89 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán dự phòng trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay - Pdf 21


1

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế, hệ
thống kế toán Việt Nam đã không ngừng được hoàn thiện và phát triển. Cùng
với sự phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam, vấn đề trích lập và hạch toán
dự phòng ngày càng hoàn thiện. Sau quyết đònh 1141TC/QĐ/CĐKT ngày
1/11/1995 của Bộ Tài chính ban hành hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp, lần
lượt các thông tư 64 TC/TCDN 15/9/1997, 107/ 2001/TT- BTC cũng được ban
hành nhằm hướng dẫn việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng
giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn, dự phòng nợ khó đòi và gần đây nhất Bộ
Tài Chính vừa ban hành thông tư 13/2006/TT-BTC ngày 27/2/2006 hướng dẫn
chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng, trong đó có bổ sung thêm về dự
phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá và công trình xây lắp. Tuy nhiên, so với
Chuẩn mực quốc tế về kế toán cũng như qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số
quốc gia phát triển như Mỹ, Pháp, các quy đònh và hướng dẫn liên quan đến việc
trích lập và hạch toán dự phòng trong kế toán của Việt Nam vẫn còn nhiều bất
cập. Vì vậy, việc hoàn thiện hạch toán dự phòng trong kế toán Việt Nam là một
trong những vấn đề cấp bách hiện nay nhằm giúp cho Việt Nam sớm hội nhập
vào nền kinh tế thế giới, hệ thống kế toán Việt Nam được quốc tế thừa nhận,
báo cáo tài chính trình bày trung thực và hợp lý.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Qua phân tích những nội dung chuẩn mực quốc tế về kế toán có liên quan
đến vấn đề trích lập dự phòng trong kế toán cùng với việc tham khảo những kinh
nghiệm về phương pháp trích lập dự phòng của các nước, đối chiếu với những

2

thực trạng ở Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện về việc trích

Theo Ủy ban thuật ngữ của Hội đồng quốc gia về kế toán của Pháp, dự
phòng được đònh nghóa như sau: “Dự phòng là việc xác nhận về phương diện kế
toán, sự giảm giá trò của một tài sản hay sự gia tăng công nợ, xác thực về bản
chất nhưng mang tính ước tính về mặt giá trò. Việc thiết lập dự phòng thường dựa
trên bằng chứng xác thực xảy ra xung quanh thời điểm khoá sổ kế toán.
Như vậy có thể nói , đặc điểm chủ yếu của dự phòng là một ước tính của
kế toán, nó vừa mang tính chất dự đoán, vừa mang tính chất tạm thời.
Việc lập dự phòng là do nguyên tắc thận trọng trong kế toán, khi có
những vấn đề chưa rõ ràng, cần phải xét đoán thận trọng để không làm cho tài
sản và thu nhập bò thổi phồng, cũng như nợ phải trả và chi phí bò giấu bớt.
1.1.2. CÁC LOẠI DỰ PHÒNG TRONG KẾ TOÁN:
Nhằm cung cấp hình ảnh trung thực về tình hình tài chính cũng như kết
quả hoạt động kinh doanh, tuân thủ nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc phù hợp,
vào cuối niên độ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính, kế toán thường lập các
loại dự phòng: Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn, dự phòng giảm giá đầu tư
dài hạn, dự phòng nợ khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ
phải trả.
1.1.2.1. Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn:
Loại dự phòng này nhằm phản ánh một bộ phận giá trò dự tính bò giảm
giá của các chứng khoán đầu tư ngắn hạn và dài hạn. Lập dự phòng nhằm ghi

4

nhận các khoản lỗ có thể phát sinh nhưng chưa chắc chắn và đồng thời nhằm
phản ánh giá trò thuần có thể thực hiện của chứng khoán.
Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn được ghi vào cuối niên độ
kế toán trước khi lập báo cáo tài chính, nếu có những bằng chứng tin cậy về sự
giảm giá thường xuyên của các chứng khoán đầu tư ngắn hạn và dài hạn.
1.1.2.2. Dự phòng nợ khó đòi:
Loại dự phòng này nhằm phản ánh số tiền có khả năng không thu hồi

