LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đáp ứng sự
đòi hỏi tất yếu của công cuộc đổi mới cải cách hành chính nhà nước và xây dựng
nhà nước pháp quyền. Trong điều kiện đó, hoạt động kiểm toán là hoạt động hết
sức mới mẻ. Tuy nhiên, với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến của mình, kiểm
toán đã góp phần quan trọng vào việc đảm bảo tính trung thực và hợp lý của các
bảng khai tài chính, từ đó đem lại sự thành công cho một doanh nghiệp hay một tổ
chức kinh doanh. Đồng thời, kết quả kiểm toán đã góp phần đáng kể vào việc lập
lại trật tự kỷ cương trong quản lý các hoạt động kinh tế tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường, số lượng dịch vụ kiểm toán ngày càng tăng lên
kéo theo là số lượng người sử dụng các thông tin tài chính sau khi được kiểm toán
ngày càng tăng đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân thủ chuẩn mực về đạo đức
nghề nghiệp khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính. Việc kiểm toán viên tuân
thủ đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp bảo vệ và nâng cao uy tín của nghề kiểm toán
trong xã hội, bảo đảm về chất lượng cao của các dịch vụ cung ứng cho khách hàng
và cho xã hội. Nếu kiểm toán viên không tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức nghề
nghiệp thì lòng tin của công chúng vào dịch vụ kiểm toán sẽ giảm xuống.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán
viên em đã quyết định chọn đề tài :
“Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên” cho đề án môn
học của mình . Nội dung đề án được trình bày theo ba phần :
Phần I: Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên.
Phần II: Thực trạng đạo tạo, bồi dưỡng kiểm toán viên ở Việt Nam.
Phần III: Giải pháp và kiến nghị.
Do thời gian ngắn, khả năng nghiên cứu lại hạn chế, những vấn đề em tìm
hiểu được và trình bày trong đề án môn học này có thể còn nhiều thiếu sót . Em
rất mong nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn và góp ý của các thầy cô để bài viết
của em được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.
1
Như vậy chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp có vai trò rất quan trọng trong
các cuộc kiểm toán nên nó phải được xây dựng một cách chặt chẽ, hợp lý để làm
sao cho kiểm toán viên áp dụng một cách thuận lợi mà không phạm sai lầm hay
bị chồng chéo bởi các điều lệ khác.
2. CÁC NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP.
Yêu cầu về nhân cách đạo đức của bất cứ tổ chức kiểm toán nào cũng phải
dựa trên các nguyên tắc cơ bản. Các nguyên tắc này chỉ đạo kiểm toán viên
trong quá trình hành nghề và quan hệ với người khác.
2.1 Tính độc lập
Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên. Không có
tính độc lập thì kiểm toán không có giá trị trong xã hội.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam quy định rằng trong quá trình kiểm toán,
kiểm toán viên phải thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích
vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc
lập nghề nghiệp của mình.
Theo nguyên tắc 101 – Tính độc lập: Một hội viên hoặc một công ty mà ở
đó anh ta là người chung vốn hoặc là cổ đông, sẽ không được diễn đạt ý kiến về
các báo cáo tài chính của một doanh nghiệp trừ phi anh ta và công ty của anh ta
độc lập với doanh nghiệp đó.
Tính độc lập trong kiểm toán có nghĩa là việc có một quan điểm vô tư khi
thực hiện các cuộc kiểm toán, đánh giá các kết quả và công bố báo cáo kiểm
toán. Nếu kiểm toán viên là một luật sư của khách hàng, một chủ ngân hàng cá
biệt hoặc bất kỳ ai khác có lợi ích trực tiếp hay gián tiếp về mặt tài chính, có
quan hệ họ hàng thân thuộc với những người trong bộ máy quản lý của đơn vị
3
được kiểm toán thì anh ta sẽ không thể được xem là độc lập. Ví dụ trước đây đã
có lần chấp nhận cho kiểm toán viên sở hữu một số lượng cổ phần giới hạn
trong công ty khách hàng. Nhưng ngày nay điều đó được xem như khả năng
tiềm ẩn tác động xấu đến tích độc lập của công ty kiểm toán và chắc chắn có khả
năng ảnh hưởng đến nhận thức của người sử dụng về tính độc lập của kiểm toán
nhận. Hai quy định đầu thường khó thỏa mãn đối với các công ty khách hàng có
quy mô nhỏ mà chủ nhân thường có rất ít kiến thức hoặc ít quan tâm đến kế toán
hoặc xử lý các nghiệp vụ kinh tế. Đối với khách hàng của ủy ban giao dịch
chứng khoán ( SEC ), SEC nghiêm cấm việc thực hiện các dịch vụ ghi sổ sách
kế toán và kiểm toán bởi cùng một công ty kiểm toán. Phần lớn khách hàng của
SEC có quy mô lớn và có nhiều khả năng có một đội ngũ nhân viên kế toán. Do
đó, sự cấm đoán này không gây ra nhiều khó khăn.
