Giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại một số làng chài trên vịnh hạ long sau hoạt động di dân lên bờ”(nghiên cứu trường hợp làng chài cửa vạn, vồng viêng) - Pdf 35

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này. Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và
sâu sắc nhất tới Giảng viên hướng dẫn – Ths. Nguyễn Thị Thúy Anh, người
đã truyền cho em động lực, tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên
cứu và viết đề tài này.
Em xin được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa du lịch, chính quyền và nhân dân các làng chài Cửa Vạn, Vông Viêng,
Ban quản lý Vịnh Hạ Long, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, các
thầy cô giáo trong Khoa Du lịch và các bạn đồng khóa đã đóng góp ý kiến,
đánh giá, tạo điều kiện để em có thể hoàn thiện đề tài của mình.
Mặc dù đã rất cố gắng để thực hiện để tài nhưng do kinh nghiệm nghiên
cứu khoa học cũng như kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên khóa
luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự phản hồi
từ phía các thầy, cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 24 tháng 5 năm 2015
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Diệu Hoa


MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG, biểu
Bảng 1 : Số lượng khách tham quan Vịnh Hạ Long so với tỉnh Quảng
Ninh
Bảng 2: Số lượng khách tham quan làng chài Cửa Vạn và Vông Viêng
Bảng 2.3. Các tuyến tham quan Vịnh Hạ Long
Bảng2.4. Thời gian đón khách trên Vịnh Hạ Long
Bảng 2.5: Chi tiết mức thu phí tham quan danh lam thắng cảnh
Vịnh Hạ Long

Thành phố
Trung học cơ sở

UBND
UNESCO

Ủy ban nhân dân
United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization ( Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
Liên hiệp quốc)


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quảng Ninh nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng là nơi sở hữu những
tiềm năng lớn để trở thành một điểm đến du lịch chính của Việt Nam. Trên
con đường thực hiện chiến lược “Kinh tế xanh”, [6] Quảng Ninh xác định
phát triển du lịch theo hướng bền vững là một trong những trụ cột quan
trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội
Vịnh Hạ Long được UNESCO hai lần công nhận là di sản thiên nhiên
thế giới. Đối với người dân địa phương nói riêng và đất nước Việt Nam nói
chung thì đây quả là một món quà vô giá mà tạo hóa đã ban tặng. Những
công nhận đó đã mở ra cho Quảng Ninh cũng như Vịnh Hạ Long rất nhiều
cơ hội mới song cũng sẽ là những thách thức mà Vịnh Hạ Long phải đối
mặt. Trong thời gian vừa qua, Vịnh Hạ Long nổi cộm về vấn đề ô nhiễm môi
trường tại một số vũng Vịnh do sự gia tăng dân số của các làng chài. Mặc dù
Vịnh Hạ Long ẩn chứa trong mình rất nhiều yếu tố văn hóa đặc sắc miền
biển, đặc biệt là văn hóa vạn chài nhưng áp lực về gia tăng dân số, an sinh xã
hội đã đem đến rất nhiều bất lợi cho việc phát triển du lịch của Vịnh Hạ
Long. Để giải quyết vấn đề trên UBND tỉnh Quảng Ninh đã quyết định thực



Góp phần phát triển du lịch văn hóa tại một số làng chài trên Vịnh Hạ
Long sau hoạt động di dân lên bờ.


Nhiệm vụ
Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch và du lịch văn hóa
Thứ hai: Đánh giá và phân tích thực trạng của làng chài Cửa Vạn,

Vông Viêng để tìm ra nguyên nhân khiến cho loại hình du lịch văn hóa tại
hai làng chài này chịu nhiều tác động sau hoạt động di dân lên bờ.
Thứ ba: Khóa luận sẽ đưa ra những giải pháp góp phần giải quyết
những tồn tại sau hoạt động di dân lên bờ ở làng chài Cửa Vạn, Vông Viêng.
4. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: Đề tài góp phần phát triển lý luận về du lịch văn hóa ở
một điểm đến du lịch.
Về mặt thực tiễn: Khóa luận sau khi hoàn thiện sẽ góp một phần nhất
định vào việc phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long nói chung và du lịch làng
chài Cửa Vạn, Vông Viêng nói riêng đặc biệt là sự phát triển một cách ổn
định, bền vững sau khi thực hiện các chính sách trong đó có chính sách di
dân lên bờ của UBND tỉnh Quảng Ninh. Ở góc độ cá nhân, sau khóa luận
này, tác giả mong muốn củng cố thêm cho mình những kiến thức đã học trên
ghế nhà trường nói chung và khoa du lịch nói riêng, thành thạo hơn khả
năng nghiên cứu khoa học, trang bị thêm những kiến thức thực tế về du lịch
văn hóa tại một số làng chài trên Vịnh Hạ Long cũng như các điểm đặc du
lịch khác mà tạo hóa đã ban tặng cho Di sản này.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: Du lịch văn hóa và giải pháp phát triển du lịch văn
hóa

