng. Họ thực hiện hành vi đó vì mục
đích kinh doanh thu lợi nhuận. Những đối tượng này được xem như là người sản
xuất thực tế của sản phẩm, từ góc độ sản xuất, chế biến, nhập khẩu hoặc kinh
doanh, và những trường hợp khác. Trong trường hợp những người có tham gia vào
Kỳ, EU, Nhật Bản những xung đột pháp luật phái sinh và xung đột giữa luật quốc
gia với các quy định dưới luật về độ an toàn của sản phẩm là không thể tranh khỏi.
Trong những trường hợp đó, luật chuyên ngành của quốc gia và các quy định pháp
luật của nơi có thiệt hại sẽ được ưu tiên áp dụng.
Trong những trường hợp mà Luật TNSP không đề cập, trách nhiệm của
người sản xuất, v. v đối với những thiệt hại gây ra bởi khuyết tật trong hàng hóa sẽ
phải quy kết dựa trên những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
Tại Hoa Kỳ, các nhà sản xuất phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn về an toàn
của sản phẩm theo quy định của từng bang. Trong trường hợp có xung đột giữa luật
liên bang và luật trách nhiệm sản phẩm chung thì ưu tiên áp dụng luật liên bang
trước.
Tại EU: EU không có một đạo luật chung về TNSP cho toàn EU mà chỉ ban
hành các chỉ thị hướng dẫn về trách nhiệm sản phẩm. Các quốc gia thành viên phải
nội luật, dựa vào các chỉ thị đó tự xây dựng quy định về TNSP riêng cho mình,
không được mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản của chỉ thị. Các nội luật đó phải được
đệ trình lên Ủy ban châu Âu xem xét, nếu được chấp nhận, các nội luật đó mới được
phép thi hành
Áp dụng luật trong phạm vi quốc tế
Trong thời đại kinh tế toàn cầu, hàng hóa thường xuyên được vận chuyển
qua biên giới các nước. Các chủ thể thực hiện hợp đồng có thể mang quốc tịch khác
nhau. Khi chủ thể là người sản xuất trực tiếp, người xuất khẩu và người tiêu dùng bị
thiệt hại do khuyết tật của sản phẩm nhập khẩu có quốc tịch khác nhau, vấn đề đặt
18
ra là TNSP đối với người sản xuất được giải quyết theo luật nước nào? Chịu trách
nhiệm về sản phẩm thông thường được quy định bởi một đạo luật cụ thể của nước
người bị thiệt hại. Vì vậy, những nguyên lý của tư pháp quốc tế khó có thể áp dụng
cho những vụ kiện về TNSP.
Trong lĩnh vực mua bán quốc tế hiện nay không có điều ước quốc tế nào điều
chỉnh vấn đề trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm có khuyết tật. Điều 5
công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế quy định rõ những thiệt hại rõ
com/Default. aspx?CT=TVBT&c=L&P=3
15
TS. Tăng Văn Nghĩa (2008), “Bàn về Luật trách nhiệm sản phẩm trong kinh doanh quốc tế “, tạp
chí Nhà nước và pháp luật, (số 2), trang 41-49.
19
Nguyên tắc này được ghi nhận trong pháp luật của mỗi nước và trong các điều ước
quốc tế
16
.
2. 4. Nguyên tắc về TNSP của nhà sản xuất
Nguyên tắc về TNSP là nguyên tắc bắt buộc Người sản xuất, v. v phải có
trách nhiệm đối với những thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho tính mạng, cơ
thể hoặc tài sản của người tiêu dùng hàng hóa do anh ta sản xuất, chế biến, nhập
khẩu hoặc thể hiện tên lên sản phẩm
Tùy pháp luật của từng quốc gia quy định mà người sản xuất sẽ phải chịu
TNSP dựa trên nguyên tắc trách nhiệm dựa lỗi hay nguyên tắc trách nhiệm dựa trên
khuyết tật của sản phẩm.
