BA TIÊU
-Tên khác:
Ba thư, Bản tiêu, Đởm bình tiêu, Nha tiêu, Vô nhĩ văn tuyết (Hòa hán dược
khảo), Cam tiêu (Biệt lục), Thiên thư (Sử ký chú), Thiệt danh hương tiêu
(Cương mục thập di), Thủy tiêu ( Gia hựu bản thảo đồ kinh), Ưu đàm hoa
(Phạn ngữ), Chuối tiêu (Việt Nam).
-Tên khoa học:
Musa Basloo Sieb. Et Zucc.
-Họ khoa học:
Musaceae.
-Mô tả:
Cây thảo, cao 5-6m, sống lâu năm. Thân cây tròn, mềm, thẳng, có bẹ lá. Cuống
hình tròn có khuyết rãnh. Lá to, dài. Trái nằm trên buồng, có từ 6-8 nải, mỗi
nải khoảng 12 trái. Trái nhỏ, dái, mùi thơm. Khi chín, vỏ vẫn mầu xanh nhưng
khi chín mùi thì mầu vàng.
-Thành phần hóa học:
+Trong 100g phần ăn được, có bột đường (27,7g), chất đạm (1,1g), nước
(74,1g), sinh tố C (9mg), B1 (0,03mg), B2 (0,04mg), Caroten (359 Unit),
Calcium (11mg), Magnéium (42mg), Kalium (279mg), Sắt (0,56mong), 8,6%
Fructos, 4,7% Glucos, 13,7% Sacaros. Trong chuối có nhiều Pectin, là 1
Glucid không có giá trị về mặt năng lượng nhưng là chất gíup cho sự tiêu hóa
hấp thu tốt, chống nhiễm trùng đường ruột. Chuối cung cấp nhiều năng lượng
nhất (trên dưới 100 Calori/100g nạc chuối chín tươi) vì chuối chứa nhiều bột
đường nhất (Trái cây và sức khỏe).
-Tính vị:
Vị ngọt, tính rất lạnh, không độc.
-Tác dụng, chủ trị:
+Thanh Vị hỏa, giải nhiệt độc. Trị phù thũng, ho (TQDHĐT.Điển).
+Chuối chín làm tăng hồng cầu, huyết cầu tố, giúp giảm được tình trạng nhiễm
Acid cho chế độ ăn nhiều thịt, mỡ hoặc quá nhiều ngũ cốc. Chuối chín tươi
lần (Trung quốc dân gian bách thảo lương phương).
+Trị huyết áp cao, não xung huyết: Vỏ cây chuối hoặc quả chuối 30-60g, sắc
uống (Trung quốc dân gian bách thảo lương phương).
+Trị bàng quang viêm, tiểu gắt: Rễ cây chuối 30g, Hạn liên thảo 30g. Sắc, chia
làm 3 lần uống (Trung quốc dân gian bách thảo lương phương).
+Trị thai động không yên: Rễ cây chuối tươi 60g, thịt heo nạc 120g, thêm
nước, hầm thật nhừ, ăn (Trung quốc dân gian bách thảo lương phương).
+Trị băng lậu: Ba tiêu căn 250g, Thịt heo nạc 100g. Nấu nhừ, ăn cả nước lẫn
cái (Trung quốc dân gian bách thảo lương phương).
-Tham khảo:
+” Cây chuối tiêu cho nhựa gọi là Ba Tiêu Trấp. Khi lấy nhựa chuối, dùng ống
tre vót nhọn đầu, cắm vào thân cây chuối, nhựa chuối sẽ từ từ chảy ra, lấy chai
hứng lấy, để dành dùng dần. Nhựa chuối có vị hơi ngọt, tánh lạnh, không độc.
Có tác dụng trị chứng đầu phong, cuồng nhiệt, phiền khát, uống vào hễ nôn ra
được là khỏi. Nước trấp chuối trị phỏng lửa rất hay. Nhựa chuối bôi có tác
dụng làm đen râu, tóc và bớt rụng. Hoa chuối gọi là Ba Tiêu Hoa, vị ngọt, tính
lạnh, không độc, nấu hoặc luộc ăn cũng tốt. Trị chứng tê, tim đau: đốt tồn tính,
uống với nước muối. Rễ cây gọi là Ba Tiêu Căn, vị hơi ngọt, tính rất lạnh,
không độc. Trị các chứng cuồng nhiệt lúc trời nóng, người bệnh mê man hoặc
phiền nhiệt, phát cuồng, các chứng ung nhọt. Bị ung nhọt, đơn độc, sưng đau,
đào củ chuối thối đắp vào mụn nhọt đang sưng nóng đau rất hay. Lá chuối gọi
là Ba Tiêu Diệp, nghiền nát, trộn với nước Gừng, bôi, trị các chứng sưng độc
mới phát (Bảm thảo cương mục)”.
+” Ăn vài trái chuối chín và uống nửa lít sữa đậu nành hoặc sữa bò coi như 1
bữa ăn đầy đủ dưỡng chất - Chuối gìa, chuối chín chưa hoàn toàn chứa nhiều
tinh bột không tiêu hóa được, khó qua khỏi dạ dầy, có thể gây xót ruột non,
gây đau bụng và táo bón. Vậy phải ăn chuối chín mùi, vừa dễ tiêu hóa vừa bổ
dưỡng” (Trái cây và sức khỏe).
+” Có kinh nghiệm cho rằng chuối gìa có tính lạnh, khó tiêu, nếu người dạ dầy
và ruột có vấn đề thì không nên ăn. Người bình thường phổi yếu, nhiều đờm,