và tháng 5 năm 2015 tại Quảng Ninh cho các đối tượng sau: Khách du lịch


và cư dân địa phương. Trong đó, tác giá dành 50 phiếu đánh giá cho nhà
cung ứng, 50 phiếu đánh giá cho cư dân địa phương, 50 phiếu đánh giá cho
khách di lịch. [Xin xem chi tiết ở mục 3,4, phụ lục]
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Đây là phương pháp hiệu quả nhằm thu thập những thông tin mong
muốn cũng như một số thông tin còn thiếu mà bảng hỏi chưa đáp ứng được.
Phương pháp này được sử dụng với cơ quan quản lý nhà nước về du
lịch, chính quyền địa phương, người dân địa phương, công ty kinh doanh du
lịch (lữ hành, khách sạn, vận chuyển…), hướng dẫn viên du lịch, khách du
lịch. [Xin xem chi tiết ở mục 5, phụ lục]
6.3. Phương pháp nghiên cứu thực địa
Là phương pháp có mặt tại điểm nghiên cứu để thẩm nhận những giá
trị của tài nguyên, hiểu được những khía cạnh khác nhau của thực tế cũng
như thực trạng của vấn đề. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đề xuất những giải pháp
hợp lý và khả thi cho vấn đề nghiên cứu. Quá trình điền dã là điều kiện đối
chiếu, bổ sung nhiều thông tin cần thiết mà các phương pháp khác không
cung cấp cũng như thiếu thông tin hoặc cung cấp thông tin chưa chính xác.
Đây là phương pháp quan trọng để nghiên cứu du lịch nhằm góp phần làm
cho kết quả nghiên cứu mang tính xác thực.
6.4. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Là việc lựa chọn, sắp xếp các dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, từ đó tổng
hợp lại rồi đưa ra những nhận định, đánh giá, kết luận về đối tượng nghiên
cứu; dưới sự hỗ trợ của phần mềm như Excel.
Phương pháp này được sử dụng từ khi có định hướng đề tài khóa luận
đến khi được hoàn thành.
7. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục.... nội dung

mặt về kinh tế, xã hội, du lịch đã trở thành một nhu cầu quan trọng của nhiều
người. Muốn du lịch thực sự phát triển, khách du lịch ngày càng đông hơn,
đòi hỏi phải có sự nỗ lực từ nhiều phía. Trước tiên là phải phát triển kinh tế
của người dân vì kinh tế là một phần thiết yếu cấu tạo nên hành trình du lịch.
Sau đó là sự quản lý của Nhà nước về du lịch, sự tăng cường xây dựng cơ sở
hạ tầng, tăng cường quảng cáo tuyên truyền, thu hút khách của nhà nước,


của các hãng lữ hành.
Tựu chung lại, du lịch là sự di chuyển của con người trong thời gian
nhàn rỗi để đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình, nhằm
mục đích thẩm nhận các giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, khác lạ. Trên
cơ sở đó, trong chuyến đi sẽ xảy ra mối quan hệ tương hỗ giữa bốn nhóm:
khách du lịch, nhà cung ứng du lịch, chính quyền địa phương và cư dân địa
phương.
1.1.2. Các điều kiện để phát triển du lịch
 Điều kiện chung
- Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội
Không khí chính trị hòa bình đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan
hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa và chính trị giữa các dân tộc. Trong
phạm vi các mối quan hệ kinh tế quốc tế, sự trao đổi du lịch quốc tế ngày
càng mở rộng và phát triển. Du lịch nói chung, du lịch quốc tế nói riêng chỉ
có thể phát triển được trong bầu không khí hòa bình, ổn định, trong tình hữu
nghị giữa các dân tộc.[12, tr. 89]
Về phương diện quốc gia có thể dễ dàng nhận thấy, những nước ít xảy
ra các biến cố chính trị, quân sự thường có sức hấp dẫn đối với đông đảo
quần chúng nhân dân, các khách du lịch tiềm năng. Tại những nơi này du
khách có thể tự do đi lại và có thể gặp gỡ người dân bản xứ, giao thiệp và
làm quen với các phong tục tập quán của địa phương mà không phải lo sợ
điều gì. Tóm lại, du lịch phát triển là nhờ có bầu không khí chính trị hòa

