HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN 2 - CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA WTO - 3 - Pdf 21


59
Hộp 1.1. Hệ thống các hiệp định của WTO
Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (Hiệp định Marrakesh)
Các hiệp định Thương mại đa phương
Phụ lục 1A. Các hiệp định đa phương về thương mại hàng hóa
1. Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994)
2. Hiệp định Nông nghiệp
3. Hiệp định về việc Áp dụ
ng các biện pháp vệ sinh và Kiểm dịch động
thực vật
4. Hiệp định về Hàng dệt và May mặc
5. Hiệp định về các Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
6. Hiệp định về các Biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
7. Hiệp định về việc Thực hiện Điều VI của Hiệp định Chung về Thuế quan
và Thương mại 1994 (Hiệp định Ch
ống bán phá giá)
8. Hiệp định về việc Thực hiện Điều VII của Hiệp định Chung về Thuế
quan và Thương mại 1994 (Hiệp định Xác định Trị giá Hải quan)
9. Hiệp định về Giám định trước khi gửi hàng
10. Hiệp định về Qui tắc Xuất xứ
11. Hiệp định về các Thủ tục cấp phép nhập khẩu
12. Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đố
i kháng
13. Hiệp định về các Biện pháp tự vệ
Phụ lục 1B. Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) và các phụ
lục
Phụ lục 1C. Hiệp định về các Khía cạnh liên quan đến Thương mại của
Quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS)
Phụ lục 2: Thỏa thuận về các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp
Phụ lục 3: Cơ chế rà soát chính sách thươ

Hội đồng là các cơ quan có quyền ra quyết định (xem Hình 1.1).
- Hội nghị Bộ trưởng. Hội nghị Bộ trưởng là cơ quan quyền lực
cao nhất của WTO, gồm đại diện của tất cả các Thành viên, họp ít
nhất hai năm một lần. Đây là cơ quan có quyền đưa ra quyết định
cao nhất của WTO. Hội nghị Bộ trưởng thực thi các chức năng
của WTO, đưa ra những quyết định mang tính chiến lược và quan
trọng nhất như nh
ững quyết định liên quan đến mọi vấn đề trong
các hiệp định Thương mại đa phương, kết nạp Thành viên mới
v.v… Hội nghị Bộ trưởng còn đứng ra thành lập các ủy ban
chuyên trách của mình như Ủy ban về thương mại và phát triển,
Ủy ban về các hạn chế đối với cán cân thanh toán, Ủy ban về
ngân sách, tài chính và quản trị v.v…

61
Đến nay, tính đến ngày 01/08/2007, đã có tổng cộng sáu Hội nghị
Bộ trưởng. Đó là Hội nghị Bộ trưởng Singapore (họp tại Singapore từ
ngày 09-13/12/1996); Hội nghị Geneva (họp tại Geneva, Thụy Sĩ, từ
ngày 18-20/5/1998); Hội nghị Seattle (họp tại Seattle, Hoa Kỳ, từ ngày
30/11 đến ngày 03/12/1999); Hội nghị Doha (họp tại Doha, Qatar, từ
ngày 09-13/11/2001); Hội nghị Cancun (họp tại Cancun, Mêhicô, từ ngày
10-14/09/2003) và Hội nghị Hồng Kông (họp tại Hồng Kông, Trung
Quốc, từ ngày 13-18/12/2005. Tại Hội nghị Doha năm 2001, WTO đã
khởi xướng Vòng đàm phán mới - Vòng Doha.
- Đại Hội đồng. Đại Hội đồng là cơ quan chấp hành của WTO,
gồm đại diện của tất cả các Thành viên và được nhóm họp ở
thời điểm cần thiết. Đại Hội đồng thực hiện các chức năng của
WTO giữa hai kỳ Hội nghị Bộ
trưởng và thực hiện các chức
năng khác được Hiệp định WTO giao phó. Đại Hội đồng còn

ội nghị Bộ trưởng. Đứng đầu Ban thư ký là Tổng giám đốc
do Đại Hội đồng chỉ định. Ban thư ký có khoảng 600 nhân viên.
Hình I.1. Sơ đồ tổ chức của WTO Nguồn: Norio Komuro 2005. The WTO How are you?. Worldbank
seminar Russian Academy of State Services. Moscow March/April 2005.

