163
phân biệt đối xử. Theo quy định của GATS, nguyên tắc MFN được áp
dụng ngay lập tức, vô điều kiện mà mọi Thành viên GATS phải chấp
nhận, nhưng có ngoại lệ. Còn nguyên tắc đối xử quốc gia không phải là
nghĩa vụ chung mà là nghĩa vụ có điều kiện và được đàm phán trong quá
trình gia nhập. Kết quả đàm phán về mở cửa thị trường và đối xử quốc
gia được ghi nh
ận trong Danh mục cam kết cụ thể. Theo đó, đối với
những lĩnh vực đã được ghi trong Danh mục cam kết cụ thể, mỗi Thành
viên phải dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành
viên nào khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà Thành
viên đó đã, đang và sẽ dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của
n
ước mình. Sự đối xử không thoả mãn yêu cầu của nguyên tắc đối xử
quốc gia là sự đối xử làm cho điều kiện cạnh tranh có lợi hơn cho dịch vụ
hay người cung cấp dịch vụ trong nước so với dịch vụ hay người cung
cấp dịch vụ nước ngoài. Mục đích của GATS là nhằm dỡ bỏ những hạn
chế và phân biệt đối xử đối vớ
i người cung cấp dịch vụ nước ngoài, tạo
điều kiện cho họ tiếp cận thị trường trong nước. Do đó, mức độ cam kết
thực hiện nguyên tắc đối xử quốc gia của một nước thể hiện mức độ mở
cửa thị trường dịch vụ của bản thân nước đó.
Để đảm bảo cho người cung cấp dịch vụ n
ước ngoài được hưởng
những điều kiện về cạnh tranh tương đương với người cung cấp dịch vụ
trong nước, GATS quy định các Thành viên phải loại bỏ 6 loại hạn chế
sau đây trong những lĩnh vực có cam kết mở cửa thị trường, dù là ở quy
mô vùng hoặc trên toàn lãnh thổ:
- Các hạn chế về số lượng người cung cấp dịch vụ dưới hình
thứ
các yêu cầu sau đây:
- Tất cả các quy định, văn bản pháp lý liên quan, các hiệp định
quốc tế có liên quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ mà
các Thành viên tham gia phải được công bố, ấn hành một cách
công khai, rộng rãi.
- Mọi Thành viên phải có nghĩa vụ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu
của bất kỳ Thành viên nào khác về những thông tin cụ thể liên
quan đến việc áp dụng các quy định nêu trên. Các Thành viên
phải thành lậ
p ít nhất một cơ quan chuyên trách cung cấp thông
tin này cho các Thành viên khác khi họ yêu cầu.
- Tất cả các Thành viên phải có nghĩa vụ thông báo khẩn trương
và ít nhất mỗi năm một lần cho Hội đồng Thương mại Dịch vụ
của WTO về việc ban hành hoặc bất kỳ sửa đổi nào trong các luật,
quy chế hoặc hướng dẫn hành chính có tác động cơ bản đến
thương mại dịch vụ thuộc các cam kết c
ụ thể theo Hiệp định này.
165
- Hiệp định GATS không yêu cầu các Thành viên phải cung cấp
các thông tin bí mật là những thông tin nếu bị tiết lộ có thể sẽ gây
ra những khó khăn cho việc thi hành pháp luật, hoặc sẽ mâu thuẫn
với lợi ích công cộng, hoặc sẽ làm phương hại đến quyền lợi
thương mại hợp pháp của một doanh nghiệp cụ thể, dù là doanh
nghiệp nhà nước hoặc tư nhân.