các kế hoạch ngắn, trung và dài hạn một cách cụ thể. Do sự bùng nổ của du
lịch cũng như doanh thu từ ngành này nên du lịch đã trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn của nhiều nước. Vì vậy cần phải có các chiến lược phù hợp, các


chủ chương, kế hoạch phải được xây dựng một cách đồng bộ, phải mang
tính tổng hợp và được phối hợp một cách nhịp nhàng.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã hết sức quan tâm đến
phát triển du lịch. Đường lối chính sách phát triển du lịch đã được đưa ra tại
đại hội VI, VII và được cụ thể bằng nghị quyết 45 CP của Chính Phủ. Nghị
quyết đã khẳng định vị trí và vai trò của ngành du lịch và đề ra kế hoạch,
phương hướng phát triển du lịch. Đó chính là điều kiện và nguồn lực quan
trọng để phát triển du lịch.
 Các điều kiện tự thân làm nảy sinh nhu cầu du lịch
- Thời gian rỗi: là thời gian của con người bao gồm: thời gian làm việc
tại công sở và thời gian làm việc có liên quan, thời gian làm việc gia đình,
thời gian thoả mãn nhu cầu sinh lý tự nhiên. Ngoài ra còn có thể tham gia
các hoạt động xã hội, văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao hay nghỉ ngơi một
cách tích cực. Thời gian rỗi tác động mạnh đến nhu cầu du lịch. Các yếu tố
liên quan đến thời gian rỗi có tác động đến độ dài thời vụ du lịch là: độ dài,
thời điểm và số lần có thời gian rỗi trong năm. Thời gian rỗi xét trong phạm
vi tuần, là yếu tố quan trọng cho các hoạt động du lịch. Thời gian nghỉ ngơi
cuối tuần, thời gian nghỉ trong năm tăng sẽ là điều kiện để phát triển du lịch.
Ví dụ: Thời gian nghỉ hè, nghỉ cuối tuần. Dẫn đến lượng khách du lịch vào
mùa hè, vào cuối tuần tương đối lớn.
- Khả năng tài chính của du khách tiềm năng
Nền kinh tế phát triển sẽ làm cho người dân có mức sống cao, do đó
họ có khả năng thanh toán cho các nhu cầu về du lịch trong nước cũng như
nước ngoài. Có nhiều nước rất giàu tài nguyên du lịch nhưng vì nền kinh tế
lạc hậu nên không thể phát triển du lịch và càng không thể gửi khách du lịch

tế, trong đó có du lịch.


+ Tài nguyên cơ sở vật chất – kỹ thuật hạ tầng
Đây là một nguồn lực, một điều kiện không thể thiếu trong phát triển
du lịch. Cơ sở kỹ thuật hạ tầng tốt, đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển du lịch. Ngược lại, sẽ gây khó khăn làm chậm bước phát triển. Cơ sở
vật chất – kỹ thuật hạ tầng bao gồm: mạng lưới giao thông vận tải, hệ thống
khách sạn, nhà hàng…..
 Sự hình thành điểm du lịch
Điểm du lịch là những chỗ hoặc cơ sở mà khách du lịch hướng đến và
lưu trú, điểm du lịch có thể là những chỗ không có dân cư.
Trong thực tế, điểm du lịch được hình thành dưới tác động của ba
nhóm nhân tố, những nhóm nhân tố đó quyết định vai trò và sự phát triển
của điểm du lịch. Những nhân tố đó là:
Nhóm thứ nhất là các nhân tố liên quan đến sức hấp dẫn của điểm du
lịch. Nhóm này bao gồm vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, các nhân tố kinh tế
xã hội và chính trị.
Nhóm thứ hai gồm những nhân tố đảm bảo giao thông cho khách đến
điểm du lịch (bao gồm những điều kiện đã và có khả năng xây dựng, phát
triển mạng lưới và phương tiện giao thông khác nhau).
Nhóm thứ ba bao gồm những nhân tố liên quan đến việc đảm bảo cho
khách lưu lại ở điểm du lịch. Đó là cơ sở ăn uống, các cơ sở lưu trú, các cơ
sở phục vụ vui chơi, giải trí.
Đây là các nhân tố quan trọng hình thành nên điểm du lịch.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
Du lịch chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố trong quá trình hình
thành và phát triển, có thể kể đến như: nhân tố văn hóa, nhân tố xã hội, nhân
tố chính trị… Tuy nhiên, do khuôn khổ khóa luận, tác giả chỉ đề cập một
cách cụ thể những nhân tố ảnh hưởng tới du lịch như sau:


