112 Tìm hiểu tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán trong các Công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam - Pdf 21


CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2010
TÊN CÔNG TRÌNH:
TÌM HIÊU TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
TRONG CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM
Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội
HÀ NỘI, 2010
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kiểm toán đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Ở mỗi quốc gia sự phát
triển về tất cả các mặt kinh tế - xã hội đã làm cho hoạt động kiểm toán ngày
càng phát triển mạnh mẽ và trở thành một nhu cầu không thể thiếu được. Ở
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Hoạt động kiểm toán nói chung
cũng như hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng còn khá mới mẻ ở nước ta.
Song cùng với xu thế toàn cầu hóa các hoạt động thương mại và sự quan tâm
của Nhà nước, Việt Nam đã và đang không ngừng nâng cao cả về số lượng cũng
như chất lượng hoạt động kiểm toán. Đưa ngành kiểm toán nước nhà phát triển
toàn diện, ngang tầm với kiểm toán quốc tế. Và điều đó cũng hứa hẹn những
bước tiến cho kiểm toán độc lập Việt Nam. Số lượng các công ty dung cấp dịch
vụ kiểm toán cũng vì vậy ngày cành tăng lên, lớn có, bé có, công ty trực thuộc
các hãng nổi tiếng có, mà các công ty được thành lập ở ngưỡng vừa đủ những
điều kiện quy định của pháp luật có. Và một câu hỏi đặt ra là liệu việc tổ chức bộ
máy kiểm toán tại các công ty này đã phù hợp chưa và có đảm bảo chất lượng
cho các cuộc kiểm toán mà họ thực hiện không?
Bộ máy kiểm toán gồm cả con người và phương tiện chứa đựng các
yếu tố của kiểm toán để thực hiện chức năng kiểm toán. Tổ chức bộ máy kiểm
toán với những mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động linh hoạt nhằm thích
ứng với đặc điểm của đối tượng và khách thể kiểm toán trong các cuộc kiểm

điều tra, phân tích, thống kê, logic, khái quát hóa, hệ thống hóa, mô hình
hóa,...
5. Nội dung và kết cấu của đề tài
3
Ngoài lời mở đầu, mục lục và kết luận đề tài được kết cấu thành 3
chương:
CHƯƠNG I : Khái quát chung về tổ chức bộ máy kiểm toán độc
lập và tác động của nó đến chất lượng hoạt động kiểm toán.
CHƯƠNG II : Tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập trong nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam.
CHƯƠNG III : Phương hướng hoàn thiện tổ chức bộ máy kiểm
toán nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán trong các công ty
kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, chúng em đã nhận được
sự giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của các thầy, các cô, của gia đình
và bạn bè… Trước hết chúng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
khoa kế toán trường Đại học Kinh Tế Quốc dân về sự giảng dạy tận tình trong
thời gian vừa qua, những kiến thức mà các thầy các cô truyền đạt là nền tảng
để chúng em có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này. Và chúng em
cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới cô giáo Th.s Tạ Thu Trang – người đã theo
sát, hướng dẫn và chỉ bảo chúng em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do một số hạn chế về thông tin và
kiến thức nên bài viết không tránh khỏi những khiếm khuyết, chúng em rất
mong nhận được sự góp ý của các thấy cô để bài viết thêm hoàn thiện.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
4
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM
TOÁN ĐỘC LẬP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM
TOÁN ĐỘC LẬP ĐẾN CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
I. Khái quát chung về tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập và tác