- Các Thành viên không được phép áp dụng những yêu cầu về
chuyên môn, yêu cầu về chất lượng dịch vụ, yêu cầu về giấy phép
cũng như các tiêu chuẩn kỹ thuật quá cao - mà trong chừng mực
nào đó, có thể vô hiệu hóa về mặt pháp lý hoặc làm nguy hại đến
4.4.3.5. Nguyên tắc tự do hoá từng bước thương mại dịch vụ
Việc thừa nhận nguyên tắc tự do hóa từng bước trong GATS là
kết quả đấu tranh của các nước đang phát triển trong đàm phán v
ề thương
mại dịch vụ tại Vòng đàm phán Uruguay. Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc
này chính là sự không đồng nhất về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội
của các quốc gia. Hơn nữa, khoảng cách về trình độ phát triển, xét cả về
tổng thể nền kinh tế cũng như từng lĩnh vực dịch vụ cụ thể, giữa các
nước phát tri
ển và đang phát triển là rất lớn. Vì vậy, quá trình tự do hóa
thương mại dịch vụ phải được tiến hành từng bước phù hợp với thực tiễn
phát triển của mỗi quốc gia.
Các nước đang phát triển chiếm 4/5 số Thành viên của WTO, tuy
vậy tổng giá trị giao dịch thương mại dịch vụ của các nước này còn rất
khiêm tốn. Hiện nay, các nước đang phát triển đều dành sự quan tâm
đặc
biệt đến việc phát triển thương mại dịch vụ. Các quy định của GATS tạo
điều kiện cho các nước đang phát triển ở 2 điểm sau:
Thứ nhất, từng bước tự do hoá thị trường phù hợp với trình độ
phát triển và mục tiêu của chính sách quốc gia của các Thành viên đang
phát triển. Các nước đang phát triển không phải mở rộng thị trường
nhanh chóng và ở nhiề
u lĩnh vực dịch vụ như các nước phát triển. Các
nước này có thể mở rộng việc tiếp cận thị trường một cách dần dần, để
phù hợp với tình hình phát triển và có thể quy định các điều kiện đi kèm
khi mở cửa thị trường cho người cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Thứ hai, tăng cường sự tham gia của các nước đang phát triển
vào thương m
ại dịch vụ. Những cam kết của các nước đang phát triển
phải được thiết lập nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các lĩnh
giấy phép và tiêu chuẩn kỹ thuật gây cản trở thương mại dịch vụ.
Điều khoản về quy tắc trong nước phải bảo đảm nguyên tắc chung
là những biện pháp nội bộ phải được quả
n lý một cách khách quan, hợp
lý và không thiên vị. Những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài có thể
phản đối các quyết định hành chính trước toà án và phải được thông báo
về kết quả của việc xem xét các yêu cầu của họ. Các Thành viên phải
đảm bảo rằng các thủ tục và việc xem xét các yêu cầu thực tế phải được
tiến hành một cách khách quan và bình đẳng. Yêu cầu xin được cung cấp
dịch vụ phải được giải quy
ết trong một thời hạn hợp lý. Đây là nghĩa vụ
chung được áp dụng cho tất cả các lĩnh vực dịch vụ mà không cần xem
xét đến lĩnh vực dịch vụ đó có nằm trong Danh mục cam kết hay không.
Trong các lĩnh vực thuộc Danh mục cam kết, GATS yêu cầu các
Thành viên phải đảm bảo rằng các biện pháp liên quan đến yêu cầu chất
168
lượng, chuẩn mực kỹ thuật và vấn đề cấp giấy phép không được trở
thành những rào cản đối với thương mại dịch vụ.
4.4.3.7. Nguyên tắc liên quan đến vấn đề độc quyền và đặc
quyền cung cấp dịch vụ
Các Thành viên có thể cho một số ngành dịch vụ được hưởng độc
quyền và đặc quyền. Theo quy định của GATS thì điều này là hoàn toàn
hợp pháp (
Điều VIII). GATS không ngăn cản việc duy trì hình thức độc
quyền như vậy nhưng yêu cầu các Thành viên phải đảm bảo rằng hoạt
động của người cung cấp dịch vụ độc quyền phải phù hợp với các nghĩa
vụ chung và nghĩa vụ đã cam kết của Thành viên đó.
Có thể thấy rõ vấn đề độc quyền và đặc quyền này trong một số
lĩnh vực dị
Trước WTO, GATT đã có những ưu đãi nhất định dành cho các
Thành viên đang phát triển thông qua hệ thống các đối xử đặc biệt và
khác biệt (S&D). Tuy nhiên, chỉ đến khi WTO ra đời, sự đối xử
đặc biệt
và khác biệt dành cho các Thành viên đang phát triển mới được khẳng
định là nguyên tắc cơ bản điều chỉnh hệ thống thương mại đa phương.