những nhu cầu của khách du lịch, đưa ra những chiến lược kích cầu của du
lịch đánh vào tâm lí khách hàng, thu hút nguồn khách quốc tế và tăng nguồn
khách nội địa với các chương trình tour hấp dẫn, với các mức giá hợp lý và
dịch vụ chu đáo trọn gói.
1.2. Du lịch văn hóa
1.2.1 Khái niệm
Trước khi đến với khái niệm du lịch văn hóa ta phải hiểu cơ bản văn hóa
là gì?
Theo phó giáo sư Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các
giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua
quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và xã hội” [13, tr.19]
Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch dựa trên tài nguyên du lịch
văn hóa. Tài nguyên du lịch văn hóa chính là các giá trị văn hóa của một
quốc gia được hiểu là các giá trị văn hóa vật thể và giá trị văn hóa phi vật
thể. Du lịch văn hóa cũng mang trong mình những tính chất nhất định của du
lịch. Song bên cạnh đó, du lịch văn hóa còn mang những đặc trưng riêng của
nó. Trước tiên, đó là sự đặc trưng về tài nguyên. Tài nguyên là nhân tố đầu
tiên quyết định đến việc xây dựng một chương trình du lịch văn hóa.
Du lịch văn hóa cũng như các loại hình du lịch kinh doanh khác, bản
thân không tồn tại độc lập mà luôn nằm trong hệ thống hữu cơ các ngành
nghề, các đơn vị kinh doanh. Hơn thế nữa, du lịch văn hóa càng đòi hỏi sự
liên kết, gắn bó chặt chẽ bởi tính đặc thù của nó, vì du lịch và văn hóa luôn
có mối quan hệ mật thiết. Văn hóa là tài nguyên, là nguồn lực quan trọng của
du lịch, văn hóa là nguyên nhân phát sinh nhu cầu du lịch và mang mục đích
nghiên cứu.
1.2.2. Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa



nhuận từ đây, ngành du lịch cũng vì thế mà phát triển hơn.
Để phát triển du lịch văn hóa cần phải có tài nguyên du lịch văn hóa,
đây là yếu tố quyết định, tài nguyên du lịch văn hóa với đặc điểm thú vị, đa
dạng, độc đáo sẽ ngày càng thu hút đông đảo du khách đến tham quan nhằm


thỏa mãn trí tò mò cũng như đáp ứng được phần nào lòng mong muốn được
hiểu biết sâu rộng về cái hay, cái đẹp của mỗi vùng, mỗi địa phương. Tài
nguyên du lịch văn hóa bao gồm những tài nguyên có giá trị về văn hóa vật
thể và phi vật chất như tuồng, chèo, hò, cải lương, hát xẩm, dân ca quan
họ…hết sức độc đáo. Tài nguyên văn hóa cũng bị can thiệp và xâm hại. Vì
vậy, chúng ta cần biết duy trì, tôn tạo, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên
văn hóa quý giá của địa phương cũng như của dân tộc. Khai thác hợp lí
nguồn tài nguyên văn hóa cho phát triển du lịch là một hướng đi đúng đắn cả
trong hiện tại và trong tương lai.
Vào thời đại toàn cầu hóa đang gia tăng như ngày nay, việc bảo vệ,
bảo tồn, lí giải và giới thiệu di sản của bất kỳ một nơi nào là một thách thức
vô cùng quan trọng đối với mọi người ở khắp mọi nơi. Tuy nhiên, việc quản
lí di sản đó, trong một khuôn khổ các chuẩn mực được quốc tế thừa nhận và
được áp dụng thỏa mãn thông thường lại là trách nhiệm của một cộng đồng
riêng biệt hoặc một nhóm trông nom.
Mục tiêu đầu tiên để quản lí di sản là phải thông báo ý nghĩa của di
sản đó và sự cần thiết phải bảo vệ cho cộng đồng chủ nhà và cho khách tham
quan. Việc quản lí vật chất tốt, hợp lí, việc tiếp cận di sản về mặt trí tuệ hoặc
về cảm xúc và việc phát triển văn hóa vừa là quyền lợi vừa là đặc quyền của
một người. Việc quản lí phải bao hàm nghĩa vụ tôn trọng các giá trị của di
sản, các quyền lợi hợp tình hợp lí của cộng đồng chủ nhà hiện nay, những
người bản địa đang trông coi hoặc những chủ nhân sở hữu các tài sản lịch sử
phải tôn trọng cảnh quan và những văn hóa đã sản sinh ra di sản đó.
1.2.3. Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa

nghiệp hoặc mang ra làm trò cười cho du khách. Đã có rất nhiều trường hợp
do thiếu hiểu biết về nguồn gốc, ý nghĩa của các lễ hội mà giải thích một



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status