nghiệp.
Các khoản dự phòng thường gặp bao gồm dự phòng bảo hành sản phẩm,
dự phòng hợp đồng rủi ro lớn, dự phòng tái cơ cấu doanh nghiệp.
1.2. KẾ TOÁN DỰ PHÒNG THEO CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ KẾ
TOÁN:
Tính đến nay, y ban chuẩn mực kế toán quốc tế IASB đã ban hành được
41 chuẩn mực áp dụng cho báo cáo tài chính của mọi loại hình doanh nghiệp
(phụ lục 1 trình bày danh sách 41 chuẩn mực kế toán quốc tế đã được ban hành).
Các chuẩn mực kế toán có liên quan đến việc lập dự phòng theo hệ thống
chuẩn mực kế toán quốc tế có thể kể ra bao gồm:
1.2.1. CHUẨN MỰC CHUNG:
Chuẩn mực trình bày những vấn đề chung nhất có ảnh hưởng đến phương
pháp lập và hạch toán dự phòng là chuẩn mực chung.
Một số nội dung liên quan đến việc lập dự phòng là:
1.2.1.1. Các giả đònh kế toán ảnh hưởng đến việc lập dự phòng:
Theo khuôn mẫu của Ủy Ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế, báo cáo tài
chính được lập trên các giả đònh:
1.2.1.1.1. Giả đònh hoạt động liên tục:

6

Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả đònh là doanh nghiệp đang
hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh trong tương lai có thể
thấy được, nghóa là doanh nghiệp không có ý đònh cũng như không buộc phải
ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình. Trường
hợp thực tế khác với giả đònh hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập
trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.
Như vậy, theo giả đònh này, đơn vò sẽ tiếp tục hoạt động hoạt động trong
thời gian có thể thấy được do vậy, các tài sản của đơn vò không cần thiết phải
đánh giá theo giá thò trường mà ghi nhận theo giá gốc (nếu giá thò trường thấp

Tài sản được ghi nhận khi chắc chắn mang lại lợi ích kinh tế trong tương
lai và giá trò của tài sản đó được xác đònh một cách đáng tin cậy.
- Thu nhập:
Là sự gia tăng về lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các
khoản tiền thu vào hoặc gia tăng tài sản hoặc giảm bớt công nợ dẫn đến việc gia
tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phải do cổ đông đóng góp.
Chỉ được ghi nhận thu nhập khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu
được lợi ích kinh tế.
1.2.2. CHUẨN MỰC CỤ THỂ:
Do dự phòng bao gồm nhiều loại có nội dung và tính chất khác nhau, vì
vậy trong hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế, không có chuẩn mực kế toán
riêng trình bày về dự phòng. Mỗi loại dự phòng được trình bày trong các chuẩn
mực kế toán có liên quan đến khoản mục cần lập dự phòng, mà cụ thể là:
1.2.2.1. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho :
Chuẩn mực kế toán giải quyết các nội dung liên quan đến dự phòng giảm
giá hàng tồn kho là chuẩn mực IAS 02.

8

Đoạn 6, chuẩn mực IAS 02, yêu cầu: giá trò hàng tồn kho trình bày trên
báo cáo tài chính được tính theo giá trò thấp hơn giữa giá gốc và giá trò thuần có
thể thực hiện được. Mục đích của yêu cầu này là nhằm tuân thủ nguyên tắc thận
trọng trong kế toán. Giá trò hàng tồn kho trình bày trên báo cáo không thể cao
hơn giá trò có thể thu hồi từ việc bán tài sản này.
Đoạn 25 đến 30, chuẩn mực IAS 02 đề cập đến lập dự phòng như sau:
25.Giá trò hàng tồn kho không thu hồi đủ khi hàng tồn kho bò hư hỏng, lỗi thời,
giá bán bò giảm, hoặc chi phí hoàn thiện, chí phí để bán hàng tăng lên. Việc ghi
giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng với giá trò thuần có thể thực hiện được là
phù hợp với nguyên tắc tài sản không được phản ánh lớn hơn giá trò thực hiện
ước tính có thể thực hiện được từ việc bán hay sử dụng chúng.

chúng góp phần cấu tạo nên sẽ được bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất
của sản phẩm. Khi có sự giảm giá của nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ
mà giá thành sản xuất sản phẩm cao hơn giá trò thuần có thể thực hiện được, thì
nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho được đánh giá giảm xuống bằng
với giá trò thuần có thể thực hiện được của chúng. Trong trường hợp này, giá
thay thế là phương pháp xác đònh đáng tin cậy. 30. Cuối kỳ kế toán năm tiếp
theo phải thực hiện đánh giá mới về giá trò thuần có thể thực hiện được của hàng
tồn kho cuối năm đó. Trường hợp cuối kỳ kế toán năm nay, nếu khoản dự phòng
giảm giá hàng tồn kho phải lập thấp hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho
đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn
nhập (Theo quy đònh ở đoạn 24) để đảm bảo cho giá trò của hàng tồn kho phản
ánh trên báo cáo tài chính là theo giá gốc (nếu giá gốc nhỏ hơn giá trò thuần có
thể thực hiện được) hoặc theo giá trò thuần có thể thực hiện được (nếu giá gốc
lớn hơn giá trò thuần có thể thực hiện được).