Hội nghị Bộ trưởng

DSB (Cơ quan
Giải quyết tranh chấp)

Đại hội đồng


thuận. Khi có một vấn đề được trình lên Hội nghị Bộ trưởng hoặc Đại
Hội đồng để thông qua, nếu không một Thành viên nào có mặt có ý kiến
phản đối thì có nghĩa là quyết định được thông qua trên cơ sở đồng
thuận, còn gọi là nguyên tắc đồng thuận thuận.
Trong trường hợp không đạt đượ
c sự đồng thuận, để quyết định
một vấn đề cụ thể WTO sẽ tiến hành bỏ phiếu. Tại các cuộc họp của Hội
nghị Bộ trưởng và Đại hội đồng, mỗi Thành viên sẽ được bỏ một phiếu.
Trường hợp của Liên minh châu Âu (EU), hiện nay gồm 27 nước thành
viên, số phiếu biểu quyết bằng số nước Thành viên EU cộng với bản thân
EU được coi là một Thành viên WTO thành 28 phiếu. Quyết định của
Hội nghị Bộ trưởng hoặc Đại Hội đồng lúc đó sẽ dựa trên đa số phiếu,
trừ trường hợp quyết định của Đại Hội đồng với tư cách là Cơ quan Giải
quyết tranh chấp sẽ tuân theo các điều khoản của Thỏa thuận về các qui
tắc và thủ tục giải quyết tranh ch
ấp.
WTO còn có những qui định cụ thể cho việc ra quyết định ở
những trường hợp đặc biệt khác.
1.2.3. Các nguyên tắc của hệ thống thương mại của WTO
Như đã trình bày ở phần trên, nền tảng cho sự tồn tại và vận hành
của WTO là hệ thống các hiệp định. Các hiệp định này có dung lượng rất
lớn và bao trùm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ thương mạ
i hàng hóa tới
thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, các qui tắc giải quyết tranh chấp và rà
soát chính sách thương mại. Tuy nhiên, có những nguyên tắc chung
xuyên suốt toàn bộ các hiệp định đó và những nguyên tắc này là các trụ
cột của hệ thống thương mại đa phương. Các nguyên tắc đó gồm:
1.2.3.1. Không phân biệt đối xử
Nguyên tắc không phân biệt đối xử được thực hiện thông qua hai
chế độ

ũng phải được ngay lập tức và
không điều kiện dành cho công dân của tất cả các Thành viên khác”.
(Điều 4 khoản 1 TRIPs).
- Đối xử quốc gia (NT). Có nghĩa là phải có sự đối xử bình đẳng
giữa trong nước và nước ngoài. Chẳng hạn giữa hàng hóa sản xuất
trong nước và hàng hóa nhập khẩu, giữa dịch vụ do các nhà cung
ứng nội địa cung cấp và dịch vụ do các công ty nước ngoài cung
cấp, giữa công dân hay công ty trong nướ
c và công dân hay công
ty nước ngoài, giữa bản quyền tác phẩm của các tác giả trong
nước và của các tác giả nước ngoài. Tuy nhiên Chính phủ một
nước chỉ có nghĩa vụ thực thi đối xử quốc gia khi một sản phẩm,
dịch vụ hay một thực thể sở hữu trí tuệ của nước ngoài thực sự gia

65
nhập thị trường nước đó. Cũng giống như đối xử tối huệ quốc, đối
xử quốc gia là một nguyên tắc bao trùm các hiệp định của GATT
và WTO. Nguyên tắc này cũng được ghi thành điều khoản ở Điều
III của GATT, Điều XVII của GATS, và Điều 3 của TRIPs.
Khác với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc điều chỉnh các biệ
n pháp
hạn chế mở cửa thị trường, nguyên tắc đối xử quốc gia hướng tới tạo ra
một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước
và ngoài nước. Bởi vậy, đối xử quốc gia liên quan trực tiếp tới các biện
pháp, luật lệ và chính sách của Chính phủ như chính sách thuế, chính
sách liên quan đến tiếp cận và sử dụng các nguồn lực trong nước, qui chế
đấu thầu v.v… Đây là lĩ
nh vực thường bị các doanh nghiệp chỉ trích và
phàn nàn nhiều nhất.
Thực tế trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã có