cũng như chất lượng hoạt động của bộ máy kiểm toán được quyết định bởi số
lượng và chất lượng đội ngũ kiểm toán viên, đó là nguyên lý chung cho việc
tổ chức mọi hoạt động bộ máy. Hơn nữa, hoạt động kiểm toán lại có chức
năng đặc biệt nên đòi hỏi cao với kiểm toán viên cả về chuyên môn lẫn phẩm
chất đạo đức. Vì vậy, dù ở bất cứ đâu trong phạm vi quốc gia hay quốc tế, bất
cứ khi nào dù khi mới xây dựng hay đang trên đường phát triển, các tổ chức
kiểm toán đều coi trọng việc xây dựng đội ngũ kiểm toán viên.
Kiểm toán viên bao gồm nhiều loại hình với những bộ máy tổ chức cụ
thể cũng có những điểm khác nhau về nội dung phương pháp cụ thể và từ đó
cả về tổ chức kiểm toán. Vì vậy, xây dựng đội ngũ kiểm toán viên cũng đòi
hỏi những yêu cầu cụ thể riêng biệt thích ứng với từng loại hình, từng bộ máy
kiểm toán.
Ngoài xây dựng loại hình bộ máy tổ chức, việc phân công công việc
tương ứng với trách nhiệm đối với mỗi kiểm toán viên cũng là yếu tố quan
trọng để đảm bảo chất lượng kiểm toán trong một cuộc kiểm toán. Sau đây là
bảng mô tả cấp độ của nhân viên kiểm toán tương ứng với kinh nghiệm mà
mỗi KTV có được :
6
Cấp độ Số năm kinh nghiệm
Trợ lý kiểm toán (Staff assistant) 0 – 2 năm
Trưởng phòng kiểm toán (Senior) 2 – 5 năm
Chủ nhiệm kiểm toán (Manager) 5 – 10 năm
Giám đốc kiểm toán (Partner) Trên 10 năm
Tất nhiên, gắn với đội ngũ kiểm toán viên là trang thiết bị cụ thể cho
kiểm toán đó là những máy móc, thiết bị, phương tiện thích ứng với kỹ thuật
kiểm toán ( cả phần cứng và phần mềm nếu có ) và hình thành cơ chế hoạt
động thống nhất đang thực hiện chức năng kiểm toán.
1.2.2. Hệ thống bộ máy kiểm toán phải bao gồm các phân hệ chứa đựng
các mối liên hệ trong – ngoài khác nhau phù hợp với nguyên tắc chung của lý
thuyết tổ chức và phù hợp với quy luật của phép biện chứng về liên hệ

kiểm toán về những đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý.
Chất lượng dịch vụ kiểm toán trước hết được đặt trên nền tảng của mục
tiêu kiểm toán. Cuộc kiểm toán tiến hành nhằm mục đích gì, có phải nó đi sâu
vào kiểm tra, phân tích để đánh giá khách quan chất lượng các thông tin được
kiểm toán để cung cấp những thông tin đã được kiểm chứng, đáng tin cậy hay
không, hay chỉ nhằm “hợp lý hoá”, “thủ tục hoá” những thông tin lẽ ra phải
được nhìn nhận là còn khiếm khuyết, có sai sót, thậm chí có gian lận và
không đáng tin cậy. Như vậy, chất lượng dịch vụ kiểm toán phải có cái nền là
sự vô tư, khách quan, trung thực, có chính kiến và mục tiêu rõ ràng của Kiểm
toán viên.
Chất lượng dịch vụ kiểm toán phải phản ánh tính độc lập, khách quan
của chủ thể kiểm toán. Kết luận kiểm toán thể hiện tư cách, tư thế, quan điểm
8
và cái nhìn độc lập của chủ thể kiểm toán. Tính độc lập đó không thể bị xâm
hại một cách vô nguyên tắc và phi chuẩn mực, thậm chí phi pháp. Không thể
cho định kiến, thành kiến, sự “chỉ đạo” thiếu khách quan hoặc vụ lợi chi phối
cuộc kiểm toán cũng như chi phối các đánh giá, quyết định, kết luận kiểm
toán. Tính độc lập là nội hàm cơ bản nhất, có tính sống còn của một kết luận
kiểm toán có chất lượng. Nhờ đó mà người sử dụng có thể an tâm rằng mình
đã không bị nhà kiểm toán chi phối, và bị thiên lệch theo.
Chất lượng dịch vụ kiểm toán thể hiện chủ thể kiểm toán tuân thủ pháp
luật, nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán. Điều này đảm bảo cho sự công bằng,
sự chuẩn tắc và đáng tin cậy, vì thước đo chuẩn mực đã được pháp luật và cả
thế giới cộng đồng kiểm toán thừa nhận. Ưu thế này làm cho người soát xét
chất lượng dịch vụ kiểm toán từ mọi góc nhìn đều có thể và phải thừa nhận vì
chủ thể đã sử dụng “thước đo chung về chất lượng” để thẩm định, đánh giá và
kết luận.
Chất lượng dịch vụ kiểm toán thể hiện mức độ thành thạo, chuyên
nghiệp của đội ngũ kiểm toán viên khi họ nắm bắt và sử dụng thành thạo các