Nguyên tắc này không chỉ kế thừa những quy định ưu đãi của GATT về
thương mại hàng hóa dành cho các nước đang phát triển, mà còn mở
rộng áp dụng cho cả thương mại dịch vụ, đầu tư và quyền sở h
ữu trí tuệ.
Đây là thành quả đấu tranh liên tục của các nước đang phát triển qua
những vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT, đặc biệt là Vòng đàm
phán Uruguay. Bởi vì, một trong những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ
quốc tế nói chung, thương mại quốc tế nói riêng là bình đẳng và cùng có
lợi. Tuy nhiên, trên thực tế, ưu thế trong thương mại quốc tế thuộc về
những nước công nghiệp phát triển với tiềm lực l
ớn về công nghệ, tài
chính. Trong khi đó, bất lợi thuộc về các nước đang phát triển do khoảng
cách lớn về trình độ phát triển công nghệ và khả năng hạn hẹp về tài
chính so với các nước phát triển. Vì vậy, nguyên tắc bình đẳng, không
phân biệt đối xử trong thương mại dịch vụ chỉ có ý nghĩa đối với các
nước đang phát triển khi họ được hưởng những ưu đãi nh
ất định so với
các nước phát triển.
Theo quy định của GATS, nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt
dành cho các Thành viên đang phát triển thể hiện ở những nội dung sau đây:
Thứ nhất, những cam kết cụ thể đạt được thông qua đàm phán
phải bảo đảm cho các Thành viên là những nước đang phát triển có thể
tăng cường được năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ c
ủa mình.
định: “dành s
ự linh hoạt thích đáng cho các Thành viên đang phát triển
trong việc mở cửa thị trường với ít lĩnh vực hơn, tự do hóa ít loại hình
giao dịch hơn ”. . Những ưu đãi nhìn chung vẫn chưa phản ánh đúng
khoảng cách lớn về trình độ phát triển giữa các Thành viên phát triển và
đang phát triển. Ví dụ, Hiệp định Dịch vụ viễn thông cơ bản cho phép
các nước có thu nhập thấp kéo dài thêm 6 năm so với các nước phát tri
ển
trong việc mở cửa thị trường dịch vụ viễn thông, nhưng thực tế các nước
đó lạc hậu hơn các nước phát triển trong lĩnh vực này từ 20 đến 30 năm.
4.4.3.9. Nguyên tắc liên quan đến thanh toán và chuyển tiền
quốc tế
Theo quy định của Điều XI GATS, GATS thừa nhận việc tự do
hoá thực tiễn các giao dịch kinh tế nhưng đòi hỏi phải có kỷ luật
được áp
171
dụng cho việc di chuyển tư bản. Do vậy, GATS quy định các Thành viên
phải cho phép thực hiện "việc chuyển tiền và thanh toán quốc tế liên
quan đến các giao dịch hàng ngày có quan hệ với các cam kết đặc biệt".
Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng các cam kết về giao dịch trong
một khu vực bị ảnh hưởng xấu bởi các hạn chế về thanh toán và chuyển
tiền gần với việc cung cấp dịch v
ụ. Những hạn chế này không thể được
duy trì hoặc đưa vào Danh sách các cam kết.
4.4.4. Các ngoại lệ MFN trong thương mại dịch vụ
Như đã phân tích ở trên, mọi Thành viên của GATS, không phụ
thuộc vào các danh mục cam kết cụ thể, đều phải dành đối xử MFN vô
điều kiện cho mọi lĩnh vực dịch vụ, trừ những ngoại lệ MFN đã được đưa
vào danh mục cam kết. Đi
hiện quyền duy trì ngoại lệ đối với quy tắc MFN trước khi Hiệp định
GATS có hiệu lực. Tuy nhiên, đối với những ngành còn tiếp tục phải
đàm phán sau Vòng Urugoay (ví dụ dịch vụ tài chính và viễn thông),
thì các nước có thể đòi hỏi được áp dụng ngoại lệ đối với quy tắc
MFN trong khi đàm phán.
