Lý Thuyết Dược Học: BA ĐẬU - Pdf 21

BA ĐẬU

-Xuất Xứ:
Bản Kinh.
-Tên Khác:
Ba thục (Bản Kinh), Cương tử (Lôi Công Bào Chích Luận), Ba đậu sương, Ba
sương (Đông Dược Học Thiết Yếu), Ba đậu sương tử, Ba tiêu cương tử (Hòa
Hán Dược Khảo), Giang tử (Thụy Trúc Đường Kinh Nghiệm Phương), Lão
dương tử (Cương Mục), Quả Màn Dẻ ( Nam Dược Thần Hiệu), Ba tiêu, Hạt
Màn đẻ (Lĩnh Nam Bản Thảo), Ba mễ (Dược Tài Tư Khoa Hối Biên), Ba qủa
(Trung Dược Hình Tính Kinh Nghiệm Lam Biệt Pháp), Bát diện đao (Quảng
Tây Trung Dược Chí), Đại diệp song nhãn long, Ba nhân, Mang tử (Quảng
châu Thường Dụng Trung Thảo Dược Thủ Sách), Độc ngư tử, Cống tử (Trung
Dược Chí), Mãnh tử nhân (Trung Quốc Dược Thực Chí), Song nhãn long
(Lĩnh Nam Thái Dược Lục), Song nhãn hà, Hồng tử nhân, Đậu cống (Nam
Ninh Thị Dược Vật Chí ).
Tên khoa học:
Fructus Crotonis.
Họ khoa học:
Thầu Dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả:
Cây gỗ nhỏ, thân tròn, không có lông. Lá mọc đơn, so le, phiến lá hình trái
xoan, mỏng, dài 6-12cm, rộng 3-6cm, mép lá khía răng cưa nhỏ. Lá non mầu
hồng đỏ. Cuống lá mảnh, dài 2-6cm. Hoa mọc thành chùm dài 10-20cm, ở đầu
cành, mang hoa đơn tính cùng gốc. Hoa đực ở phía trên, có 5 cánh hoa, 17
nhụy. Hoa cái ở dưới có 1-2 cánh hoa hoặc không cánh. Bầu hình cầu, có lông
hình sao, 3 vòi, nhụy xẻ đôi ở trên. Quả nang hình trái xoan, khi khô tách thành
3 mảnh vỏ, mang 3 hạt hình trứng, mầu nâu xám, dài khoảng 1cm, rộng 4-6cm.
Ra hoa từ tháng 4 đến tháng 6.
Địa lý:
Ở Trung Quốc cây mọc nhiều ở các tỉnh Tứ Xuyên, Quảng Tây, Vân Nam,

(Trung Dược Học).
. Với liều 2 giọt trở lên gây ra viêm ruột và có triệu chứng ngộ độc, nôn mửa,
tiêu chảy nhiều, toát mồ hôi và chết. Liều 10-20 giọt đủ giết 1 con ngựa. Dùng
liều nhỏ liên tiếp cũng gây ngộ độc và chết (Những Cây Thuốc Vị Thuốc Việt
Nam).
-Tính vị quy kinh:
+ Vị cay, tính ấm (Bản Kinh)
+ Vị đắng, tính nóng (Y Học Khải Nguyên).
+ Vào kinh Tỳ, Vị, Đại trường (Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Vào kinh Can, Thận (Bản Thảo Tái Tân).
+ Tính rất nhiệt, có độc (Nam Dược Thần Hiệu).
+ Vị cay, khí ấm, tính rất độc (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ Vị cay, tính nóng, rất độc, vào kinh Vị, Đại trường (Trung Quốc Dược Học
Đại Từ Điển).
+ Vị cay, tính nóng, rất độc, vào kinh Vị, Đại trường (THNDCHQDĐiển).
+ Vị cay, tính nóng, có độc, vào kinh Vị, Đại trường (Trung Dược Đại Từ
Điển).
+ Vị cay, tính ấm, vào kinh Vị, Đại trường (Đông Dược Học Thiết Yếu).
-Tác dụng, chủ trị:
. Làm sạch ngũ tạng, lục phủ, khai thông bế tắc, lợi thủy cốc đạo, khứ ố nhục,
phá trưng hà, kết tụ, tích tụ. Trị thương hàn, ôn ngược, hàn nhiệt, đờm ẩm tích
trệ, bụng trướng to (Bản Kinh).
. Trị kinh nguyệt không thông, trục thai chết ra, chấn thương ứ máu không
thông (Biệt Lục).
. Trị khí kết tụ, thủy thũng (Dược Tính Luận).
. Đạo khí, tiêu tích, trừ hàn tích ở tạng phủ, trừ hàn thấp ở Vị (Bản thảo khải
nguyên).
. Vừa thông trường, vừa chỉ tiết [ cầm tiêu chảy] (Thang Dịch Bản Thảo).
. Trị tiêu chảy, lỵ, kinh phong, bụng và ngực đau, sán khí (thoái vị bẹn), răng
đau (Bản Thảo Cương Mục).