10

1.2.2.2. Dự phòng nợ phải thu khó đòi:
Dự phòng nợ phải thu khó đòi là khoản phát sinh từ các khoản phải thu
thương mãi, đó là số tiền mà khách hàng còn nợ doanh nghiệp do việc bán hàng
hóa hay cung cấp dòch vụ cũng như các loại nợ phải thu khác như thương phiếu
phải thu, các công cụ tài chính.
Chuẩn mực kế toán quốc tế có liên quan để giải quyết vấn đề này là
chuẩn mực IAS 39. Đoạn 75 của IAS 39 cho rằng: vào cuối thời khóa, khoản cho
vay và phải thu được đánh giá theo giá gốc có chiết khấu (Amortised cost). Giá
gốc có chiết khấu được tính theo giá gốc trừ các khoản dự phòng về nợ không
thu hồi được.
Về phương pháp ước tính và ghi nhận nợ phải thu khó đòi, trong chuẩn
mực kế toán quốc tế không có hướng dẫn riêng. Tuy vậy, trong thực tế kế toán
của các quốc gia, thông thường, người ta có thể sử dụng 2 phương pháp:

a) Các khoản dự phòng là các khoản đã được ghi nhận là các khoản nợ phải trả
(giả đònh đưa ra một ước tính đáng tin cậy) vì nó là các nghóa vụ về nợ phải trả
hiện tại và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán các nghóa
vụ về khoản nợ phải trả đó; và
b) Các khoản nợ tiềm tàng là các khoản không được ghi nhận là các khoản nợ
phải trả thông thường, vì: Các khoản nợ phải trả thường xảy ra, còn khoản nợ
tiềm tàng thì chưa chắc chắn xảy ra.
9 Tiêu chuẩn ghi nhận:
Một khoản dự phòng chỉ được ghi nhận khi thoả mãn các điều kiện sau:
a) Doanh nghiệp có nghóa vụ nợ hiện tại (nghóa vụ pháp lý hoặc nghóa vụ liên
đới) do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra;

12

b) Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải
thanh toán nghóa vụ nợ; và
c) Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trò của nghóa vụ nợ đó.
9 Chuẩn mực lưu ý rằng:
- Rất ít trường hợp không thể chắc chắn rằng liệu doanh nghiệp có nghóa vụ nợ
hay không. Trong trường hợp này một sự kiện đã xảy ra được xem là phát sinh ra
nghóa vụ nợ khi xem xét tất cả các chứng cứ đã có chắc chắn xác đònh được
nghóa vụ nợ tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
- Trong hầu hết các trường hợp đều có thể xác đònh rõ được rằng một sự kiện đã
xảy ra có phát sinh một nghóa vụ nợ hay không. Một số ít trường hợp không chắc
chắn được rằng một số sự kiện xảy ra có dẫn đến một nghóa vụ nợ hay không. Ví
dụ: Trong một vụ xét xử, có thể gây ra tranh luận để xác đònh rằng những sự
kiện cụ thể đã xảy ra hay chưa và có dẫn đến một nghóa vụ nợ hay không.
Trường hợp như thế, doanh nghiệp phải xác đònh xem liệu có tồn tại nghóa vụ nợ
tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm hay không thông qua việc xem xét tất cả các
chứng cứ đã có, bao gồm cả ý kiến của các chuyên gia. Chứng cứ đưa ra xem xét

nhiên, nguyên nhân gây ra thiệt hại sẽ trở thành một sự kiện hiện tại khi có một
qui đònh mới yêu cầu các thiệt hại hiện tại phải được điều chỉnh hoặc khi doanh
nghiệp công khai thừa nhận nghóa vụ của mình trong việc xử lý các thiệt hại đó
như là nghóa vụ nợ liên đới.
+ Ước tính dự phòng nợ phải trả:
Cách ước tính về kết quả và ảnh hưởng tài chính đều được xác đònh thông
qua đánh giá của Ban giám đốc doanh nghiệp, được bổ sung thông qua kinh
nghiệm từ các hoạt động tương tự và các bản báo cáo của các chuyên gia độc

