MỤC LỤC
II.1.2 Các hệ thống ván khuôn 24
II.1.2.1 Hệ thống ván khuôn 24
II.1.2.2 Hệ thống sàn nâng 25
II.1.2.3 Hệ thống nâng trượt: 25
II.1.2.4 Giải pháp kỹ thuật thi công trượt cho công trình cần có các nội dung sau: 27
II.1.2.5 Tiêu chuẩn Việt Nam 9342-2012 về trượt ván khuôn 28
II.2 Các sự cố thường gặp và cách sử lý 31
II.2.1 Sự cố bê tông 31
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngành xây dựng cơ bản là một trong những ngành sản xuất vật chất lớn
nhất của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của
quá trình tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định (xây dựng công
trình và lắp đặt thiết bị vào công trình) cho mọi lĩnh vực hoạt động của đất
1
nước và xã hội dưới mọi hình thức (xây dựng mới, cải tạo và hiện đại hoá tài
sản cố định).
Các công trình xây dựng thể hiện trình độ phát triển kinh tế, văn hoá,
khoa học kỹ thuật, là sự kết tinh của các ngành hội họa, kiến trúc, điêu khắc
Các công trình xây dựng thể hiện đường lối phát triển kinh tế của đất
nước, tạo ra cơ sở hạ tầng tạo đà cho các ngành khác phát triển. Ghóp phần
nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, góp phần phát triển văn
hoá và nghệ thuật kiến trúc, có tác động quan trọng đến môi trường sinh thái.
Xây dựng cơ bản chiếm một tỷ trọng lớn trong đầu tư phát triển kinh tế
trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy việc quản lý tiền vốn cũng như tổ chức
biện pháp thi công hợp lý sẽ nâng cao rất nhiều hiệu quả trong ngành.
Ngành sản xuất xây dựng có một số đặc thù khác với những ngành khác
đó là: sản phẩm cố định, đơn chiếc do đó sản xuất mang tính lưu động, thời
gian sản xuất kéo dài nên dễ gây tình trạng ứ đọng một nguồn vốn lớn. Vì vậy
rút ngắn thời gian thi công sớm đưa công trình vào sử dụng sẽ tạo được hiệu
quả trong sử dụng nguồn vốn.
có thể không đổi hoặc thay đổi, được bố trí một mình hoặc theo cụm, việc
thi công công trình bằng cốp pha trượt đòi hỏi phải thường xuyên theo dõi,
kiểm tra hệ thống thiết bị trượt bởi khả năng xoay vặn, lệch nghiêng rất rễ
xảy ra.
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình thi công dạng đứng được thi công
bằng cốp pha trượt.
Tuy nhiên phạm vi áp dụng còn nhỏ hẹp và có nhiều hạn
chế do trình độ kỹ thuật, suất đầu tư ván khuôn lớn, tổ chức quản lý chưa thành
thục
3
Chính vì những mục đích như vậy mà đề tài của luận văn “Tổ chức
thi công cốp pha trượt cho các công trình đứng theo phương pháp dây
chuyền” mong muốn của công tác tổ chức thi công những công trình dạng
đứng thành những mô hình tổ chức – công nghệ mang tính khoa học và ứng
dụng cao, dựa trên cơ sở công nghệ và năng lực sẵn có của các công ty xây
dựng tại Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ thi công hiện đại trên
thế giới và ở Việt Nam. Tác giả tìm hiểu điều kiện thực tế ở Việt Nam để có
thể đề xuất một số nội dung liên quan đến tổ chức thi công các công trình
dạng đứng ở Việt Nam một cách hiệu quả…
3. Phạm vi nghiên cứu.
Tổ chức thi công các công trình dạng đứng theo phương pháp dây
chuyền
4. Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu lý thuyết kết hợp với các mô hình thi công cốp pha trượt
các công trình dạng đứng tại Việt Nam.
5. Nội dung của luận văn
Luận văn bao gồm 4 chương.
Chương I:
dụng cốt thép của các trụ sườn làm thanh trụ kích. Công trình được thi công
vào mùa đông với tốc độ trượt 2m/ngày.