* Thuộc Trung, Đông và Đông Nam châu Âu (bao gồm cả Liên bang
Nga, Ukraina và Georgia) và thuộc lưu vực Địa Trung Hải.
Tuy nhiên, GATS cũng quy định rằng những ngoại lệ này phải
đưa ra trước khi WTO có hiệu lực và được tồn tại không quá 10 năm,
phải được rà soát trong quá trình thực hiện. Các ngoại lệ này phải được
cụ thể hóa và công bố trước khi Vòng đàm phán Uruguay kết thúc.
Những ngoại lệ đưa ra sau khi WTO có hiệu lực thì phải được 3/4 số
Thành viên đồng ý. Những ngoại lệ kéo dài hơn năm năm sẽ được Hội
đồng Thương mại Dịch vụ rà soát.
Danh mục ngoại lệ MFN do các Thành viên đệ trình phải chỉ rõ
ngoại lệ dành cho Thành viên nào, trong thời gian bao lâu và áp dụng đối
với những biện pháp gì. Danh mục ngoại lệ MFN không phức tạp. Mỗi
Thành viên cần cung cấp các thông tin sau:
- Một mô tả về lĩnh vực hoặc các lĩnh vực ngoại lệ MFN;
- Một mô tả về biện pháp ngoại lệ và trình bày tại sao biện pháp
đó không nhất quán vớ
i Điều II của GATS;
- Các quốc gia chịu ảnh hưởng của ngoại lệ này;
- Thời gian ngoại lệ dự kiến;
173
- Các điều kiện dẫn đến việc phải áp dụng biện pháp ngoại lệ
MFN.
4.4.5. Cấu trúc của Bản cam kết dịch vụ theo WTO
Bản cam kết về dịch vụ của mỗi Thành viên của WTO thường có
(2) Không hạn chế
(3) Không hạn chế
(4) Chưa cam kết
Nguồn: Ban Công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam. Biểu
CLX-Việt Nam Phần II. Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ.
WT/ACC/VNM/Add.2 (ngày 27/10/2006), tr.101
Nhìn từ bảng 4.1, có thể thấy rõ cấu trúc của một Bản cam kết
dịch vụ gồm có 4 cột ngang là phương thức cung cấp, ngành và phân
ngành, cam kết chung và cam kết cụ thể cho từng ngành. Có bốn cột dọc
là ngành và phân ngành, hạn chế tiếp cận thị trường, hạn ch
ế về đối xử
quốc gia và cam kết bổ sung. Trong thực tế, ở Bản cam kết dịch vụ của
174
một số nước (ví dụ của Việt Nam), cột thứ hai được bỏ đi và mỗi phương
thức cung cấp dịch vụ được thể hiện bằng các con số (1), (2), (3), (4) đặt
ngay trong hai cột về các hạn chế.
Cũng từ bảng 4.1 nói trên, có thể thấy Thành viên WTO thường
đưa ra các cam kết chung và các cam kết cụ thể.
- Các cam kết chung (còn gọi là cam kết sàn, cam kết nền) là
những cam kết được áp dụ
ng cho tất cả hoặc hầu hết các ngành dịch vụ
sẽ được liệt kê ở phần các cam kết cụ thể. Cam kết chung có thể được
hiểu là các cam kết tối thiểu, nghĩa là nếu ở phần các cam kết cụ thể
không nêu yêu cầu gì thêm thì ít nhất các nhà cung cấp dịch vụ nước
ngoài cũng sẽ được hưởng đãi ngộ như đã nêu ở phần cam kết chung.
- Các cam kết cụ
thể là những cam kết chỉ áp dụng riêng cho từng
ngành dịch vụ. Tại mỗi ngành dịch vụ, các cam kết cũng thể hiện thông
C
C
H
HT
T
H
H
Ứ
Ứ
C
CC
C
Ủ
Ủ
A
AV
V
I
I
Ệ
Ệ
T
T
R
R
O
O
N
N
G
GV
V
À
ÀH
H
Ậ
Ậ
độ phát triển của từng Thành viên, có sự xem xét thỏa đáng tới nhu cầu
phát triển các ngành dịch vụ vừa và nhỏ. Các Thành viên đang phát triển,
đặc biệt là các Thành viên kém phát triển nhất được phép cam kết tự do
hóa thương mại dịch vụ với mức độ thấp hơn.