Khi bàn về tính độc lập, điều cơ bản không chỉ là kiểm toán viên phải giữ
thái độ độc lập khi thực thi trách nhiệm của mình ( độc lập thực sự ) mà còn cả
những người sử dụng các báo cáo tài chính phải có niềm tin vào tính độc lập đó
(độc lập bề ngoài ). Tính độc lập có khi kiểm toán viên thực tế có khả năng duy
trì thái độ vô tư trong suốt quá trình kiểm toán, trong khi tính độc lập bề ngoài là
kết quả của những lời giải thích của những người khác về tính độc lập đó. Nếu
kiểm toán viên thực sự độc lập, nhưng những người sử dụng lại tin rằng họ là
những người biện hộ cho khách hàng thì phần lớn giá trị của cuộc kiểm toán sẽ
bị mất.
Tính độc lập có thể coi là cơ sở quan trọng để hoạt động kiểm toán có hiệu
quả. Tuy nhiên chúng ta hoàn toàn nhận thức được rằng tính độc lập không bao
giờ là đủ vì luôn có những điều kiện hạn chế ít nhiều tính độc lập. Ví dụ Hội
đồng quản trị bắt buộc phải giải trình với chính quyền và xã hội, giám đốc điều
hành cũng chịu sự bắt buộc như vậy cộng thêm sự bắt buộc của Hội đồng quản
trị. Kiểm toán viên bên ngoài hoàn toàn không bao giờ quên rằng khách hàng trả
5
tiền cho họ và tiền công đó là cần thiết để duy trì một hãng kiểm toán tồn tại và
phát triển. Kiểm toán viên nội bộ báo cáo với một cá nhân trong tổ chức phụ
thuộc vào tổ chức đó vì cuộc sống của họ. Việc chống lại sức ép của đồng sự
trong tổ chức mà kiểm toán viên nội bộ muốn giữ quan hệ làm việc tốt luôn là
vấn đề đáng quan ngại. Tất cả những điều đó có nghĩa là không người nào tự
cho mình là một ốc đảo cô lập và tính độc lập bao giờ cũng là một thuật ngữ
tương đối - độc lập nhiều hay độc lập ít - chứ không bao giờ tuyệt đối. Điều này
toán viên nên sử dụng các thông tin cũng như các ý kiến do đối tượng kiểm toán
hoặc các đơn vị khác cung cấp. Tuy vậy, theo nguyên tắc 102thì các kết luận của
kiểm toán không nên bị tác động bởi các ý kiến đó.
2.3 Các chuẩn mực về nghiệp vụ và năng lực.
Kiểm toán viên phải tuân thủ theo các chuẩn mực về nghiệp vụ, phấn đấu
không ngừng để nâng cao năng lực và chất lượng công việc.
Nguyên tắc 201 – Các chuẩn mực chung: Một hội viên phải tuân thủ các
tiêu chuẩn chung đã được ban hành dưới đây bởi các cơ quan do Quốc hội chỉ
định và phải biện minh cho mọi chiều hướng khác với chúng.
7
- Năng lực nghề nghiệp: Hội viên chỉ được nhận thực hiện những hợp
đồng mà anh ta hoặc công ty của anh ta dự kiến có đủ năng lực nghiệp vụ để
hoàn thành.
- Sự thận trọng nghề nghiệp đúng mức: Hội viên phải hành sự với
sự thận trọng nghề nghiệp đúng mức khi thực hiện hợp đồng.
- Lập kế hoạch và giám sát: Hội viên phải lập kế hoạch và giám sát
một cách đầy đủ hợp đồng.
- Đủ số liệu thích hợp: Hội viên phải thu thập số liệu thích hợp để đủ
làm căn cứ hợp lý cho các kết luận hoặc kiến nghị liên quan với hợp
đồng.
- Dự đoán: Hội viên không đựoc phép sử dụng tên của mình gắn cho các
dự đoán nghiệp vụ kinh tế tương lai phát sinh theo cách mà có thể dẫn
đến sự tin tưởng là ngưòi hội viên đó cam đoan khả năng có thể đạt được
của dự đoán.
Nguyên tắc 202 – Các chuẩn mực kiểm toán
Một kiểm toán viên không được phép để tên của mình gắn liền với vác
báo cáo tài chính theo cách ngụ ý là anh ta đang hành sự như một kiểm toán viên
độc lập trừ phi anh ta tuân thủ theo các chuẩn mực kiểm toán đã được thừa nhận
do Viện ban hành.
Nguyên tắc 203 – Các nguyên tắc kế toán
triển nghề nghiệp. Họ có trình độ năng lực khác nhau do mỗi cá nhân có kiến
thức, kỹ năng và kỷ luật cũng như bề dày kinh nghiệm khác nhau. Do đó cần
phải lưu ý khi giao trách nhiệm kiểm toán cho kiểm toán viên.