- Năm 1955 ở Anh đã xây dựng 2 xi lô chứa đường, đường kính 20,1;
cao 30,5m; thành dày 20cm; sử dụng cốp pha thép ứng trước. Ở đây sử dụng
cốp pha gỗ và sau khi kết thúc nâng, các kết cấu chịu lực sàn nâng bằng thép
được cố định giữ lại trên tường. Nâng cốp pha bằng kích “TENDDIK” với
5
tốc độ 20cm/h. Khi thi công xi lô đầu tiên bê tông có chỗ bị hư hỏng, đến xi
lô thứ 2 phải tăng thêm kích.
- Năm 1972-1973 ở Liên Xô cũ đã xây dựng 2 kho xi lô đường kính
28m và cụm xu lô 12 chiếc, đường kính 12m. Tầng phễu sử dụng hệ khung,
cột lắp ghép tiết diện (0,8x0,8)m cao 15,6m nặng 25 tấn, xung quanh cột
được xây chèn, thành xi lô dày 24cm cao 42m được thi công bằng cốp pha
trượt. Để thi công trình cần phải có 2 cần trục CK – 100 và K-406A, còn để
xi lô phải sử dụng cần trục tháp 5-8T Công trình đầu tiên về xi lô chứa
đường ở Liên Xô cũ có đường kính ngoài 22,44m thành dày 22cm có 4 bổ
trụ kích thước trên mặt bằng 2x0,22m. Thành xi lô có độ cao đến 41,25m,
thi công bằng cốp pha trượt với mác bê tông 300. Khoảng cách bố trí giữa
các kích là 1,5-2m.
Năm 1966 Liên Xô cũ đã xây dựng 2 xi lô đường kính 36m, cao 28m
và tháp nâng. Thành xi lô và tháp nâng sử dụng bê tông mác 300. Thành xi
lô dày 35cm từ độ cao 4,2m đến 27m có bố trí lỗ thẳng đứng d=40mm cách
nhau 30cm. Thành xi lô sử dụng cốp pha nâng chuyển cao 95cm bằng gỗ
dán dày 7mm, còn tháp sử dụng cốp pha trượt bằng thép cao 1,1m.
Năm 1969 ở Pháp đã xây dựng 1 xi lô đường kính 36m, cao 28m
30.000T đường, chi phí 5.800m3 bê tông, tháp nâng kích thước 6,5x6,4m
và cao 55m, thành xi lô cao 38m có sử dụng BTCT ứng lực trước. Năm
1971 xây dựng xi lô 35.000T đường cũng ở dạng trụ cao 48,25m, đường
kính 36m, chiều dày tường trong 21cm tường ngoài 17cm.
Xây dựng xi lô BTCT ứng suất trước, đường kính lớn có hiệu quả
do độ cứng kém. Cốt thép ngang và đứng được bố trí sát thành ngoài của
7
ống khói. Để các lớp lót lò cần phải hàn các chi tiết đỡ cách nhau 10-15m
theo chiều cao.
Một số hình ảnh công trình thi công bằng cốp pha trượt trên thế giới
Ống khói có độ cao 380m,
nằm tại thành phố Moundsville của Mỹ.
được xây dựng vào năm 1971.
8
Ống khói có độ cao 371m,
nằm tại thành phố Homer City của Mỹ.
được xây dựng vào năm 1977.
9
I.2. Các công trình thi công cốp pha trượt ở Việt Nam.