- Trong thương mại dịch vụ, m
ột Thành viên có thể áp dụng
một số biện pháp phân biệt đối xử được qui định trong Điều II
khoản 2 của Hiệp định GATS và phù hợp với các điều kiện của
Phụ lục về các miễn trừ của Điều II.
- Theo Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ, Hiệp định về trợ cấp
và các biện pháp đối kháng, Hiệp định Chống bán phá giá, trong
trường hợp diễn ra thương mại không lành mạnh từ phía nước
xuất khẩu, một nước nhập khẩu có thể gia tăng các rào cản thương
mại (như tăng thuế và áp dụng hạn ngạch) đối với hàng hoá nhập
khẩu từ nước xuất khẩu đó.
- Ngoài ra còn một số ngoại lệ khác được qui định trong các
hiệp định khác nhau như cho phép áp dụng hạn ngạch thuế
quan
đối với nhập khẩu nông sản, phân biệt đối xử trong cấp hạn ngạch
dệt may trong Hiệp định Dệt may, ưu đãi hơn cho các nước đang
phát triển và các nước kém phát triển v.v…
- Qui tắc của WTO về mua sắm của Chính phủ được xem là
một ngoại lệ điển hình của nguyên tắc đối xử quốc gia.
1.2.3.2.Thương mại tự do hơn
Thương mại ngày càng t
ự do có thể nói là nguyên tắc mà GATT
và WTO theo đuổi suốt quá trình hoạt động của của mình. Tự do hoá
thương mại không chỉ được quán triệt trong GATT và trong các hiệp
định của WTO mà còn cả trong thực tiễn hoạt động của chúng. GATT và
tiếp theo các hiệp định của WTO đã đưa ra các điều khoản và qui tắc
nhằm ràng buộc và thúc đẩy các nước Thành viên mở cửa thị trường.
GATT là Hiệp định đầu tiên về cắt gi
ảm thuế quan trong thương mại đa
phương. Với tám vòng đàm phán của GATT, thuế quan hàng công

dự đoán trong hệ thống thương mại đa phương, WTO yêu cầu các Thành
viên phải th
ực thi các biện pháp để đảm bảo tính minh bạch trong hệ
thống kinh tế cũng như thương mại của mình. Môi trường kinh doanh
như vậy giúp doanh ngHiệp định hướng một cách hiệu quả chiến lược
kinh doanh trong tương lai, khích lệ họ đầu tư và nhờ đó tạo ra nhiều
việc làm và góp phần nâng cao mức sống của dân cư. Nguyên tắc tăng
cường tính minh bạch được thể chế hóa ở
Điều X của GATT và Điều III

68
của GATS. Để thực hiện nguyên tắc này, WTO yêu cầu các Thành viên
phải thực thi các biện pháp:
- Đưa ra các cam kết ràng buộc khi mở cửa thị trường. Điều đó
có nghĩa là phải đưa ra mức trần của cam kết trong đàm phán mở
cửa thị trường. Ví dụ: trong thương mại hàng hoá, một nước trong
đàm phán mở cửa thị trường thịt bò có thể đặt cam kết ràng buộc
đối vớ
i thuế nhập khẩu thịt bò là 15%. Khi cam kết mở cửa thị
trường có hiệu lực, nước đó sẽ không được tăng thuế vượt mức
đó. Trong thương mại dịch vụ, khi có cam kết mở cửa thị trường
thì mức mở cửa thị trường không được thấp hơn mức hiện hành
và các Thành viên không được duy trì hoặc ban hành những biện
pháp hạn chế được nêu trong Điều XVI c
ủa GATS.
- Hạn chế áp dụng hạn ngạch, các biện pháp hạn chế định lượng
và những biện pháp khác có thể làm giảm tính minh bạch của môi
trường kinh doanh. Thực tế của Việt Nam cũng cho thấy áp dụng
hạn ngạch với cơ chế xin - cho không minh bạch dễ dẫn đến tình
trạng tiêu cực và cạnh tranh không công bằng.