- Phạm vi và nội dung: Các Thành viên sẽ đàm phán: (i) về tất cả
các ngành dịch vụ
trong cả bốn phương thức cung cấp; (ii) các ngoại lệ
MFN được công bố từ Vòng đàm phán Uruguay hoặc sau khi gia nhập;
(iii) các quy định chưa hoàn thiện của GATS về tự vệ, trợ cấp, mua sắm
chính phủ và các rào cản khác đối với thương mại dịch vụ.
- Phương thức đàm phán: Tất cả các Thành viên đều được quyền
tham gia đàm phán. Lịch trình cam kết hiện tại của từng Thành viên được
coi là mức khởi điểm để đàm phán. Các Thành viên đang phát triển sẽ
được nhận hỗ trợ kỹ thuật để tham gia có hiệu quả vào quá trình tự do
hóa thương mại dịch vụ. Phương thức đàm phán là yêu cầu – chào
(Request – Offer).
Như vậy, vấn đề quan tâm hàng đầu của các Thành viên WTO
trong Vòng đàm phán Doha về thương mại dịch vụ là vấn đề mở cửa thị
trường.
4.5.1.2. Những bế t
ắc và nguyên nhân:
Cho đến nay, các cuộc thảo luận tại Hội đồng Thương mại dịch
vụ vẫn chưa thống nhất được phương pháp ghi nhận kết quả của việc tự
do hóa tự nguyện trong khi đây là điều kiện tiên quyết cho quá trình đàm
phán sắp tới.
Các Thành viên phát triển muốn mở rộng phạm vi và mức độ cam
kết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển củ
a ngành dịch vụ ngày càng chiếm
176
Các nước đang phát triển, điển hình là Ấn Độ, Trung Quốc,
Braxin v.v… kêu gọi đàm phán tích cực theo phương thức 4 – phươ
ng
thức hiện diện của thể nhân – và yêu cầu các Thành viên phát triển không
nên gắn phương thức 4 với phương thức 3 – phương thức hiện diện
thương mại; không nên gắn với hạn chế về thị thực, hạn chế về công
nhận bằng cấp v.v… Tuy nhiên, cam kết của hầu hết các nước phát triển
177
vẫn gắn hiện diện của thể nhân (phương thức 4) với việc thiết lập hiện
diện thương mại (phương thức 3).
Các Thành viên WTO rất thất vọng với các kết quả đàm phán về
thương mại dịch vụ nêu trên. Trong báo cáo gửi lên Ủy ban đàm phán về
thương mại dịch vụ tháng 07/2005, ông Chủ tịch nhóm phụ trách về đàm
phán dịch vụ của WTO đã nh
ấn mạnh: “Mặc dù chất lượng một số bản
chào đã được cải thiện nhưng phải thừa nhận rằng mức độ cam kết mà
các Thành viên đưa ra là chưa đạt yêu cầu…”. Chính lời nhận xét của
ông Chủ tịch đã buộc các Thành viên GATS suy nghĩ để tìm ra phương
thức đàm phán mới nhằm mở ra triển vọng cho việc giải quyết những bế
tắc nêu trên.
4.5.1.3. Triển vọng giải quyết bế tắc
Tại Hội nghị Hồng Kông (tháng 12/2005), các Thành viên đã
thông qua Phụ lục về đàm phán dịch vụ trong đó đưa ra phương thức
đàm phán nhiều bên để thúc đẩy đàm phán dịch vụ. Phương thức đàm
phán nhiều bên tập trung vào hai khía cạnh:
- Cách thứ nhất là liệt kê các mục tiêu và chỉ số cần phải đạt được
trong đàm phán.