Thi công các công trình dạng ống sử dụng công nghệ cốp pha trượt tại
Việt Nam đang được coi là một công nghệ thi công “ Truyền Thống”. Khá
nhiều công trình đã được thi công sử dụng công trình này như tháp tạo hạt
cao 95m, đường kính 26m tại nhà máy đạm Phú Mỹ - Bà Rịa – Vũng Tàu;
Cụm 6 xi lô đường kính 19m đến 26m, cao từ 42 đến 87m tại nhà máy xi
măng Tam Điệp – Ninh Bình; Tháp điều khiển không lưu sân bay Nội Bài –
Hà Nội; Xi lô bột liệu đường kính 19m cao 72m tại nhà máy xi măng Bỉm
Sơn – Thanh Hóa; Xi lô clinker đường kính 26m cao 46m tại nhà máy xi
măng Hải Vân – Đà Nẵng; Xi lô 2 lõi đường kính 24m và 16m cao 86.4m tại
nhà máy xi năng Hải Phòng (Mới); Ống khói cao 80m tại nhà mày phân đạm
Hà Bắc; Ống khói cao 120m nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn; Ống khói
cao75m tại nhà máy xi măng La Hiên; Ống khói cao 100m khu luyện đồng –
Tà Loỏng – Lào Cai; Ống khói nhà máy nhiệt điện Phả Lại cao 130m;
Bunke bột mỳ 12mx24m cao 41m nhà máy bột mỳ - Cái Lân – Quảng Ninh;
Tháp nước 200m3 cao 25m tại nhà máy lắp ráp xe máy VMEP Hà Tây;
Tháp nước 300m3 cao 37m tại Đình Vũ – Hải Phòng… Trong việc thi công
ứng được một phần nhu cầu này, nên thực tế rất ít tổ đội công nhân làm việc
trên công trường đã qua đào tào nghề mà chủ yếu là các tổ đội gồm những
người nông dân, những người ở các vùng nông thôn trên thành phố chưa qua
đào tạo nghề và chỉ có rất ít công nhân kỹ thuật. Ngoài ra, việc bố trí số
lượng người, thành phần bậc thợ trong các tổ đội cũng chưa thật hợp lý mà
chỉ bố trí theo kinh ngiệm, theo cảm tính và theo từng công việc. Do đó, có
thể nói rằng, tổ chức lao động trên công trường còn lộn xộn không mang
tính chuyên nghiệp, trình đông nhân trong các tổ đội thấp dẫn đến năng suất
lao động chưa cao, lãng phí nhân công, không đảm bảo được chất lượng
15
công trình theo yêu cầu và chưa thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao
trong lĩnh vực thi công các công trình cao có tính phức tạp.
I.3.2. Tổ chức không gian.
Tổ chức không gian xây dựng về cơ bản là một tập hợp các mặt bằng
mà trên đó ngoài việc xây dựng các công trình đã được thiết kế, còn phải bố
trí và xây dựng các công trình tạm, công trình phụ trợ, máy móc, thiết bị xây
dựng, các kho bãi, xưởng sản xuất, các nhà làm việc, nhà ở và sinh hoạt,
mạng lưới giao thông, hệ thống cấp điện, cấp nước… dùng để phục vụ cho
quá trình xây dựng và đời sống của con người trên công trường.
Với kinh nghiệm đã dần tích lũy được thì việc thiết kế và tổ chức
không gian xây dựng luôn được các nhà thầu chú trọng và phần nào đã được
đáp ứng được yêu cầu trong quá trình thi công xây dựng công trình.
I.3.3. Tổ chức thời gian.
Tổ chức thời gian trong xây dựng thực chất là sử dụng thời gian hợp
lý để xây dựng công trình, nhiệm vụ chủ yếu của công tác này là:
- Lập kế hoạch về thời gian ( hay tiến độ thi công ) để thực hiện các
dự án xây dựng sao cho hợp lý nhất để đạt được các mục tiêu tối ưu.
- Quản lý tiến độ đó trong suốt quá trình xây dựng bằng các công cụ
và kỹ thuật, sao cho quá trình điều khiển có thể kiểm soát được tiến độ, để
đạt được các mục tiêu mong muốn như hoàn thành đúng kế hoạch hoặc rút
lý cần phải xây dựng một tiến độ thi công tổng thể, tiến độ cung ứng vật tư,
thiết bị, nhân công một cách hợp lý đảm bảo cho thời gian thi công là ngắn
nhất, có độ tin cậy cao nhất.
- Tìm và lựa chọn nhân sự có đủ năng lực để tổ chức bộ máy quản lý
và điều hành công trường.
17
I.4. Ưu, nhược điểm của tổ chức và công nghệ thi công cốp pha trượt.
I.4.1 Ưu điểm.
- Tổ chức thi công bê tông cốp pha trượt rút ngắn được tối đa thời hạn
hoàn thành công trình do quá trình thi công liên tục cả ngày lẫn đêm. So với
bê tông toàn khối khác, đây là một tổ chức có thời gian thi công ngắn nhất .