- Thực tế hiện nay mô hình này được phát triển rất phổ biến ở Cộng hòa
Pháp (2500 văn phòng) và các nước Tây Âu. Ở Mỹ cũng có 95% công ty nhỏ từ
1 – 25 người, ở Trung Quốc có tới 600 văn phòng kiểm toán nhỏ (3 – 5 người ).
- Đặc điểm của mô hình :
 Ưu điểm : Phát huy tính năng động cao của bộ máy kiểm toán, thích
ứng tốt với nhu cầu kiểm toán và tư vấn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
cũng như nhu cầu đại lý thuế (thu nhập) cho nhà nước .
 Nhược điểm : Các văn phòng này chỉ thực hiện giới hạn các dịch vụ và
sức cạnh tranh của mỗi tổ chức kiểm toán cũng hạn chế. Sự hợp tác bồi dưỡng
kinh nghiệm của các kiểm toán viên do đó cũng bị bó hẹp. Vì vậy để thành lập
văn phòng kiểm toán độc lập, kiểm toán viên phải có năng lực toàn diện và trình
10
độ chuyên môn vững; hoạt động của hiệp hội kiểm toán viên độc lập cũng phải
tăng lên khi số lượng văn phòng và các công ty kiểm toán nhỏ nhiều .
2. Công ty kiểm toán (qui mô lớn) :
- Mô hình chung: Công ty kiểm toán là bộ máy tổ chức kiểm toán độc
lập với số lượng lớn các kiểm toán viên độc lập . Đây chủ yếu là các công ty
quốc gia hoặc quốc tế.
- Phương thức hoạt động : Các công ty kiểm toán loại này thực hiện
nhiều loại dịch vụ trên địa bàn rộng lớn do đó chúng được tổ chức theo loại
hình phân tán và điều hành phương thức chức năng hoặc kết hợp .
- Mô hình cụ thể : Mỗi công ty thường có nhiều văn phòng bố trí ở
nhiều vùng trong trong nước (công ty quốc gia) hoặc nhiều văn phòng ở các
nước khác nhau (công ty quốc tế). Và đặc điểm nổi bật của mô hình này và
từng văn phòng cụ thể có quyền tự chủ như một công ty con và có thể được
hạch toán độc lập . Mỗi văn phòng riêng hoặc văn phòng khu vực này cũng
kinh doanh nhiều loại dịch vụ và có thể được tổ chức thành các bộ phận chức
năng riêng biệt .
- Đặc điểm của mô hình này :
 Ưu điểm : Tiềm năng của mỗi công ty là rất lớn, có khả năng cung