- Cách thứ hai là kêu gọ
i các Thành viên cam kết ràng buộc mức
là việc mở rộng GATS trong Vòng Doha. Phương thức đàm phán về
thương mại dịch vụ như vậy hiện đang gặp nhiều thách thức. Thách thức
đó là:
- Sự không thống nhất được về quan điểm giữa các nước đang
phát triển và các nước phát triển về phương thức 3 và phương thức 4.
- Các Thành viên dường như đang muốn giữ lập trườ
ng nghe
ngóng và đặc biệt muốn chờ đợi kết quả của đàm phán về nông nghiệp
rồi mới xúc tiến đàm phán về dịch vụ. Các quốc gia đang phát triển tuyên
bố “đơn giản là không có động lực cho các Thành viên đang phát triển
trong việc đào sâu thêm những bản chào cam kết tự do hóa dịch vụ nếu
không có những tiến triển có ý nghĩa trong các lĩnh vực đàm phán then
chốt”.
- Quan đ
iểm mở cửa thị trường dịch vụ giữa các nước phát triển
cũng chưa có sự thống nhất: EU yêu cầu Hoa Kỳ cho tiếp cận thị trường
vận tải đường biển – lĩnh vực được bảo hộ rất cao tại Hoa Kỳ. Còn Hoa
Kỳ lại nhằm vào ngành dịch vụ nghe nhìn của EU.
- Các Thành viên đang muốn gắn vấn đề đàm phán về mở cửa th
ị
trường dịch vụ với vấn đề đàm phán quy tắc liên quan đến trợ cấp, cơ chế
tự vệ đặc biệt, mua sắm chính phủ và các quy định trong nước.
179
Trên đây là những yêu cầu đặt ra trong đàm phán về thương mại
dịch vụ. Đây cũng là những thách thức rất lớn mà các Thành viên đàm
phán sẽ phải đối mặt trong thời gian tới.
4.5.3. Vòng Doha về thương mại dịch vụ và Việt Nam
Việt Nam đã gia nhập WTO vào ngày 07/11/2006, đã chấp nhận tất
cả các hiệp định đa phương của WTO, trong đó có Hiệp định GATS. Từ
ại Việt
Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam.
180
- Với các ngành đã được đưa vào Biểu cam kết dịch vụ, tổ chức, cá nhân nước
ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ phù hợp với
mức độ mở cửa thị trường của ngành đó. Riêng đối với dịch vụ ngân hàng, nhà
đầu tư nước ngoài chỉ được mua 30% vốn điều lệ của ngân hàng Việt Nam
2. Dịch vụ ngân hàng:
- Cho phép thành lập ngân hàng 100% vố
n nước ngoài không muộn hơn
01/04/2007
- Ngân hàng nước ngoài được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh
đó không được mở chi nhánh phụ.
- Phía nước ngoài chỉ được mua không quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng Việt
Nam
3. Dịch vụ bảo hiểm:
- Mức độ cam kết như trong Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
- Sau 5 năm kể từ ngày gia nhập, được phép thành lập chi nhánh bảo hiểm phi
nhân thọ.
4. Dịch vụ chứng khoán:
Sau 5 năm: cho phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài và
chi nhánh tại Việt Nam;
5. Dịch vụ phân phối:
- Từ 01/01/2009: Cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; sau 3
năm: mở cửa thị trường các sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi măng, phân
bón…
- Không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí,
băng hình, thuốc lá, gạo, đường, kim lo
ại quý.
Nam trước những công việc phải làm để mở cửa thị trường dịch v
ụ và để
ứng phó với những tác động tiêu cực do mở cửa thị trường dịch vụ sẽ là
lực cản lớn nhất sau khi Việt Nam gia nhập WTO và chấp nhận GATS.
