Lời mở đầu
Nền kinh tế nớc ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc, cở sở pháp lý để quản lý nền kinh tế thị trờng mở
cửa đã, đang hình thành và từng bớc đợc thực hiện. Trong bối cảnh đó các thành
phần kinh tế tham gia thị trờng ngày càng nhiều, các doanh nghiệp ra đời với
nhiều hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng và phức tạp.
Song song với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, sự hình thành và phát
triển của thị trờng vốn nói riêng, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, sự quan tâm
đến tình hình tài chính của nhau càng tăng. Hay nói một cách khác, ngày càng có
nhiều đối tợng khác nhau quan tâm đến những thông tin tài chính của doanh
nghiệp. Nhng không phải tất cả mọi ngời đều có thể tin ngay vào bản tự báo cáo
của doanh nghiệp mà không có sự kiểm tra, phân tích độ tin cậy của báo cáo đó.
Ngợc lại, nếu tất cả mọi ngời (có liên quan đến doanh nghiệp) cùng kiểm tra bản
báo cáo tài chính của một doanh nghiệp thì đó là một sự lãng phí lớn về thời gian.
Để đáp ứng tình hình này đòi hỏi phải có một bên thứ ba độc lập khách quan, có
trình độ chuyên môn cao đợc pháp luật cho phép cung cấp thông tin tin cậy cho
đối tợng quan tâm. Vì vậy, nó đã hình thành nên một loại kiểm toán độc lập. Luật
pháp nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trờng phát triển qui định chỉ có các báo cáo
tài chính đã đợc kiểm toán độc lập mới có giá trị pháp lý và độ tin cậy.
Nh vậy kiểm toán độc lập ra đời không phải tự thân, vị thân mà nó ra đời
đáp ứng yêu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trờng.
Trong đề tài nghiên cứu này em xin trình bày về bản chất của kiểm toán độc
lập trong nền kinh tế thị trờng qua ba nội dung sau:
- Xác minh và bày tỏ ý kiến độc lập về bảng khai tài chính.
- Kiểm toán viên có trình độ tơng xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý
có hiệu lực.
- Chất lợng của hoạt động kiểm toán độc lập với những khó khăn và giải.
Do những hạn chế về thời gian và trình độ, không tránh khỏi những sai sót
nhất định, em kính mong đợc sự nhận xét, đánh giá từ thầy.
- Deloitte Touch Tohmatsu (DDT)
- Price Waterhouse
ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, hoạt động kiểm toán độc lập
phát triển rất nhanh chóng và mạnh mẽ. Hiện nay có hơn 30.000 công ty kiểm
toán độc lập trên toàn nớc Mỹ, trong đó có 8 công ty lớn đặt văn phòng ở tất cả
2
các thành phố chính của Mỹ và trong nhiều thành phố lớn trên khắp thế giới. Viện
kiểm toán độc lập (AICPA) Hoa Kỳ hiện bao gồm hơn 220.000 kiểm toán viên
độc lập.
ở nớc Cộng hòa Pháp hiện nay có 24 văn phòng kiểm toán khu vực (mỗi
khu vực là một miền), có 2500 văn phòng cơ sở trực tiếp làm dịch vụ với gần
10.000 ngời làm nghề kiểm toán và t vấn tài chính, kế toán, thuế...
ở Philipin có khoảng 15.000 ngời làm việc ở các tổ chức kiểm toán độc lập. ở
Hồng Công có trên 1000 văn phòng kiểm toán và t vấn, trong đó có văn phòng lớn
nhất là 900 ngời ở Trung Quốc tuy hoạt động kiểm toán độc lập cũng mới ra đời
nhng đến 31/12/1994 đã có trên 600 công ty và văn phòng t vấn kiểm toán với
khoảng 10.000 nhân viên.