Chính sách Thương mại (TPRB) để thực thi công việc này.
Nguyên tắc minh b
ạch là rất cần thiết cho việc thực thi các cam
kết, cho việc trao đổi thông tin trong WTO. Ngoài ra nó còn giúp nâng
cao quyền lực của WTO đối với các Thành viên. Trong quá trình đàm
phán gia nhập WTO, Việt Nam cam kết đảm bảo tính minh bạch của
những biện pháp, chính sách và luật lệ của mình liên quan đến thương
mại.
1.2.3.4. Hỗ trợ các nước đang phát triển và kém phát triển
WTO đã sớm đề ra nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D)
nhằ
m hỗ trợ các Thành viên kém phát triển, đang phát triển và cả các nền
kinh tế đang chuyển đổi. Trong hầu hết các hiệp định của WTO đều đưa
vào các điều khoản này với các qui định cụ thể về ưu đãi cho các Thành
viên kém và đang phát triển. Nội dung các điều khoản đặc biệt này gồm:
- Có một thời kỳ quá độ dài hơn khi thực thi các hiệp định và
cam kết của WTO;
- Có các bi
ện pháp để gia tăng cơ hội thương mại cho các
Thành viên đang phát triển;
- Mức độ cam kết thấp hơn;
- Được hỗ trợ về mặt kỹ thuật hoặc được hưởng một số ưu đãi
khác như hỗ trợ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trong giải
quyết tranh chấp, trong thực hiện các tiêu chuẩn kỹ thuật;

70
- Yêu cầu các Thành viên phải bảo vệ lợi ích của các Thành
viên đang phát triển;
- Ngoài ra còn có các điều khoản yêu cầu các nước công nghiệp
dành những ưu đãi khác cho các nước kém phát triển như đơn

phương là do mỗi Thành viên với những đặc thù về kinh tế và

71
thương mại của mình có những yêu cầu đàm phán khác nhau. Nội
dung đàm phán có thể bao trùm toàn bộ các hiệp định của WTO
từ thuế quan và các rào cản phi thuế quan đối với thương mại
hàng hóa đến mở cửa thị trường dịch vụ, vấn đề bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ. Do nguyên tắc không phân biệt đối xử, cam kết của
nước xin gia nhập với bất kỳ m
ột Thành viên nào cũng sẽ được áp
dụng cho tất cả các Thành viên khác của WTO, kể cả những nước
không tham gia đàm phán. Đàm phán đa phương là đàm phán với
WTO nói chung thông qua đại diện là Ban Công tác. Trọng tâm
của nó là đàm phán về các điều khoản gia nhập liên quan tới các
quy tắc và nghĩa vụ được quy định trong các hiệp định của WTO
trên 3 lĩnh vực chính là: (i) thương mại hàng hóa; (ii) quyền sở
hữu trí tuệ và (iii) các vấn đề mang tính h
ệ thống liên quan tới
thương mại dịch vụ. Nội dung đàm phán đa phương tập trung vào
việc xem xét các luật và thể chế chính sách của nước xin gia nhập.
Nếu luật lệ và thể chế chính sách của nước xin gia nhập chưa phù
hợp với các hiệp định của WTO, WTO yêu cầu nước xin gia nhập
phải tiến hành những sửa đổi phù hợp.
- Ban Công tác soạn thảo văn kiện gia nhập. Sau khi hoàn tấ
t
việc đàm phán song phương và đa phương, Ban Công tác sẽ hoàn
tất bộ văn kiện trọn gói cuối cùng về các điều khoản gia nhập. Bộ
văn kiện này gồm: Báo cáo của Ban Công tác, Nghị định thư gia
nhập, các Biểu cam kết của nước xin gia nhập và Quyết định gia
nhập do Đại Hội đồng phê chuẩn.