khẩu, bỗng nhiên chết ngất: Đại hoàng 40g, Can khương 40g, Ba đậu 40g, (bỏ
vỏ, lõi, sao). Tán bột, trộn mật làm hoàn. Ngày uống 8-12g. (Tam Vật Bị Cấp
Hoàn - Kim quỹ yếu lược).
. Trị bụng căng đầy, ngực đau, đại tiện không thông: Ba đậu 2 hạt, bỏ nhân và
vỏ, rang vàng. Hạnh nhân 2 hạt, bọc vải, đập dập. Trộn với 1 chén nước nóng,
lấy nước uống, hễ đi tiêu được thì thôi (Ngoại Đài Bí Yếu).
. Trị sốt rét, bụng sưng to: Ba đậu, bỏ vỏ và nhân 8g, Tạo giáp, bỏ vỏ và hột
24g. Tán bột, làm viên to bằng hột đậu xanh. Mỗi lần uống 1 viên với nước
lạnh ( Trửu Hậu phương).
. Trị hàn tích, ăn không tiêu, đại tiện bí: Ba đậu 1 chén, rượu 5 chén, nấu nhỏ
lửa 3 ngày 3 đêm cho khô, làm viên to bằng hạt đậu. Mỗi lần uống 1 viên với
nước. Nếu cần thì uống 2 viên (Thiên Kim phương).
.Trị phong ngứa, nổi ban, bứt rứt: Ba đậu 50 hạt, bỏ vỏ. Sắc với 7 chén nước,
còn 2 chén, lấy túi vải bọc lại, chườm vào chỗ ngứa (Thiên Kim phương).
. Trị lở loét, ngứa: Ba đậu 50 hạt, ngâm nước cho vàng, bỏ nhân, nghiền thuận
theo chiều tay phải rồi cho vào 1 chút váng sữa, 1 ít bột béo. Bóc màng vết
thương ra, bôi thuốc vào. Không được cho thuốc vào mắt hoặc dịch hoàn, nếu
lỡ dính thuốc vào mắt hoặc dịch hoàn, phải dùng Hoàng đơn bôi vào để giải
(Thiên Kim phương).
. Trị trúng phong méo miệng: Ba đậu 7 hạt, bỏ vỏ, gĩa nát. Đau bên trái đắp
bên phải và ngược lại, nhưng phải lấy 1 chén nước nóng áp lên thuốc (Thánh
Huệ phương).
. Trị phục thử, thương hàn, nóng lạnh không đều, hoắc loạn, thổ, lỵ, miệng
khô, phiền khát: Ba đậu 25 hạt (bỏ vỏ, ép bỏ dầu, nghiền nát), Hoàng đơn (sao,
tán bột) 40g. Trộn với sáp làm hoàn, to bằng hạt Ngô đồng, mỗi lần dùng 5
hoàn, nhúng vào nước rồi nuốt, không nhai (Thủy Tẩm Đơn - Cục phương).
. Trị lỵ, tích trệ, bụng đau, mót rặn nhiều: Ba đậu, bỏ vỏ và nhân, Hạnh nhân,
bỏ vỏ và nhân, mỗi thứ 49 hạt, đốt tồn tính, tán bột. Dùng sáp ong nấu chảy,
trộn thuốc bột, làm hoàn to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 2-3 viên với nước
sắc Đại hoàng, cách ngày uống 1 lần (Tuyên Minh phương).

lúa mạch (sao) 40g. Tán bột, làm hoàn, to bằng hạt gạo to, uống 10 hoàn lúc
đói với nước (Hải Thượng phương).
. Trị âm độc thương hàn kết ở tim gây đau, táo bón, trung tiện hôi thối: Ba đậu
10 hạt, nghiền nát,lấy 4g, rắc vào lỗ rốn, lấy mồi ngải cứu nhỏ, cứu 5 tráng, khí
thông thì khỏi (Nhân Trai Trực Chỉ).
. Trị trẻ nhỏ bị đờm suyễn: Ba đậu 1 hạt, nghiền nát, bọc vào vải, nhét vào bên
mũi bị nghẹt, đờm sẽ hạ ngay (Cổ Kim Y Giám).
. Trị trẻ nhỏ đờm suyễn: Ba đậu 1 hạt, gĩa nát, bọc vào bông (vải mỏng), nhét
vào mũi: trai bên trái, gái bên phải, thì đờm từ từ hạ xuống (Cổ Kim Y Giám).
. Trị nhọt độc lở loét: Ba đậu, sao đen, đắp vào chỗ đau để giải độc, đắp lên thịt
để sinh thịt mới. Có thể thêm ít Nhũ hương. Nếu vết thương sâu quá, miệng
không khép được, nên bóp lại cho khít (Ngoại Khoa Tinh Nghĩa).
. Trị tích trệ: Ba đậu 40g, Cáp phấn 80g, Hoàng bá 120g, tán bột, trộn với nước
làm viên to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 5 viên với nước (Y Học Thiết
Vấn).
. Trị Mũi tên bọc sắt đâm vào thịt, không rút ra được: Ba đậu + Bọ hung, rang
sơ qua, tán bột, dán lên vết thương. Khi thấy bớt đau và có cảm giác ngứa
không chịu nổi thì day nhẹ mũi tên và rút ra rồi bôi ‘Sinh Cơ Cao’ vào (Kinh
Nghiệm phương).
. Trị lở ngứa, lác đồng tiền: Ba đậu 3 hạt, để nguyên dầu, gĩa nát, lấy vải mềm
bọc lại, xát vào chỗ tổn thương, ngày 2-3 lần (Bí Truyền Kinh Nghiệm
phương).
. Trị bụng sôi (kêu) nhiều, sắc da đen, gọi là chứng thủy trướng: Ba đậu 90 hạt
(bỏ vỏ, nhân), Hạnh nhân 60 hạt (bỏ vỏ, đầu nhọn). Tán bột, làm viên, mỗi lần
uống 0,4-0,8g (Bổ Khuyết Trửu Hậu Phương).
. Trị họng đau sắp chết, chỉ còn chút hơi thở: Ba đậu 1 hạt, bỏ vỏ, dùng sợi chỉ
xâu vào giữa hạt, nhét vào cổ họng 1 chốc (lát) rồi nắm dây kéo Ba đậu ra là
khỏi.
Ba đậu, gói 2-3 lớp giấy, cuộn giấy lại làm mồi đốt cháy rồi thổi tắt đi, cho
khói xông vào trong lỗ mũi 1 lúc sẽ thổ ra nước dãi rồi khỏi. (Nam Dược Thần