Để chỉ đạo các tổ chức kiểm toán độc lập trên khắp thế giới hoạt động theo
đúng tôn chỉ, mục đích nghề nghiệp, đã hình thành các tổ chức quốc tế là Liên
đoàn Kế toán quốc tế (IFAC). Hiệp hội Kế toán chuyên nghiệp (ACCA) và ủy
ban Thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC). Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) là tổ
chức toàn cầu, đợc thành lập ngày 7/10/1977 theo sự thỏa thuận của 63 tổ chức kế
toán chuyên nghiệp đại diện cho 49 nớc. Ngày nay, IFAC đã có một trăm tổ chức
thành viên của 78 nớc, trụ sở chính tại New York, với 106 chi nhánh và gần
1.000.000 hội viên. Mục đích của IFAC đợc ghi trong hiến chơng của mình là
Phát triển và tăng cờng sự phối hợp nghiệp vụ kế toán và kiểm toán trên toàn thế
giới theo các chuẩn mực hài hòa. Trong tổ chức của IFAC có Hiệp hội Kế toán
chuyên nghiệp ACCA để ban hành và chỉ đạo áp dụng các chuẩn mực kế toán
quốc tế phổ biến. Còn ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC) là ủy ban thờng
trực của IFAC, đợc IFAC trao cho các quyền hạn và trách nhiệm đặc biệt, ban
Công ty T vấn và kiểm toán Sài Gòn (AFC)
Công ty kiểm toán Đà Nẵng (ĐAC)
Công ty Kiểm toán Hạ Long (HAACO)
2 công ty liên doanh:
Công ty kiểm toán Việt Nam Deloitte Touch Tohmatsu International (VACO
- DTTI)
Công ty Cooper & Lybrand AISC
4 công ty 100% vốn nớc ngoài:
Công ty Ernst & Young (E & Y)
KPMG Peat Marwek Việt Nam (KPMG)
Price Waterhouse (P.W)
Athur Andersen Việt Nam (AA)
Ngoài ra ở Việt Nam còn có một số văn phòng đại diện của các tổ chức
kiểm toán quốc tế và một số dự án thành lập mới các tổ chức kiểm toán của địa
phơng hoặc t nhân...
Kiểm toán độc lập ra đời, nó là một hoạt động kinh doanh, và lợi ích mà nó
đem lại lớn hơn rất nhiều chi phí phải chi ra cho nó.
2.Bản chất của kiểm toán nói chung, của kiểm toán độc lập nói riêng.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về bản chất kiểm toán, có thể khái quát
các cách hiểu về kiểm toán theo 3 loại quan niệm chính sau:
4
Quan điểm thứ nhất: kiểm toán đợc hiểu theo đúng thời cuộc của nó: Phát
sinh cùng thời với cơ chế thị trờng. Theo quan niệm đó, ngời ta thòng dẫn ra lời
định nghĩa trong lời mở đầu Giải thích các chuẩn mực kiểm toán của vơng quốc
Anh.
Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ những ý kiến về những
bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên đợc bổ nhiệm để thực
hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan.
Hoặc cụ thể hơn, có thể dẫn ra quan niệm của các chuyên gia kiểm toán
tin vào tài liệu kế toán trong khi họ không có đội ngũ chuyên gia kế toán đông đảo
5
nh Nhà nớc. Đồng thời những nhà kinh doanh trong cơ chế thị trờng cũng cần biết
và tránh rủi ro thờng có v.v... Nh vậy, ngời quan tâm đến thông tin kế toán không
chỉ có Nhà nớc mà còn có tất cả các nhà đầu t, những nhà quản lý, những khách
hàng và những ngời lao động v.v. Vì vậy, công tác kiểm tra cần đợc thực hiện rộng
rãi, đa dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực, đủ sức thuyết phục và tạo
niềm tin cho mọi ngời quan tâm. Trong điều kiện đó, việc tách kiểm toán ra khỏi
những hoạt động kế toán và hình thànhc khoa học kiểm toán độc lập là một xu h-
ớng phát triển tất yếu của lịch sử.
Quan điểm thứ ba - quan điểm hiện đại, phạm vi kiểm toán (Audit) rất
rộng, bao gồm những lĩnh vực chủ yếu sau:
1. Kiểm toán thông tin hớng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của
các tài liệu (thông tin) làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về
kinh tế và tạo niềm tin cho những ngời quan tâm đến tài liệu kế toán.
2. Kiểm toán quy tắc hớng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, thể
lệ, luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt động (trớc hết là với hoạt
động tài chính).
3. Kiểm toán hiệu quả có đối tợng trực tiếp là các yếu tố, các nguồn lực trong
từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản xuất hay dịch vụ v.v... Kiểm toán
loại này giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định chính sách và phơng hớng, giải
pháp cho việc hoàn thiện hoặc cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị đợc kiểm
toán.