- Đàm phán về thực chất. Về
đàm phán song phương, lúc đầu
khoảng hơn 40 Thành viên yêu cầu đàm phán với Việt Nam. Khi
kết thúc đàm phán song phương, Việt Nam tổng cộng phải hoàn
tất đàm phán với 28 đối tác. Mỹ là nước cuối cùng kết thúc đàm
phán với Việt Nam. Văn kiện kết thúc đàm phán với Mỹ được ký
kết vào ngày 31/05/2006.
Về đàm phán đa phương, tổng cộng Việt Nam phải trải qua 14
phiên đàm phán chính thức với Ban Công tác. Phiên
đầu tiên diễn ra vào
các ngày 30-31/07/1998. Phiên cuối cùng diễn ra vào ngày 26/10/2006.
Trong các phiên đàm phán này, về thương mại hàng hóa, Việt Nam đã
đưa ra bốn bản chào về thuế quan. Về thương mại dịch vụ, Việt Nam đã
đưa ra bản chào về các cam kết cụ thể trong dịch vụ lần đầu vào ngày
07/01/2002. Bản chào này sau đó còn được sửa đổi ba lần nữa. Trong quá
trình đàm phán, để đáp ứng các yêu cầu của đàm phán đa phương, Việ
t
Nam đã có những nỗ lực vượt bậc nhằm hoàn thiện hệ thống luật pháp và

73
chính sách của mình phù hợp với các chuẩn mực của WTO. Tổng cộng
Việt Nam đã sửa đổi và xây dựng mới 25 luật và pháp lệnh, trong đó có
các đạo luật mới được ban hành, như Luật Cạnh tranh năm 2004, Pháp
lệnh Chống bán phá giá năm 2004, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Sở hữu
trí tuệ năm 2005…
- Văn kiện gia nhập. Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt
Nam gia nhập WTO lần đầ
u tiên được dự thảo vào ngày
22/11/2004, sau đó được tiếp tục hoàn chỉnh vào ngày
19/10/2006. Tuy nhiên phải đợi đến phiên đàm phán đa phương

chức Thương mại Thế giới (WTO)”, ngày 24 tháng 11 năm 2006.

74
kết cụ thể về thương mại dịch vụ. Các cam kết của Việt Nam có thể qui thành
ba nhóm lớn là các cam kết đa phương, các cam kết về mở cửa thị trường
hàng hoá và các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ.
- Các cam kết đa phương. Các cam kết đa phương gia nhập WTO
của Việt Nam được tổng hợp trong Báo cáo của Ban Công tác. Đây là cam kết
chung với WTO về việc thực hiện các nghĩa vụ, qui tắc và việc tuân thủ các
hiệp định của WTO. Việt Nam cam kết thực hiện toàn bộ các hiệp định đa
phương của WTO ngay thời điểm gia nhập. Trên thực tế, phần lớn các cam kết
của Việt Nam đã được luật hoá trong các đạo luật ban hành trong những năm
gần đây. Các nhóm vấn đề chính Việt Nam cam kết gồm: Chính sách kinh tế;
Khuôn khổ ban hành và thực thi chính sách; Các chính sách ảnh hưởng đến
thương mại hàng hoá; Những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ; Các chính sách ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ; Minh bạch
hoá; Các hiệp định thương mại; Kết luận; và hai phụ lục. Dưới đây là một số
điểm chính trong các cam kết đa phương.
Về chính sách kinh tế, Việt Nam có các cam kết liên quan đến: chính
sách tài chính tiền tệ; chính sách ngoại hối và thanh toán; chính sách đầu tư;
các doanh nghiệp nhà nước; tư nhân hoá và cổ phần hoá; chính sách giá cả;
chính sách cạnh tranh. Liên quan đến chính sách tài chính, tiền tệ, ngoại hối và
thanh toán, Việt Nam sẽ tuân thủ các nghĩa vụ có liên quan đến ngoại hối theo
đúng qui định của WTO cũng như các tuyên bố và quyết định của WTO liên
quan đến IMF. Việt Nam đồng thời chấp nhận tuân thủ Điều VIII của Điều lệ
IMF. Các doanh nghiệp nhà nước sẽ hoạt động bình đẳng như những doanh
nghiệp của các thành phần kinh tế khác, hoàn toàn theo tiêu chí của thị trường
và chịu sự điều chỉnh chung của pháp luật. Nhà nước không can thiệp trực tiếp
hay gián tiếp vào các hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp nhà
nước. Mua sắm của doanh nghiệp nhà nước cũng không được coi là mua sắm