14

lập. Các căn cứ có thể dựa trên bao gồm cả các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc
kỳ kế toán năm.
Có nhiều phương pháp đánh giá để ghi nhận giá trò các khoản mục không
chắc chắn là một khoản dự phòng. Khi các khoản dự phòng được đánh giá là có
liên quan đến nhiều khoản mục, thì nghóa vụ nợ sẽ được tính theo tất cả các kết
quả có thể thu được với các xác suất có thể xảy ra (phương pháp giá trò ước tính).
Do đó, khoản dự phòng sẽ phụ thuộc vào xác suất phát sinh khoản lỗ đã ước tính
là bao nhiêu, ví dụ: 60% hay 90%. Nếu các kết quả ước tính đều tương đương
nhau và liên tục trong một giới hạn nhất đònh và mỗi điểm ở trong giới hạn đó
đều có khả năng xảy ra như nhau thì sẽ chọn điểm ở giữa trong giới hạn đó.
Khi đánh giá từng nghóa vụ một cách riêng rẽ, mỗi kết quả có nhiều khả
năng xảy ra nhất sẽ là giá trò nợ phải trả ước tính hợp lý nhất. Tuy nhiên, thậm
chí trong trường hợp như thế, doanh nghiệp cũng cần phải xét đến các kết quả
khác nữa. Khi các kết quả khác hoặc là hầu hết lớn hơn hoặc là hầu hết nhỏ hơn
kết quả có nhiều khả năng xảy ra nhất, thì giá trò ước tính đáng tin cậy nhất sẽ là
giá trò cao hơn hoặc thấp hơn đó. Ví dụ, doanh nghiệp buộc phải sửa chữa một
hỏng hóc nghiêm trọng trong một thiết bò lớn đã bán cho khách hàng, và kết quả
có khả năng xảy ra nhất là sẽ tốn 1 triệu đồng để sửa chữa thành công lần đầu,
nhưng nếu có khả năng phải sửa chữa các lần tiếp theo thì phải đưa ra một

- Sự kiện làm ô nhiễm đất - Có quy đònh luật pháp có liên quan.
- Sự kiện làm ô nhiễm đất - không có quy đònh luật pháp nhưng có nghóa vụ xác
thực.
- Lọc dầu.
- Chính sách bán hàng cho trả lại hàng.
- Thanh lý một chi nhánh, chưa công bố thông tin trước ngày lập BCTC.

16

- Thanh lý một chi nhánh, đã công bố thông tin và thựïc hiện trước ngày khoá sổ.
- Yêu cầu luật pháp về lọc khói.
- Huấn luyện lại nhân viên do thay đổi chính sách thuế.
- Hợp đồng phức tạp.
- Bảo lãnh.
- Trường hợp liên quan luật pháp.
- Chi phí sửa chữa, bảo trì – không có yêu cầu về luật pháp.
- Chi phí tân trang – theo yêu cầu luật pháp.
1.2.2.4. Dự phòng giảm giá các khoản đầu tư:
Trong nền kinh tế thò trường, để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp, khi có
vốn nhàn rỗi, doanh nghiệp có thể đầu tư vào thò trường tài chính. Có nhiều loại
đầu tư tài chính, mỗi loại có đặc điểm, phương pháp hạch toán, phương pháp
đánh giá khác nhau. Hình thức đầu tư căn bản nhất là đầu tư chứng khoán,
thường bao gồm đầu tư dài hạn và đầu tư ngắn hạn.
Các chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan đến dự phòng các khoản đầu tư
bao gồm:
1. IAS 25 - Kế toán về các khoản đầu tư
Chuẩn mực đề cập tổng quát nhất về loại đầu tư này là chuẩn mực IAS 25
được ban hành vào năm 1985. IAS 25 cho rằng có 2 loại đầu tư: ngắn hạn và dài
hạn.
Theo IAS 25, khoản đầu tư được đánh giá ban đầu theo giá gốc. Vào cuối

chính, trong đó chỉ tập trung chính vào việc trình bày và khai báo. Đến tháng
12.1998, IASC ban hành tiếp IAS 39, công cụ tài chính: ghi nhận và đánh giá, đi
cùng với một số thay đổi liên quan chuẩn mực IAS 32.
 Các nội dung khác biệt giữa IAS 39 và IAS 25