4. Kiểm toán hiệu năng đợc đặc biệt quan tâm ở khu vực công cộng (kể cả các
xí nghiệp công và các chơng trình đầu t từ ngân sách Nhà nớc) nơi mà lợi ích và
hiệu quả không còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa của nó nh trong donh nghiệp, nơi mà
năng lực quản lý cần đợc đánh giá toàn diện và bồi bổ thờng xuyên nhằm không
ngừng nâng cao hiệu năng quản lý của đơn vị kiểm toán. Tất nhiên loại kiểm toán
này cũng cần và có thể ứng dụng đối với quản lý toàn bộ doanh nghiệp hoặc với
từng bộ phận quản lý của mọi đơn vị kiểm toán.
Trong chức năng xác minh của kiểm toán, một vấn đè xảy ra rất sôi động
hiện nay là phát hiện ra gian lận và sai sót trong tài chính. Gian lận là một hành
động dối trá có toan tính với ý đồ mu lợi. Sự gian lận trong báo cáo tài chính có
thể xuất phát từ nhân viên trong bộ máy kiểm toán hoặc do ban giám đốc lập báo
cáo tài chính để mu cầu lợi ích cá nhân. Sự gian lận còn có thể do chủ trơng của
đơn vị cố tình bóp méo tình hình tài chính và hiệu quả kinh doanh của đơn vị để
mu cầu lợi ích cho đơn vị vi phạm .Sai sót là lỗi không cố ý, là sự nhầm lẫn, bỏ sót
hoặc do yếu kém về năng lực Chẳng hạn, trong lĩnh vực kiểm toán tài
chính, sai sót có thể là lỗi số học, bỏ sót hoặc hiểu sai sự việc một cách vô tình, áp
dụng sai nguyên tắc, chế độ kiểm toán tài chính do thiếu năng lực.
Vì thế, trách nhiệm về sự gian lận, sai sót và ngăn ngừa gian lận, sai sót
phải thuộc về ban giám đốc, những ngời có bổn phận bảo vệ tài sản của đơn vị.
Nhiệm vụ của ban giám đốc là phải thiết lập một hệ thống nội kiểm để ngăn ngừa
và phát hiện gian lận, sai sót. Ngời kiểm toán độc lập không chịu một phần trách
nhiệm nào khi phát hiện sự gian lận, sat sót. Tuy nhiên kiểm toán viên phải có kế
hoạch kiểm toán và tiến hành việc kiểm toán sao cho có một phán đoán hợp lý, dễ
dàng phát hiện ra những sai phạm trọng yếu trong các bảng khai tài chính vì bầt
kì nguyên nhân nào. Mức độ trọng yếu tùy thuộc vào sự nhận định chuyên môn
của kiểm toán viên và có sự khác nhau giữa các công ty kiểm toán độc lập khác
nhau.
7
Nhng trên thực tế, gian lận là hành vi trải qua ba gian đoạn: đầu tiên là hình
thành ý đồ gian lận; sau đó thực hiện hành vi gian lận; và cuối cùng là che giấu
hành vi gian lận. Chính vì thế gian lận luôn đợc tính toán kĩ lỡng và che dấu tinh vi
nên rất khó phát hiện nhất là những gian lận gắn với những ngời quản lý cấp cao.
Vì vậy để chắc chắn, các kiểm toán viên thờng cẩn thận và dè dặt ghi thêm trong
th xác nhận: kiểm toán viên không có trách nhiệm tìm ra mọi gian lận, trách
nhiệm này còn thuộc về những đối tợng có liên quan.
Th xác nhận đợc đa ra khi kiểm toán độc lập đã tiến hành kiểm tra, nó có
nội dung sau:
tại hay xảy ra của nhà quản lý.
Mục tiêu trọn vẹn là hớng xác minh vào sự đầy đủ về thành phần (nội dung)
cấu thành số tiền ghi trên các khoản mục. Cụ thể mục tiêu này liên quan đến tính
đầy đủ của các nghiệp vụ, tài sản và vốn cần đợc tính vào khoản mục. Chẳng hạn,
không ghi một khoản bán hàng thực tế đã xảy ra vào Nhật ký và Sổ cái để tính vào
số tiền trên khoản mục tơng ứng là vi phạm mục tiêu trọn vẹn.