nước. Việt Nam vẫn giữ quyền đưa ra các quy định về quản lý dịch vụ phân
phối.
Về những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ,
Việt Nam cam kết thực thi đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPs. Những cam kết chi tiết đã được đưa vào
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Về minh bạch hoá, Việt Nam cam kết đăng tải công khai các dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật để nhân dân có thể đóng góp ý kiến. Các văn bản
pháp luật cũng sẽ được công bố trên các phương tiện khác nhau nhằm tạo điều
kiện cho nhân dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với các văn bản đó.
Về nghĩa vụ thông báo chính sách, Việt Nam cam kết thực thi nghĩa
vụ thông báo thường xuyên các chính sách, luật lệ của mình cho WTO để
phục vụ cho công tác rà soát chính sách thương mại của WTO.
- Các cam kết về mở cửa thị trường hàng hoá. Liên quan đến lĩnh
vực mở cửa thị trường hàng hoá, Việt Nam cam kết:
(i) Ràng buộc mức trần cho tất cả các dòng thuế trong biểu thuế nhập
khẩu, gồm 10.600 dòng thuế. Mức thuế bình quân giảm từ 17,4% mức hiện
hành xuống còn 13,4%, với lộ trình cắt giảm kéo dài trong vòng năm đến bảy

76
năm. Mức thuế bình quân hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống
còn 20,9%, thực hiện trong khoảng năm năm. Giảm thuế hàng công nghiệp
thực hiện trong vòng năm đến bảy năm từ mức thuế bình quân hiện hành
16,8% xuống còn 12,6%.
8

(ii) Chỉ dùng thuế nhập khẩu làm công cụ để bảo hộ. Việt Nam phải
cắt giảm thuế, nhất là đối với các dòng thuế có thuế suất cao trên 20%. Trong
việc áp dụng các loại thuế và phí, Việt Nam cam kết thực thi các qui tắc của
WTO, tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử, cũng như cam kết sửa đổi

Nam. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 11.

77
nghiệp 100% vốn nước ngoài v.v… Công ty nước ngoài không được hiện diện
tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh trừ một số ngoại lệ được qui định cho
các ngành cụ thể. Công ty nước ngoài được phép đưa cán bộ quản lý vào làm
việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người
Việt Nam. Các tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các
doanh nghiệp Việt Nam theo tỷ lệ được qui định cụ thể ở từng ngành. Các
doanh nghiệp cung ứng dịch vụ sẽ được hưởng qui tắc đối xử quốc gia. Việc
cấp giấy phép cung ứng dịch vụ cũng sẽ được thực thi theo tiêu chí khách
quan, minh bạch.
Cam kết cụ thể gồm các cam kết áp dụng cho từng ngành dịch vụ nhất
định. Những điểm chính về cam kết cụ thể trong các ngành dịch vụ là như sau:
Dịch vụ kinh doanh: Nhìn chung tuỳ theo lĩnh vực cụ thể phía nước
ngoài chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn sau 2 đến 5 năm sau khi
Việt Nam gia nhập. Ngoài ra Việt Nam bên cạnh nới rộng quyền kinh doanh
trong một số lĩnh vực vẫn tiến hành bảo lưu một số ràng buộc đối với các
doanh nghiệp nước ngoài.
Dịch vụ viễn thông: Về cung cấp dịch vụ viễn thông có gắn với hạ
tầng mạng, bên nước ngoài chỉ được đầu tư dưới hình thức liên doanh với phía
Việt Nam với vốn góp tối đa của phía nước ngoài là 49%. Về các dịch vụ viễn
thông khác các nhà đầu tư nước ngoài cũng chỉ được cung ứng thông qua liên
doanh tuy mức ràng buộc về vốn góp được nới lỏng hơn, có thể là 51%, hay
65%, 70% sau 3 năm Việt Nam gia nhập tuỳ theo loại hình dịch vụ.
Dịch vụ phân phối: Phía nước ngoài phải thành lập liên doanh với đối
tác Việt Nam với tỷ lệ vốn góp tối đa 49%. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2008 hạn
chế vốn góp 49% sẽ được bãi bỏ nhưng chưa đạt mức 100%. Từ ngày 1 tháng
1 năm 2009 các công ty nước ngoài được phép thành lập công ty 100% vốn
nước ngoài. Tuy nhiên Việt Nam không mở cửa một số thị trường phân phối