18

1. Phân loại đầu tư tài chính:
Theo IAS 39, các khoản đầu tư tài chính được phân loại thành các nhóm
sau:
Bảng 1.1- Phân loại các khoản đầu tư tài chính
Khoản đầu tư nắm giữ
để kinh doanh
Là một phần của danh mục đầu tư nhằm mục
đích thu lợi nhuận dựa trên biến động giá.
Các khoản đầu tư giữ
cho đến ngày đáo hạn
- Khoản đầu tư với khoản chi trả và ngày đáo hạn
xác đònh trước và cố đònh, và
- Doanh nghiệp có ý đònh rõ ràng và có khả năng
giữ các khoản đầu tư đến ngày đáo hạn.
Các khoản đầu tư sẵn
sàng để bán
Là các khoản đầu tư doanh nghiệp sẵn sàng bán khi
có lời.
Như vậy, theo IAS 39, các khoản đầu tư không chia thành ngắn hạn và
dài hạn mà chia thành 3 nhóm: Nắm giữ để bán, sẵn sàng bán, và giữ cho đến
ngày đáo hạn.
2. Đánh giá vào cuối thời khóa:
Vào cuối thời khoá, các khoản đầu tư được đánh giá như sau:

Hình 1.2- Các loại dự phòng theo kế toán Pháp  Loại 1: Dự phòng giảm giá tài sản
Là sự ghi nhận việc giảm giá các tài sản do từ nguyên nhân không thể
tránh khỏi. Các loại dự phòng giảm giá thường bao gồm:
- Dự phòng giảm giá tài sản cố đònh (áp dụng đối với tài sản cố đònh không tính
khấu hao bò giảm giá).
- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
- Dự phòng giảm giá chứng khoán.
- Dự phòng nợ khó đòi.
 Loại 2: Dự phòng rủi ro và chi phí
 Loại 3: Dự phòng theo luật đònh - Đây là loại dự phòng không nhằm mục
đích thông thường mà chỉ sử dụng để ghi nhận các quy đònh theo luật pháp đặc
biệt là luật thuế. Khoản dự phòng theo luật đònh mà doanh nghiệp vận dụng
nguồn tài chính cho phép tạo nên khoản dự trữ.
Dự phòng
Dự phòng giảm giá Dự phòng rủi ro và
chi phí
Dự phòng theo luật
đònh
Giảm giá tài sản Dự phòng nợ phải
trả

20

1.3.2. KẾ TOÁN DỰ PHÒNG:
1.3.2.1. Kế toán dự phòng giảm giá các tài sản cố đònh không khấu hao:
Theo tổng hoạch đồ kế toán Pháp ban hành vào năm 1982, có nhiều loại
tài sản cố đònh không yêu cầu phải tính khấu hao. Đây là những tài sản cố đònh

: Cuối niên độ, trước khi lập báo cáo tài chính kế toán tiến hành kiểm kê
thấy có một lô hàng A trò giá 30.000.000 EUR, do biến động giá cả trên thò
trường, trong năm tới doanh nghiệp phải bán lỗ, và mức ước tính lỗ 30%. Ngoài
ra còn có một số bao bì tồn kho trò giá 2.000.000 EUR cũng bò giảm giá 40%. Để
bù đắp cho các khoản lỗ này kế toán lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Bút toán ghi sổ:
Ghi Nợ TK “Niên khoản khấu hao và dự phòng giảm giá các TSLĐ” 9.800.000
Ghi Có TK “Dự phòng giảm giá hàng hoá” 9.000.000
Ghi Có TK “Dự phòng giảm giá vật liệu bao bì” 800.000
1.3.2.3. Kế toán dự phòng giảm giá chứng khoán:
Trong kế toán Pháp, các khoản đầu tư có thể chia thành 3 loại:
- Chứng khoán dự phần.
- Chứng khoán bất động hoá.
- Chứng khoán động sản đặt lời.
 Chứng khoán dự phần là các loại chứng khoán mà người đầu tư có thể dự
phần việc quản trò của công ty được đầu tư. Đây là loại chứng khoán thoả mãn
một trong hai đặc điểm sau:
 Công ty đầu tư nắm giữ ít nhất 10% vốn công ty được đầu tư.
 Khoản đầu tư phải có giá trò lớn hơn hay bằng 40.000.000 EUR
Vào cuối thời khoá, cần so sánh giữa giá mua chứng khoán với thò giá của
chứng khoán. Theo tổng hoạch đồ kế toán Pháp, dù chứng khoán này có niêm
yết hay không, thò giá của chứng khoán là giá mà một người thận trọng, có đầy

22

đủ thông tin, chấp nhận trả để mua. Thò giá phụ thuộc vào tính hữu lợi của chứng
khoán.
Trong thực tế để xác đònh thò giá, người ta thường dựa vào:
 Giá thò trường chứng khoán.
 Tính hữu lợi và triển vọng của chứng khoán.