Các mục tiêu hiệu lực và trọn vẹn hớng trọng tâm chú ý vào những quan hệ
kiểm toán ngợc nhau. Mục tiêu hiệu lực có quan hệ đến khả năng phóng đại số
tiền bởi những nghiệp vụ, tài sản hoặc vốn không có thực trong khi mục tiêu trọn
vẹn lại quan hệ với những bộ phận thực tế phát sinh nhng không ghi sổ.
Mục tiêu quyền và nghĩa vụ bổ sung cho cam kết về quyền và nghĩa vụ với
ý nghĩa xác minh lại quyền sở hữu (hoặc sử dụng lâu dài và đợc luật định thừa
nhận) của tài sản và nghĩa vụ pháp lý (hoặc hợp đồng dài hạn) của các khoản nợ
và vốn. Thực chất của mục tiêu này là hớng tới mối liên hệ giữa các bộ phận và
giữa các khoản mục trong và ngoài Bảng cân đối tài sản.
Mục tiêu định giá là hớng xác minh vào cách thức và kết quả biểu hiện tài
sản, vốn và các hoạt động (chi phí, chiết khấu, thu nhập..) thành tiền. Nh vậy, mục
tiêu này nghiêng về thẩm tra giá trị thực kể cả đánh giá theo nguyên tắc kế toán,
thực hiện các phép tính theo phơng pháp toán học. Tuy nhiên mục tiêu này cũng
không loại trừ xem xét tới liên hệ về cơ cấu có ảnh hởng tới số tiền ghi trong các
Báo cáo tài chính nh việc thẩm tra các khoản chiết khấu, hối khấu, lãi suất, cổ
tức...Đây là những khoản cấu thành chi phí, thu nhập, tài sản và vốn. Mục tiêu này
đợc sử dụng để làm rõ ràng hơn cam kết của nhà quản lý về định giá và phân phối
Mục tiêu phân loại là hớng xem xét lại việc xác định lại các bộ phận,
nghiệp vụ đợc đa vào tài khoản cùng việc sắp xếp các tài khoản trong các báo cáo
tài chính theo bản chất kinh tế của chúng đợc thể chế bằng các văn bản pháp lý cụ
thể đang có hiệu lực. Trong các văn bản này, hệ thống tài khoản là cơ sở bắt đầu
để thẩm tra phân loại tài sản, nghiệp vụ và vốn của khách hàng. Đồng thời giới hạn
về thời gian, đặc biệt là các nghiệp vụ xảy ta cuối kỳ kế toán cũng là một trọng
tâm rà soát việc ghi vào các tài khoản. Với nội dung trên mục tiêu này là sự bổ
thực hiện việc xem xét đánh giá kinh doanh, hệ thống quản lý, hệ thống kế toán.
Qua đó, kiểm toán viên nhận biết đợc các điểm yếu kém của doanh nghiệp. Các
công ty kiểm toán thờng gửi kèm góp ý (miễn phí hoặc tính phí trong phí kiểm
toán) cho các nhà quản lý doanh nghiệp nhằm trợ giúp nhà quản lí điều hành
doanh nghiệp hoàn thiện các kế toán quản lí.
Nh vậy Th quản lý là công việc kiểm toán báo cáo tài chính của các kiểm
toán viên độc lập, nội dung chủ yếu của th quản lý là đề cập tới những vấn đề yếu
kém cần khắc phục trong quá trình điều hành quản lí doanh nghiệp. Qua th quản
lý, các nhà quản lí doanh nghiệp sẽ thấy đợc những điểm còn tồn tại, những lời
khuyên và những gợi ý của kiểm toán viên một cách độc lập khách quan nhằm trợ
giúp các nhà quản lý hoàn thiện hệ thống kiểm soát hệ thống quản lý điều hành
doanh nghiệp.
Kiểm toán độc lập là loại hình còn mới mẻ song đã đợc chính phủ và nhà n-
ớc quan tâm. Chức năng của kiểm toán độc lập đã đợc khẳng dịnh trong Thông t
hớng dẫn thực hiện số 22TC/CĐKT của Bộ tài chính: Chức năng của kiểm toán
độc lập là kiểm tra xác nhận tính đúng đắn, trung thựcvà hợp lý của các số liệu, tài
10