Nguyên tắc trách nhiệm dựa trên lỗi:
Khi luật trách nhiệm sản phẩm bắt đầu được xây dựng, người sản xuất chỉ
dựa trên nguyên tắc trách nhiệm do mắc lỗi (Negligence). Lỗi có thể hiểu là sự sơ
xuất hoặc thiếu sự quan tâm cần thiết của nhà sản xuất, người phân phối, xuất nhập
khẩu sản phẩm trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Lỗi đó phải trực
tiếp gây nên thiệt hại cho người sử dụng. Người sản xuất phải chịu trách nhiệm
trong trường hợp người bị hại chứng minh được họ có lỗi khi đưa ra thị trường
những sản phẩm không đủ an toàn.
Tuy nhiên, người sản xuất thường thường đưa người tiêu dùng vào thế bị
động, gây nhiều khó khăn cho người bị thiệt hại trong quá trình chứng minh lỗi của
nhà sản xuất. Chính vì vậy, với sự phát triển của Luật TNSP, nguyên tắc trách
nhiệm dựa trên lỗi dần được thay thế bởi nguyên tắc TNSP khác, tiến bộ hơn, tạo
điều kiện dễ dàng hơn cho người tiêu dùng đòi bồi thường thiệt hại và qui trách
vi điều chỉnh của pháp luật TNSP sẽ mở rộng sang cả các loại sản phẩm tiêu dùng
phục vụ nhu cầu sống của con người như thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các sản
phẩm như mỹ phẩm, đồ may mặc, giày dép Đây là những sản phẩm mà khó có thể
chứng minh lỗi của nhà sản xuất khi áp dụng nguyên tắc trách nhiệm dựa trên lỗi.
Đối tượng điều chỉnh của luật TNSP cũng được mở rộng cho bất kỳ người sản xuất
nào mà hành vi của họ gây thiệt hại cho người tiêu dùng (người trực tiếp và không
trực tiếp tạo ra sản phẩm) kể cả người xuất nhập khẩu.
Tóm lại:
Pháp luật TNSP về cơ bản dựa trên 2 nguyên tắc đó là: nguyên tắc trách
nhiệm dựa trên lỗi và nguyên tắc trách nhiệm dựa trên khuyết tật. Trong đó nguyên
21
tắc trách nhiệm dựa trên khuyết tật là nguyên tắc cơ bản và được áp dụng rộng rãi
trong pháp luật TNSP hiện đại. Nguyên tắc trách nhiệm dựa trên khuyết tật mở rộng
phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của luật TNSP, đảm bảo quyền lợi cho
người tiêu dùng và tăng trách nhiệm của người sản xuất đối với sản phẩm của mình.
2. 5. Hậu quả pháp lý do vi phạm pháp luật trách nhiệm sản phẩm
Khi người sản xuất vi phạm Luật trách nhiệm sản phẩm, bị khiếu nại và có
phán quyết của tòa án, người sản xuất có thể phải chịu các hậu quả pháp lý sau:
- Chịu trách nhiệm dân sự hoặc thậm chí là hình sự tùy mức độ thiệt hại của
người tiêu dùng và khuyết tật của sản phẩm.
- Buộc phải bồi thường cho người bị thiệt hại và chịu các chi phí pháp lý theo
phán quyết của tòa án.
- Các sản phẩm sẽ bị kiểm tra, người sản xuất có thể bị buộc phải thu hồi sản
phẩm có khuyết tật, sửa chữa các sản phẩm có thể khắc phục được.
- Đổi sản phẩm có đủ độ an toàn cho khách hàng mà không được thu thêm
khoản phí nào hoặc hoàn trả lại tiền cho khách hàng.
- Bị cấm tiêu thụ các sản phẩm không theo đúng tiêu chuẩn an toàn cho người
sử dụng.
- Phải Tiến hành nghiên cứu thẩm định chất lượng các sản phẩm có thể gây
nguy hại; báo cáo kết quả cho cơ quan chức năng và chịu mọi chi phí cho
- Người sản xuất không đưa sản phẩm đó vào lưu thông, sản phẩm có thể được
người thứ 3 đưa vào lưu thông do nhầm lẫn hoặc cố ý.
- Sản phẩm được phân phối không vì mục đích kinh tế, hoặc người sản xuất
không phân phối sản phẩm đó trong quá trình kinh doanh của mình.
- Khuyết tật của sản phẩm có là do người sản xuất bắt buộc phải tuân theo các
quy định của cơ quan chức năng.
23