- Thách thức từ công tác thống kê thương mại dịch vụ. Lâu nay,
các số liệu thống kê trong lĩnh vực dịch vụ chủ yếu là thống kê về các
lĩnh vực dịch vụ thương mại (như vận chuyể
n, du lịch, môi giới, ủy
thác…). Trong khi đó, Hiệp định GATS yêu cầu phải có số liệu thống kê
cho 11 ngành dịch vụ với 155 phân ngành. Có nhiều ngành dịch vụ được
WTO đánh giá là ngành dịch vụ có giá trị thương mại cao như xây dựng,
kiểm toán, phân phối v.v… thì lại được cơ quan thống kê của Việt Nam
xếp vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Điều này sẽ gây khó khăn cho
việc đánh giá tác động c
ủa thương mại dịch vụ đối với sự phát triển kinh
tế nói chung và sự đóng góp của khu vực dịch vụ cho GDP nói riêng. Và
từ đó cũng khó có thể thấy được một cách đầy đủ và khách quan những
tác động, kể cả tác động tích cực lẫn tác động tiêu cực, của việc Việt
Nam gia nhập WTO, mở cửa thị trường dịch vụ. Vì vậy, công tác thống
kê của Việt Nam ph
ải đổi mới một cách toàn diện. Với thực tế lâu nay về
trang thiết bị cũng như nguồn nhân lực của ngành thống kê, đây thật sự là
một thách thức không kém phần nan giải.
182 Chương V
183
những lĩnh vực thiết yếu (sữa và thịt bò), có giá trị buôn bán cao (như
máy bay), hay cần thiết có sự minh bạch (mua sắm của Chính phủ). Các
hiêp định thương mại nhiều bên có khả năng trở thành Hiệp định Thương
mại đa phương khi số lượng Thành viên tham gia đủ để đưa vào chương
trình nghị sự của các đoàn đàm phán. Nếu không, thì các hiệp định đó chỉ
có giá trị như các tho
ả thuận thương mại đa phương giữa các nước khác
nhau, với ý nghĩa không quan trọng bằng các hiệp định về mậu dịch tự
do trong vùng.
5.1.2.2. Đặc điểm
Hiệp định Thương mại nhiều bên khác với Hiệp định Thương mại
đa phương (Multilateral Trade Agreements) ở ý nghĩa không bắt buộc
của chúng. Khác với Hiệp định đa phương, các Thành viên tham gia
Hiệp định nhiều bên với tư
cách tự nguyện. Mặc dù nội dung của các
hiệp định không nằm ngoài nguyên tắc chung – là giảm thuế và tự do hoá
thương mại, mức cắt giảm thuế đối với những mặt hàng được nêu trong
Hiệp định Thương mại nhiều bên có thể bị coi là quá nhạy cảm đối với
một số nước. Vì vậy, việc cắt giảm thuế trong những mặt hàng nhạy cảm
này chưa thể
đạt được sự đồng thuận của tất cả các Thành viên WTO.
Đặc điểm thứ hai của Hiệp định nhiều bên là việc phối hợp hoạt
động giữa các nước Thành viên được đặt ra ở mức cao hơn, trong đó
luôn có sự thành lập các Hội đồng của các Thành viên Hiệp định Thương
mại. Hội đồng có thể đặt ra những quyết sách nhằm điều chỉnh kịp th
ời
sự mất cân đối trong các mặt hàng nhạy cảm. Điều này cần thiết bởi vì
nếu xảy ra khủng hoảng thiếu hay thừa thì các quốc gia Thành viên sẽ
thu hẹp/mở rộng sản xuất, mà hậu quả của nó không thể được dự trù
N
N
H
H
I
I
Ề
Ề
U
UB
B
Ê
Ê
N
NC
C
Ụ
ỤT
T
H
ra có tác dụng tích cực trong việc mua sắm máy bay của các nước, nhờ lộ
trình cắt giảm thuế
đối với việc nhập khẩu máy bay và các phụ tùng đi
kèm cũng như mở cửa thị trường cho thuê thương mại (có người lái –
hay “thuê ướt”, và không có người lái – “thuê khô”) và cho thuê tài chính
theo cơ chế của Hiệp định. Nhờ có Hiệp định Thương mại này, các nước
sản xuất máy bay đã gia tăng được đơn hàng xuất khẩu của mình. Mặc dù
trên danh nghĩa chỉ có hai công ty sản xuất được các máy bay phản lực
hành khách cỡ l
ớn là Boeing và Airbus, cùng một số nước sản xuất máy
bay cánh quạt như Cessna, hay máy bay phản lực cỡ nhỏ như Super King
Air hay Bombardier (Canada). Trên thực tế số lượng các nước sản xuất
được phụ tùng thay thế hay lắp ráp trên máy bay rất nhiều. Thí dụ, chiếc
27
Bulgaria, Canada, Liên minh Châu Âu, Áo, Bỉ, Đài Loan, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy
Lạp, Ireland, Italia, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh, Ai
Cập, Estonia, Georgia, Nhật, Latvia, Lithuania, Macau, Malta, Na Uy, Romania, Thụy Sỹ
và Hoa Kỳ. Nga chưa tham gia do chưa phải là thành viên, song đã là quan sát viên của
Thoả ước. Nguồn: www.wto.org
.