Kết quả khỏi: 20 cas, có tiến bộ: 13 cas, không kết quả: 05 cas. Tỉ lệ có kết quả
là 86,8%” (Sử Tài Tường, tạp chí Trung Y -1979, 12:30).
-Tham khảo:
+ ”Một bà gìa hơn 60 tuổi, bị bệnh tiêu chảy (đường tả) hơn 5 năm, ăn thịt,
dầu, chất sống lạnh vào là đau, đã uống thuốc điều hòa Tỳ, thăng đề, chỉ sáp
uống vào thì lại tiêu chảy nặng hơn. Đến tôi chẩn bệnh, thấy mạch Trầm Hoạt,
đó là Tỳ Vị bị tổn thương, lãnh tích ngưng trệ gây ra; đại hàn ngưng ở trong, tả
lỵ lâu ngày, khỏi rồi lại tái phát, năm này sang năm khác. Phép trị nên dùng
phép nhiệt hạ thì hàn tắc sẽ được khứ lợi. Cho uống 50 viên Ba Đậu, 2 ngày
đại tiện hết thông lợi, tiêu chảy khỏi dần” (Bản Thảo Cương Mục).
+ ”Nếu trị gấp và thông đường thủy cốc thì để sống, bỏ hết màng mỏng trong
ruột rồi bọc giấy, ép bỏ dầu. Chữa từ từ cho tiêu tích tụ: nấu với nước 5 lần
hoặc sao cho hết khói, thấy sắc đen thì nghiền nhỏ để dùng. Ba đậu vừa có thể
làm thông ruột vừa có thể chỉ tả (cầm tiêu chảy) mà người đời không biết (Lôi
Công Bào Chích Luận).
+ ”Chu Đan Khê nói rằng: Ba đậu trừ được chứng tích hàn trong Vị, nếu không
đúng bệnh thì kiêng không dùng, nói chung dùng Ba đậu phải cẩn thận. Ba đậu
và Đại hoàng đều là thuốc công hạ nhưng Đại hoàng tính hàn, vào phần huyết,
bệnh của lục phủ có nhiều huyết thì nên dùng. Ba đậu tính nhiệt, vào phần khí,
bệnh của ngũ tạng có nhiều hàn thì nên dùng. Lý Sĩ Tài nói: Tẩy rửa 5 tạng, 6
phủ, như nẫu ruột, như cạo dạ dầy, đánh tích cứng, phá đờm tích, trực tiếp làm
nhiệm vụ chém tướng đoạt ải, khí huyết và thức ăn ngưng tích, chỉ 1 lần công
phá là hết sạch, đờm trùng và thủy trệ quét sạch mà không sót, thai nhi trụt
ngay, đinh nhọt độc tiêu hết. Nhưng uất trệ tuy trừ được mà tiếp đó chân âm
cũng tổn hại. Hãy thử lấy một ít xát vào da, thấy da nổi dộp, huống hồ ruột và
dạ dầy là chất mềm mỏng, bị nó xông đốt thì không nát loét sao được! Nên vạn
bất đắc dĩ phải dùng thì nên sao chín, ép bỏ dầu, mà cũng chỉ dùng chút ít thôi,
không được dùng nhiều. Có thuyết nói rằng để sống thì ôn, nấu chín thì hàn là
không đúng - Tuy nói là để sống thì ôn, chín thì lạnh, sợ rằng chín cũng không
lạnh lắm, vì Ba đậu bẩm thụ tính cấp tốc của hỏa, có cả khí vị cay, ôn và chạy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status