khi gia nhập, các nhà cung ứng nước ngoài được kinh doanh dưới hình thức
liên doanh với vốn góp tối đa 51% để cung ứng một số dịch vụ vận tải biển
quốc tế. Sau 5 năm có thể thành lập công ty 100% vốn nước ngoài. Một số
dịch vụ hỗ trợ vận tải như xếp dỡ công-te-nơ, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho
bãi công-te-nơ cũng được mở cửa cho các công ty nước ngoài. Về dịch vụ vận
tải đường bộ, đường thuỷ, đường sắt và đường không, Việt Nam không cam
kết về vận chuyển hàng hoá và hành khách qua biên giới. Tuy nhiên các doanh
nghiệp nước ngoài có thể tham gia cung ứng thông qua liên doanh.
Các loại hình dịch vụ khác: Các loại hình dịch vụ khác như dịch vụ
nghe nhìn, dịch vụ xây dựng, dịch vụ môi trường, dịch vụ y tế, dịch vụ văn
hoá giải trí v.v… Việt Nam đều cam kết mở cửa nhưng với mức độ khác nhau.
Tuỳ theo lĩnh vực và thời gian sau gia nhập, các nhà cung ứng nước ngoài có
thể kinh doanh dưới hình thức liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài.
Danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc bao gồm các
biện pháp được áp dụng đối với một số dịch vụ nhưng trái với nguyên tắc đối
xử tối huệ quốc. Việc áp dụng những biện pháp như vậy vẫn được phép theo
qui tắc của GATS nếu những biện pháp này được đưa vào danh mục miễn trừ
đối xử tối huệ quốc và được các Thành viên khác chấp nhận.

79
1.2.6. Bài học kinh nghiệm từ quá trình đàm phán gia nhập
WTO của Việt Nam
Mặc dù đàm phán gia nhập WTO đã kết thúc và Việt Nam đã trở
thành Thành viên của WTO nhưng việc rút ra những bài học trong quá
trình đàm phán vẫn rất cần thiết và bổ ích cho những cuộc đàm phán
thương mại trong tương lai của đất nước. Sơ bộ từ thực tiễn đàm phán
kéo dài trong suốt hơn 10 năm qua có thể rút ra những bài họ
c kinh
nghiệm sau:
- Nắm vững thể chế, qui tắc của WTO cũng như những điều

80
kinh tế và đi đến những cam kết phù hợp với trình độ chung của
nền kinh tế.
- Thông qua quá trình đàm phán thúc đẩy quá trình cải cách và
đổi mới của đất nước cả ở Trung ương và địa phương. Để thực
hiện cam kết gia nhập chúng ta đã tích cực và khẩn trương cải
cách hệ thống pháp luật, hoàn thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy
sự cạnh tranh của nền kinh tế.
- Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng cũng như
các hình thức khác, tuyên truyền phổ biến rộng rãi cho cán bộ và
nhân dân về quá trình đàm phán cũng như những lợi ích và thách
thức của đất nước khi gia nhập WTO. Nhờ đó đã tranh thủ được
sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân đối với chủ trương gia nhập
WTO. Tuy nhiên ở khía cạnh này, cũng cần rút kinh nghiệm tránh
có những tuyên truyền thái quá có thể dẫn
đến những hiệu ứng
không mong muốn.
1.2.7. WTO và những tổ chức quốc tế khác
Điều V của Hiệp định Marrakesh nêu rõ, Đại Hội đồng có trách
nhiệm đưa ra các chương trình phù hợp nhằm thúc đẩy sự hợp tác có hiệu
quả với các tổ chức liên chính phủ có chức năng nhiệm vụ liên quan với
chức năng nhiệm vụ của WTO. Sự hợp tác đó là nhu cầu tất yếu trong s

phát triển của toàn cầu hóa cũng như của hệ thống thương mại đa
phương, đặc biệt trên khía cạnh hoạch định và thực thi các chính sách
kinh tế toàn cầu. Trong số những tổ chức liên chính phủ, WTO đặc biệt
nhấn mạnh sự hợp tác với Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế
giới (WB). Sự hợp tác với các tổ chức quốc tế này được th
ực thi thông
qua việc ký kết các hiệp định hợp tác. Những Hiệp định đó là cơ sở cho