- Không cần nhiều cốp pha và đặc biệt, không cần một hệ thống giáo
chống quy mô như các phương pháp thông thường. Điều này cho phép giảm
đáng kể chi phí vật liệu, chi phí nhân công cho việc lắp dựng và tháo dỡ cốp
pha.
- Tính liền khối của bê tông rất cao do quá trình thi công được tiến
hành liên tục. Chất lượng công trình do đó được đảm bảo vì không để lại
mạch ngừng (hoặc rất ít mạch ngừng).
- Tổ chức thi công cốp pha trượt đòi hỏi bố trí đội ngũ lao động đúng
vị trí trên công trình. Trong quá trình thi công, các công trình kỹ thuật được
phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, uyển chuyển; các quá trình theo
dõi, kiểm tra, nghiệm thu cũng được tiến hành liên tục cùng với quá trình
trượt nâng … nên đem lại chất lượng tốt cho công trình.
- Công nghệ cốp pha trượt có thể được dùng để thi công các công
trình cao hàng trăm mét một cách rất hiệu quả. Bảo dưỡng và hoàn thiện
được tiến hành đồng thời với quá trình thi công bê tông nên giảm được chi
phí thi công khá nhiều. Khi hoàn thiện chỉ cần xoa nhẵn mặt tường với lớp
phủ 3-7mm thay cho lớp trát dày 25mm, vì mặt tường ra khỏi cốp pha đã
khá phẳng.
- Tổ chức thi công bằng cốp pha trượt khắc phục tương đối tốt các khó
19
hậu quả hết sức nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng, tiến độ và
chi phí thi công công trình.
I.5. An toàn lao động cho ván khuôn trượt.
Để đảm bảo thi công ván khuôn trượt an toàn trong thi công, ngoài
việc phải tuân theo những quy định kỹ thuật an toàn có liên quan đề phòng
vật rơi từ trên cao, còn phải tôn trọng các yêu cầu kỹ thuật an toàn dưới đây:
- Cùng với việc lập phương án thi công ván khuôn trượt, còn phải dựa
vào đặc điểm cấu kiện công trình và điều kiện thi công, lập biện pháp kỹ
thuật an toàn tương ứng.
- Thiết kế trang bị ván khuôn trượt, phải có độ cứng tổng thể tương đối
tốt, an toàn và có tính vận hành tốt. Trên tổng thể, đảm bảo thiết bị ván
khuôn trượt vận hành ổn định và an toàn. Khi dùng phương án thi công trượt
không toàn bộ phải có biện pháp đảm bảo độ tin cậy của sàn và hệ thống ván
khuôn trượt đảm bảo ổn định của hệ thống sàn.
- Bố trí xung quanh sàn thao tác trượt chính, phải bố trí lan can bảo vệ
cao hơn phần trên của giá nâng 1,2m ( ở vị trí ty kích ). Lan can có không ít
hơn 4 thanh ngang và có treo lưới an toàn, chân của lan can phải bố trí tấm
chắn. Tấm lát của sàn thao tác chính và giá treo trong, ngoài phải khít và cố
định.
- Sàn thao tác giá ngoài: Mặt ngoài phải bố trí hai hàng thanh chắn và
một tấm chắn dưới chân ở vị trí cao 1m phía trong của nó phải lắp đặt một
hàng thanh chắn và thêm một tấm chắn dưới chân. Lưới an toàn treo vào giá
phải treo chắc vào mặt ngoài của giá, đồng thời vòng qua đáy của sàn đến
lan can phía trong và bọc chắc.
- Bốn xung quanh từ giá đến sàn thao tác, phải bố trí thang để lên
xuống đáp ứng yêu cầu an toàn thi công, miệng thang phải bố trí tấm đậy di
động. Nếu dùng hai lớp giá ngoài thì thang lên xuống lên đặt lệch nhau.