- Chứng khoán dự phần: (40 x 100.000) - (40 x 90.000) = 400.000 EUR
- Chứng khoán đặt lãi: (20 x 500.000) - (20 x 450.000) = 1.000.000 EUR
Ghi sổ kế toán:
Ghi Nợ TK “Niên khoản dự phòng giảm giá các yếu tố tài chính” 1.400.000
Ghi Có TK “Dự phòng giảm giá chứng khoán dự phần” 400.000
Ghi Có TK “Dự phòng giảm giá chứng khoán đặt lãi” 1.000.000

1.3.2.4. Kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi:
Để xác đònh mức dự phòng cần lập, vào cuối năm tài chính, luật sư tư vấn
pháp lý hay bộ phậân theo dõi công nợ sẽ thu thập thông tin về các khách hàng.
Họ phải xác đònh các khách hàng mà gây ra nghi ngờ về khả năng thanh toán.
Đó là khách hàng có rủi ro như: bò tai nạn, bò thua lỗ, bò phá sản, chết vv… Các
khách hàng này có thể không có khả năng trả được nợï. Nhằm bù đắp cho khoản
không thể thu hồi, kế toán tiến hành lập dự phòng. Để ước tính mức dự phòng
cần lập, vào cuối thời khoá, cần phân loại các khách hàng.
Có 3 nhóm khách hàng:
- Khách hàng bình thường.
- Khách hàng không trả được nợ.
- Khách hàng nghi ngờ.
Kế toán chỉ tiến hành lập dự phòng trên khách hàng nghi ngờ.

24

 Đối với với khách hàng phá sản hay bò rủi ro nghiêm trọng, doanh nghiệp dự
kiến có thể bò mất hết khoản nợ này. Khoản nợ sẽ được ghi nhận vào tài khoản
“Nợ không đòi được”.
Ví dụ
: Khách hàng X nợ của doanh nghiệp 250.000 EUR bò chết, khoản phải thu
này xem như mất hết và được xử lý bằng cách ghi giảm toàn bộ số tiền khách
hàng X nợ trên tài khoản phải thu khách hàng, đồng thời ghi tăng TK “Nợ không

- Nếu thu được 200.000 EUR tức là có lãi vì số nợ còn lại nhỏ hơn số tiền hoàn
nhập dự phòng.
Ghi Nợ TK “Tiền mặt (TGNH)” 200.000
Ghi Nợ TK “Nợ không đòi được thuộc năm trước” 100.000
Ghi Có TK “Khách hàng nghi ngờ” 300.000
- Nếu thu được 110.000 EUR, coi như là bò lỗ vì số nợ còn lại không thu được
lớn hơn số tiền hoàn nhập dự phòng.
Ghi Nợ TK “Tiền mặt (TGNH)” 110.000
Ghi Nợ TK “Nợ không đòi được thuộc năm trước” 190.000
Ghi Có TK “Khách hàng nghi ngờ” 300.000
- Nếu đến cuối năm vẫn không thu được nợ, doanh nghiệp quyết đònh xóa nợ
cho khách hàng B.
Ghi Nợ TK “Nợ không đòi được thuộc năm trước” 300.000
Ghi Có TK “Khách hàng nghi ngờ” 300.000
1.3.2.5. Dự phòng về các rủi ro và chi phí:
Ngoài các khoản dự phòng giảm giá tài sản, doanh nghiệp cũng cần phải
ước tính các rủi ro và chi phí quan trọng sẽ phát sinh trong năm sau do các sự
kiện phát sinh trong năm hiện hành để lập dự phòng. Dự phòng rủi ro và chi phí
là số tiền được ghi vào chi phí để bù đắp cho các khoản chi phí, hay các khoản
nợ nào đó phải trả trong tương lai do các nghiệp vụ xảy ra trong hiện tại chẳng

Trích đoạn Thông tư 89/2002/TT-BTC: Thông tư 21/2006/TT-BTC: Dự phòng nợ khó đòi:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status