phi chính phủ, do Đại Hội đồng thông qua vào ngày 18/07/1996. Văn bản
pháp lý này đã đưa ra định hướng cho việc đối thoại giữa WTO và công
chúng. Các tổ chức phi chính phủ còn có thể bày tỏ tiếng nói của mình
thông qua các kênh như tham dự các Hội nghị Bộ trưởng, tham gia diễn
đàn thảo luận các chuyên đề, và có thể liên hệ thường xuyên với Ban Thư
ký của WTO. Tháng 07/1998, Tổng Giám đốc của WTO Renato
Ruggiero còn đưa ra kế hoạch của WTO đẩy m
ạnh sự hợp tác với các tổ
chức phi chính phủ bằng việc tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức phi
chính phủ có tiếng nói của mình đối với WTO.
Trên thực tế các tổ chức phi chính phủ đã tham gia dự ngay từ
Hội nghị Bộ trưởng đầu tiên của WTO, Hội nghị Singapore vào năm
1996. Họ là đại diện cho tiếng nói của công chúng về các vấn đề như môi
trường, phát triển, lợi ích của người tiêu dùng, kinh doanh, các liên minh
thương mại và lợi ích của nông dân. Các Hội nghị Bộ trưởng tiếp theo
tiếp tục dành được sự quan tâm ngày càng gia tăng của các tổ chức phi
chính phủ.

82
Nhiều diễn đàn chuyên đề cũng đã được Ban Thư ký của WTO tổ
chức nhằm đáp ứng yêu cầu của các tổ chức phi chính phủ. Đặc biệt đó là
diễn đàn các vấn đề về thương mại và môi trường, thương mại và phát
triển, và tạo thuận lợi cho thương mại. Những vấn đề này sau đó đã được
đưa vào Chương trình nghị sự c
ủa Vòng đàm phán Doha.
Thực tế cho thấy các vấn đề của hệ thống thương mại đa phương
đã và đang dành được sự quan tâm rộng rãi của xã hội dân sự, và WTO
chứng tỏ đã biết lắng nghe tiếng nói của công chúng trong quá trình giải
quyết các vấn đề của mình.

D
D
I
I


N

Đ
À
À
N

Đ
À
À
M
MP
P

chưa được giải quyết ở các vòng đàm phán trước đó. Chương trình nghị
sự của Vòng đàm phán Doha gồm các vấn đề như thu
ế quan đối với sản
phẩm phi nông nghiệp, vấn đề nông nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ, vấn đề

83
ưu đãi đối với các nước đang phát triển, vấn đề về mối quan hệ giữa
thương mại và môi trường, các qui tắc của WTO như chống bán phá giá
và trợ cấp, đầu tư, chính sách cạnh tranh, tạo thuận lợi cho thương mại,
tính minh bạch trong mua sắm của Chính phủ.
1.3.2. Tự do hóa thương mại đa phương
Trên thực tế, từ khi ra đời đến nay, hệ thống thương m
ại đa
phương đã phát triển theo hướng tự do hóa. GATT trước đây và WTO
ngày nay luôn phấn đấu cho mục tiêu thương mại tự do hơn bằng những
nỗ lực đàm phán để giảm thiểu các rào cản thương mại. Với tám vòng
đàm phán của GATT, thuế quan nhập khẩu đối với hàng công nghiệp đã
được cắt giảm một cách cơ bản. Vào những năm 1970, và nhất là vào
những năm 1980 củ
a thế kỷ 20, GATT bắt đầu mở rộng diện đàm phán
sang cắt giảm các rào cản phi thuế quan đối với thương mại hàng hóa, dỡ
bỏ các rào cản đối với thương mại dịch vụ và vấn đề bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ. Vòng đàm phán Doha của WTO được khởi xướng từ năm
2001 đang nỗ lực đi theo xu hướng thương mại tự do h
ơn, đặc biệt đối
với thương mại hàng nông sản. Các hiệp định của GATT và WTO được
xây dựng trên nền tảng kim chỉ nam của tự do hóa thương mại.
Quá trình tự do hóa thương mại đa phương diễn ra trong các thập
kỷ qua với các đặc trưng chủ yếu sau:
- Về thuế quan, thuế quan đã được cắt giảm mạnh sau các vòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status