trong cùng mạng lưới.
3.1.2. Mô hình Hiệp hội các công ty uy tín (Associations)
- Định nghĩa :
Mô hình Hiệp hội các công ty uy tín là rất phổ biến trong các hãng
kiểm toán quốc tế. Đây là các công ty kiểm toán có uy tín tại các quốc gia
khác nhau tập hợp nhau lại và hoạt động dưới một tên chung.
Đại diện cho mô hình này có thể kể đến Moore Stephens International,
Kreston International, Integra International, IAPA, MGI, IGAF Worldwide,
hay AGN International…
- Đặc điểm của mô hình :
Dưới dạng một hiệp hội, các hãng thành viên chịu trách nhiệm đảm bảo
chất lượng dịch vụ đạt theo chuẩn của Hãng quốc tế và phát triển và giữ uy tín
12
của hãng. Các hãng thành viên cũng có sự gắn kết chặt chẽ với nhau và được
sự hỗ trợ đáng kể từ hãng quốc tế thông qua các chương trình đào tạo chung
thường niên, hội nghị toàn cầu hay hội nghị vùng, cũng như thông qua việc
trao đổi nhân viên giữa các hãng. Thông thường các hãng thành viên vẫn giữ
nguyên tên cũ của mình và quảng bá hình ảnh với tư cách là thành viên của
hãng quốc tế. Tuy nhiên, cũng có một số hãng như MGI khuyến khích các
hãng thành viên gắn tên MGI với tên hiện tại của hãng thành viên.
Lợi thế của mô hình này là hãng thành viên vẫn hoạt động độc lập và ít
chịu sự ảnh hưởng từ rủi ro hay sự sụp đổ của các hãng thành viên khác, cho
dù uy tín ít nhiều cũng bị ảnh hưởng. Hãng thành viên vẫn được sử dụng logo
và hình ảnh của hãng quốc tế khi quảng bá hình ảnh của mình với tư cách là
thành viên chính thức, và cung cấp dịch vụ toàn cầu thông qua các hãng thành
viên khác.
- Phân loại mô hình hiệp hội các công ty uy tín :
Mô hình Hiệp hội có thể phân chia thành hai loại:
Thứ nhất, hãng quốc tế dưới dạng hiệp hội do một hãng kiểm toán lớn
đứng ra thành lập. Ví dụ Moore Stephens International là do hãng Moore

Mô hình
Hiệp hội
Mô hình
Liên kết
Được phép dùng tên hãng quốc tế Có Có thể nhưng
hạn chế
Không
Được phép sử dụng logo và hình
ảnh của hãng quốc tế
Có Có Có
Mối liên hệ giữa các hãng thành
viên
Rất chặt chẽ Chặt chẽ Vừa phải
Dựa vào bảng so sánh trên ta có thể thấy được sự chặt chẽ và mối liên
hệ của mỗi mô hình. Tuy nhiên công ty mạng
3.3. Cấp độ thành viên của hãng kiểm toán quốc tế
Mỗi hãng kiểm toán quốc tế có chính sách thành viên khác nhau.
Nhưng thông thường có thể chia ra làm ba cấp độ: Hãng thành viên (Member
firm), Hãng liên kết (Associate firm) và Hãng đại diện liên lạc
(Correspondent firm).
Theo công bố trên website của Praxity, một hãng hoạt động theo Mô
hình liên kết, các cấp độ trên được lựa chọn dựa trên các tiêu chí như:
• Điều kiện tài chính
• Chiến lược quốc tế
• Vùng địa lý
• Uy tín của hãng đăng ký
• Khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng
3.3.1. Hãng thành viên (Member firm)
Những hãng được công nhận là hãng thành viên của hãng kiểm toán
quốc tế có đầy đủ tất cả các quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia vào mạng

thì quyền đại diện của hãng đại diện liên lạc cũng bị xoá bỏ. Tuy nhiên, mức
phí thường niên của hãng đại diện liên lạc phải nộp cho RBI cũng rất thấp so
với phí của thành viên chính thức.
Như vậy dựa vào mô hình các hãng quốc tế đã nêu ở trên chúng ta có
thể so sánh được mức độ liên kết giữa các mô hình. Việc gia nhập làm thành
viên của các hãng quốc tế không những giúp công ty kiểm toán nâng cao
được uy tín trong nền kinh tế mà còn là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất
lượng kiểm toán của mỗi công ty bởi uy tín chất lượng không còn là của một
doanh nghiệp mà giờ đây nó còn là uy tín của toàn bộ hãng quốc tế đó. Do đó
đối với các doanh nghiệp kiểm toán trên thế giới, việc gia nhập làm thành
viên của hãng quốc tế là xu hướng và cũng là động lực để thúc đẩy sự phát
triển của doanh nghiệp kiểm toán đó. Vậy một câu hỏi đặt ra là Việt Nam đã
học được những gì trên thế giới. Việc áp dụng kinh nghiệm vào thực tiễn của
các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam ra sao, xu hướng phát triển các doanh
nghiệp kiểm toán Việt Nam là như thế nào?
17
CHƯƠNG II: TỔ CHỨC BỘ MÁY KIÊM TOÁN ĐỘC LẬP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
I. Sự tất yếu hình thành loại hình kiểm toán độc lập ở Việt Nam
1. Sự ra đời loại hình kiểm toán độc lập ở Việt Nam
1.1. Sự cần thiết của kiểm toán độc lập đối với nền kinh tế thị trường.
1.1.1. Một vài nét về hoạt động kiểm tra kế toán ở Việt Nam:
Trong thời kì bắt đầu xây dựng xã hội XHCN ở miền Bắc, năm 1957
lần đầu tiên nhà nước đã ban hành Chế độ sổ kế toán trên hệ thống các Lệnh
nhật ký, trong đó có gần 27 Lệnh nhật ký dùng cho các đơn vị kinh tế thuộc
sở hữu nhà nước. Trong mỗi Nhật ký đã kết hợp cả yêu cầu thông tin cho
quản lý và yêu cầu kiểm tra hoạt động tài chính. Đây là mốc đầu tiên thể hiện
mục tiêu thể chế, thực hiện sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa công tác kế toán,
kiểm tra của đất nước để phục vu cho yêu cầu quản lý của xí nghiệp và của
nhà nước.