185
máy bay Airbus có thân sản xuất tại Đức, cánh và động cơ sản xuất tại
Anh, đuôi sản xuất tại Tây Ban Nha, lắp ráp tại Toulouse (Pháp). Xét đến
giá trị của những giao dịch mua bán máy bay thông thường lên đến hàng
trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đô la Mỹ, việc giảm thuế đối với mua sắm
máy bay đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy khối lượng giao
dịch toàn cầu trong lĩnh vực này.
5.2.1.3. Việt Nam và Hiệp đị
(Government Procurement Agreement). Đây là một Hiệp định Thương
mại nhiều bên của một vài nước Thành viên WTO, được quản lý bởi một
Ủy ban.
5.2.2.1. Nội dung Hiệp định
Ở hầu hết các nước, Chính phủ và các cơ quan nhà nước là những
khách hàng lớn nhất của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các áp lực về
chính trị không cho phép các doanh nghiệp nước ngoài có thể cạnh tranh
một cách bình đẳng so với các doanh nghiệp trong nước. Đó là nguyên
nhân ra đời c
ủa Hiệp định về Mua sắm chính phủ (Agreement on
Government Procurement – AGP). Hiệp định này được đàm phán trong
vòng đàm phán Tokyo và có hiệu lực từ năm 1981. Mục đích của Hiệp
định là tự do cạnh tranh trong các lĩnh vực mua sắm chính phủ - càng
rộng càng tốt. Hiệp định yêu cầu các quy định của pháp luật, quy trình
mua sắm và các tập quán mua sắm của Chính phủ phải công khai minh
bạch. Trên hết, các quy định này không được bảo hộ các nhà cung cấp
trong nướ
c hơn so với các nhà cung cấp nước ngoài. Hiệp định này hiện
nay có 28 quốc gia Thành viên.
Hiệp định có hai phần – các quy định chung và các nghĩa vụ, và
các phụ lục các quốc gia tham gia Hiệp định. Phần đầu tiên chủ yếu tập
trung vào các quy định về đấu thầu. Hiệp định này được đàm phán lại
trong Vòng Uruguay và được mở rộng phạm vi lên gấp 10 lần, trong đó
giá trị toàn cầu của các giao dịch này lên tới hàng trăm tỷ
đô la Mỹ mỗi
năm. Hiệp định này cũng điều chỉnh việc thuê dịch vụ của các cơ quan
nhà nước (kể cả dịch vụ xây dựng), mua sắm của Chính phủ địa phương,
và mua sắm của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Hiệp
định mở rộng có hiệu lực từ năm 1996.
Hiệp định cũng bảo đảm các điều kiện công bằ
với việc cung cấp phần mềm, hay trong xây dựng, nhà thầu nước ngoài
chỉ được tham gia nếu liên danh với một nhà thầu Việt Nam. Tuy nhiên,
nếu Việt Nam tham gia các cam kết về mua sắm chính phủ nói trên thì
việc phân biệt đối xử này cần được bãi bỏ. Khi này, cạnh tranh sẽ diễn ra
gay g
ắt hơn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Do giá trị thương hiệu
của các sản phẩm Việt Nam hiện còn thấp, việc cạnh tranh với các sản
phẩm của nước ngoài hay dịch vụ của nước ngoài sẽ là thử thách lớn của
các doanh nghiệp trên đường hội nhập.
5. 2.3. Hiệp định về các Sản phẩm từ Sữa
5.2.3.1. Nội dung Hiệp định