20
- Ván khuôn trượt đến tầng hai hoặc độ cao quy định, giá trong ngoài
- Tổ đội thi công trên công trường kéo dài thời gian, tính chuyên môn
hóa thấp, giá thành cao… Ví dụ như một tổ đội có thể làm được những công
việc như lắp dựng cốp pha, gia công lắp dựng cốt thép, đổ bê tông… dẫn tới
hiệ quả công việc không cao năng suất thấp, tay nghề giảm đi và công trình
không đảm bảo chất lượng.
- Một số tổ đội cùng làm công việc một lúc, không tổ nào quan tâm
đến tổ nào làm cho công việc bị chồng chéo nhau và gián đoạn. Đòi hỏi dự
tập trung sản xuất cao, nhu cầu tài nguyên lớn, dễ gây ra sai phạm hàng loạt
rất lãng phí.
- Mà trong thi công dây chuyền đối với cốp pha trượt ba công việc
chính là ván khuôn, cốt thép, bê tông nó phải nhịp nhàng và tạo thành ba dây
chuyền chuyên môn trong thi công cốp pha trượt. Nhưng đến những phần có
kết cấu ngang thì ba dây chuyền này sẽ chuyển từ phân đoạn theo chiều
đứng sang phân đoạn chiều ngang. Phân đoạn thi công cốp pha trượt được
quy ước theo chiều cao công trình và được tính bằng vận tốc nhân thời gian
trượt ván khuôn.
22
CHƯƠNG II: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỔ CHỨC THI CÔNG CỐP
PHA TRƯỢT
II.1 Công nghệ cốp pha.
II.1.1 Công nghệ thi công cốp pha trượt.
Hệ kết cấu nhà cao tầng thường sử dụng kết cấu khung, khung –vách
cứng hoặc kết cấu ống. Công nghệ thi công trượt các kết cấu nói trên bao gồm
các quá trình:
- Công tác chuẩn bị thi công.
- Phóng tuyến.
- Lắp đặt giá nâng, vòng găng.
- Lắp đặt một mặt ván khuôn.
- Buộc cốt thép, đặt các đường ống chôn sẵn
- Lắp đặt mặt ván khuôn còn lại và ván khuôn các lỗ cửa.
công. Hệ thống này được bố trí ở 2 cao trình:
- Cao trình trên liên kết trực tiếp vào mảng ván khuôn và được gọi là
sàn thao tác chính. Sàn thao tác dung để chứa vật liệu, lắp dựng cốt thép, vận
chuyển, đổ bê tông, lắp ván khuôn cửa hoặc dịch chuyển ván khuôn khi cần
thiết;
- Cao trình dưới được liên kết với sàn thao tác trên bởi xích hoặc dây
treo và gọi là sàn treo. Sàn treo dung để kiểm tra chất lượng bê tông, hoàn
thiện bề mặt ngoài và tháo dỡ hộp khuôn các lỗ nếu có.
II.1.2.3
Hệ thống nâng trượt:
Hệ thống nâng thông thường hiện nay là kích thuỷ lực. Nhờ áp lực dầu,
kích nâng đưa toàn bộ kết cấu ván khuôn và sàn nâng trượt lên dọc theo các
thanh trụ kích. Hệ thống nâng gồm 3 bộ phận:
- Khung kích: được chế tạo bằng gỗ hay kim loại. Khung kích giữ cho
các tấm ván khuôn ép sát vào kết cấu và không bị biến dạng khi có lực xô
ngang. Khung kích có dạng chữ Л, khi được nâng lên nó kéo theo các mảng
ván khuôn trượt. Khoảng cách giữa các khung kích được xác định theo tính
toán, nhưng thường là khoảng 1,5-2,0m. Hệ khung kích tiếp nhận toàn bộ tải
trọng của ván khuôn, kích, sàn nâng, các tải trọng của vữa bê tông và các tải
trọng quá trình thi công
- Thanh trụ kích( hay còn gọi là ty kích): là nhiệm vụ tỳ kích và tiếp
nhận toàn bộ tải trọng tác động từ khung kích và truyền lực xuống kết cấu. Ty
kích làm bằng thép, kích thước thường là Ф25-50mm có thể dài đến 6m, một
đầu được chôn ngầm chặt trong bê tông, đầu kia xuyên qua lỗ tỳ kích. Ty kích
có thể nằm lại hoặc rút ra khỏi kết cấu sau khi thi công.
25