các chế độ kế toán ngành hẹp khác... Nhìn chung chế độ kế toán đã đạt được
những giá trị có tầm quan trọng đặc biệt:
Một là, thể chế chế độ thông tin – kiểm tra bằng kế toán trong một cơ
chế thị trường, cho một cơ chế quản lý tài chính nhà nước, tài chính doanh
nghiệp mới.
Hai là, thể hiện sự phân biệt thông tin quản lý của kế toán với các loại
thông tin khác trong hệ thống thông tin.
Ba là, phục vụ cho sự quản lý thống nhật của nhà nước về các lĩnh vực
tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp trong cơ chế mới.
19
Bốn là, thể hiện sự thống nhất và tiêu chuẩn hoá cao về thông tin kế
toán, phần nào tiếp cận được ngôn ngữ thông tin kế toán quốc tế và những
chuẩn mực kế toán quốc tế.
Năm là, đứng trước những thay đổi có tính cách mạng trong cơ quản lý,
cơ chế kinh tế, sự thừa nhận một cách tất yếu khách quan nền sản xuất hàng
hóa, nền kinh tế thị trường và một kiểu quản lý tài chính thích hợp với nó.
Năm 1989, chế độ kế toán mới đã được ban hành thay thế cho chế độ kế toán
trước đây. Về mặt lịch sử, đó là sự phát triển và hoàn thiện cần thiết vừa có
tính kế thừa vừa mang tính cách mạng thực sự. Thực tế từ năm 1988 đến năm
1990, bộ tài chính kết hợp với một số ngành hữu quan đã lần lượt cải tiến và
ban hành một hệ thống các chế độ và văn bản pháp quy về kế toán mới theo
tinh thần kế thừa các chế độ kế toán trước đây và khắc phục những hạn chế có
tính lịch sử của chúng để phù hợp với tiến trình phát triển của kinh tế đất
nước.
Tuy nhiên chế độ kế toán mới ban hành 1989 vẫn còn khoảng cách khá
xa so với thông lệ quốc tế phổ biến của kế toán và có những đặc điểm cụ thể
chưa bắt nhịp đặc trưng của cơ chế thị trường. Do vậy từ năm 1994, Thủ
tướng Chính phủ đã chỉ thị và trực tiếp cải cách kế toán. Qua gần 2 năm
nghiên cứu soạn thảo và thử nghiệm, tháng 12/1995 hệ thống kế toán tài
chính doanh nghiệp chính thức được ban hành. Đặc trưng cơ bản của hệ thống