9
2.4. Trách nhiệm đối với khách hàng – tính bảo mật.
Nguyên tắc 301 – Thông tin bảo mật của khách hàng: Hội viên không
được tiết lộ bất kỳ thông tin bí mật nào thu được trong tiến trình công tác nghiệp
vụ ngoại trừ khi có sự đồng ý của khách hàng.
Kiểm toán viên phải bảo mật các thông tin có được trong quá trình kiểm
toán, không được tiết lộ bất cứ một thông tin nào khi chưa được phép của người
có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp luật
hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình.
Trong tiến trình kiểm tra, các kiểm toán viên thu được một số lượng lớn
thông tin bảo mật, gồm cả lương của các viên chức, quá trình định giá sản phẩm,
các kế hoặch quảng cáo, số liệu chi phí sản phẩm. Nếu những thông tin này bị
tiết lộ ra ngoài hoặc cho các nhân viên của công ty khách hàng biết thì mối quan
hệ giữa kiểm toán viên với Ban quản trị sẽ trở nên căng thẳng nghiêm trọng,
thậm chí còn có thể là nguyên nhân làm hại đến công ty khách hàng.Hơn nữa,
được tiếp cận với các bản tư liệu sẽ cho các nhân viên của công ty khách hàng
một cơ hội để làm thay đổi thông tin trên các tư liệu đó. Vì thế, luôn luôn phải
cẩn trọng để bảo vệ các tư liệu.
Kiểm toán viên chỉ có thể cung cấp tư liệu cho người khác khi được phép
của công ty khách hàng. Tuy nhiên, trong trường hợp các tư liệu đó được toà án
triệu đòi hoặc được sử dụng như một bộ phận của chương trình xem xét chất
lượng tự nguyện với các công ty kiểm toán khác thì sẽ không cần có sự cho
phép. Nếu tư liệu bị triệu đòi, công ty khách hàng phải được thông báo ngay.
Công ty khách hàng và luật sư hợp pháp của công ty có thể phản đối trát đòi này.
2.5. Trách nhiệm đối với khách hàng – Thù lao phụ thuộc.
Theo nguyên tắc 302- thù lao phụ thuộc: Các dịch vụ về nghiệp vụ không
được bán hoặc cung cấp theo một sự thu xếp mà theo đó không có khoản thù lao
tuý theo cách hiểu lâu nay mà còn thể hiện ở công việc, ở trình độ nghiệp vụ
chuyên môn, ở công tác quản lý. Có nghĩa rằng, trong nghiệp vụ chuyên môn tất
cả phải có trách nhiệm, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần cùng học tập và cùng tiến
bộ. Mỗi kiểm toán viên phải tự học và học hỏi lẫn nhau, đó là động lực, là trách
nhiệm và quyền lợi của chính mình, của công ty.
2.7. Trách nhiệm và thông lệ khác – Hành vi làm mất tín nhiệm.
Hành vi làm mất tín nhiệm không được định nghĩa rõ ràng trong các
nguyên tắc, các văn bản hướng dẫn, hoặc các quy định ( không có quy định nào
về hành vi làm mất tín nhiệm ). Tuy nhiên, trong nguyên tắc 501 nói rõ hội viên
không được phạm phải một hành vi làm mất tín nhiệm đối với nghề nghiệp.
Có ba văn bản hướng dẫn, nhưng ngoài văn bản đầu tiên, hai văn bản còn
lại cũng rất mơ hồ. Ba văn bản hướng dẫn có thể được tóm lược như sau:
1. Giữ lại sổ sách của khách hàng sau khi một đòi hỏi không được đáp ứng
là một hành vi làm mất tín nhiệm. Thí dụ, giả sử Ban quản trị không trả thù lao
cho công ty kiểm toán và các chủ chung vốn của công ty kiểm toán do đó từ
chối trả lại sổ sách của khách hàng. Chủ chung vốn của công ty kiểm toán đã vi
phạm nguyên tắc 501.
2. Một công ty kiểm toán không được phân biệt đối xử giữa các chủng tộc,
màu da, tôn giáo, giới tính, tuổi tác hoặc quốc tịch.
3. Nếu một người hành sự đồng ý thực hiện kiểm toán ở một cơ quan nhà
nước, mà cơ quan này quy định các thể thức kiểm toán khác với GAAS , thì cả
các thể thức của cơ quan nhà nước đó và GAAS đều phải được tuân thủ trừ phi
báo cáo kiểm toán được diễn đạt bằng một cách khác.
Để hướng dẫn về những gì cấu thành một hành vi làm mất tín nhiệm, các
văn bản dưới luật của AICPA cung cấp những hướng dẫn rõ ràng hơn là Bản
Điều lệ đạo đức. Các văn bản dưới luật nói rõ rằng một hội viên trong AICPA sẽ
12