Luật pháp nhiều nước khảng định rằng, chỉ những báo cáo đã được xem
xét và có chữ ký của kiểm toán viên độc lập mới được coi là hợp pháp, làm cơ
sở cho Nhà nước tính thuế cũng như các bên quan tâm khác đưa ra các quyết
định kinh tế trong mối quan hệ với doanh nghiệp.
21
Ở nước ta, trong Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc
dân ban hành kèm theo Nghị định số 07/CP ngày 29/1/1994 của Chính phủ đã
chỉ rõ “Sau khi có xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thì các tài liệu,
số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị kế toán là căn cứ cho
việc điều hành, quản lý hoạt động ở đơn vị, cho các cơ quan quản lý cấp trên
và cơ quan tài chính nhà nước xét duyệt quyết toán hàng năm của các đơn vị
kế toán, cho cơ quan thuế tính toán số thuế và các khoản phải nộp khác của
đơn vị đối với ngân sách Nhà nước, cho các cổ đông, các nhà đầu tư, các bên
tham gia liên doanh, các khách hàng và các tổ chức, cá nhân xử lý các mối
quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình
hoạt động của đơn vị”.
Như vậy mục đích tổng quát của kiểm toán là cung cấp sự đảm bảo cho
bên thứ ba là những người sử dụng các thông tin tài chính rằng các thông tin
họ được cung cấp có trung thực, hợp lý hay không. Trong nền kinh tế thị
trường, có nhiều đối tượng khác nhau sử dụng kết quả kiểm toán với những
mục đích khác nhau. Đối với Ngân hàng, những đối tượng cho vay vốn, họ
cần biết rằng số vốn họ cho vay có được sử dụng đúng mục đích hay không,
tình hình tài chính của đơn vị có khả năng hoàn trả hay không. Đối với cơ
quan thuế, căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán để tính và thu
thuế, tương tự, đối với các cơ quan chức năng cũng căn cứ vào báo cáo tài
chính được kiểm toán để hoạch định chính sách cho phù hợp. Đối với doanh
nghiệp được kiểm toán mong muốn, thông qua kiểm toán, có được báo cáo tài
chính phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán hiện hành (hoặc được
chấp nhận), phát hiện và ngăn ngừa các sai sót và gian lận. Đối với chủ sở
hữu doanh nghiệp, các cổ đông họ cần biết một cách đầy đủ, đúng đắn về kết

23
ty quốc tế. Tuy nhiên vì công ty được thành lập theo luật đầu tư nước ngoài ở
Việt nam, thuộc hình thức công ty TNHH nên về tổ chức hành chính, ở các
công ty này vẫn có chức danh GĐvà là đại diện pháp lý của công ty về các
vấn đề hành chính trước các cơ quan chức năng cũng như trong các hoạt động
kinh tế.
Đối với các công ty TNHH trong nước, các công ty này đến nay qui mô
vẫn còn hạn chế và chưa hình thành hình thức tổ chức rõ nét. Do hình thức sở
hữu tư nhân, nên GĐ công ty là chủ sở hữu, người theo pháp luật phải có
chứng chỉ kiểm toán viên sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với mọi hoạt
động của công ty.
Qui mô của các công ty kiểm toán ở Việt nam có sự khác biệt khá rõ
nét. Nhìn chung các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước có qui mô
lớn hơn, có nhiều chi nhánh và văn phòng ở các thành phố lớn trong cả nước.
Trong khi đó các công ty TNHH có qui mô hạn chế nhất, chỉ có một văn
phòng chính nơi thành lập. Các công ty kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài
đều có văn phòng ở Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Vai trò của kiểm toán độc lập trong nền kinh tế thị trường
Trên thế giới hầu hết các nước đi theo kinh tế thị trường đều có hoạt
động kiểm toán độc lập. Trái lại ở các nước đi theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung đều không có kiểm toán, thậm chí không truyền bá kiến thức về kiểm
toán độc lập.
Thật vậy, ở nước ta có thể nói hoạt động kiểm toán được hình thành và
phát triển từ trước ngày giải phóng miền Nam. Sau thống nhất đất nước, với
cơ chế kế hoạch hoá tập trung, KTĐL không tồn tại nữa. Mãi cho đến khi
Đảng và Nhà nước ta chủ trương đa dạng hoá các loại hình sở hữu và đa
phương hoá các đầu tư đã đặt ra những đòi hỏi cấp thiết thì loại hình KTĐL
mới thực sự xuất hiện. Điều này cho thấy KTĐLcó vai trò to lớn trong nền
24
kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc mọi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status