TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
CHỦ ĐỀ :NHỮNG TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CHỦ YẾU NGÀNH THỦY SẢN
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẦU TRONG 2015-2020.
GVHD: TS.TRỊNH QUỐC TRUNG
DANH SÁCH NHÓM:
1/ TRẦN THỊ QUỲNH CHÂU (giới thiệu+phân tích môi trường)
1
2/ PHAN NGỌC TRƯỜNG GIANG (tổng hợp+phân tích luật pháp)
3/ TRẦN THỊ HỒNG (phân tích xã hội+kinh tế)
4/ NGUYỄN HIỀN LÊ MAI (giới thiệu+phân tích công nghệ)
5/VÕ THỊ HOÀI THU (phân tích kinh tế +chính trị)
❶Tổng quan về ngành thủy sản Việt Nam hiện nay:
Việt Nam nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương với chiều dài đường bờ biển hơn
3.200 km, vùng đặc quyền kinh tế biển rộng hơn 1 triệu km2,nhiều ngư trường
lớn, nguồn lợi thủy sản dồi dào, ven biển có nhiều eo, vũng, vịnh, đầm, cùng hệ
thống sông ngòi dày đặc với diện tích mặt nước hơn 1,4 triệu ha là những điều
kiện tự nhiên thuận lợi giúp Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi trội để phát triển
2
ngành công nghiệp thủy sản. Từ lâu, Việt Nam đã trở thành quốc gia sản xuất
và xuất khẩu thủy sản hàng đầu khu vực, cùng với Indonesia và Thái Lan. Khai
thác, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản trở nên quan trọng của nền
kinh tế.
Tính đến tháng 11/2009, do sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới,
xuất khẩu thủy sản giảm 8,2% so với cùng kì năm ngoái.
Ngoài nguyên nhân từ sự sụt giảm nhu cầu từ các nước nhập khẩu chính, nguyên nhân
lượng và 63,1% về trị giá so với 6 tháng/2009.
4
Mực và bạch tuộc: trong 6 tháng đầu năm 2010, cả nước xuất khẩu 41,7 nghìn tấn với trị
giá là 173,4 triệu USD, tăng 0,9% về lượng và 8,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009.
Trong đó, lượng xuất khẩu mực đạt 24,1 nghìn tấn với trị giá là 121 triệu USD, giảm
1,8% về lượng và tăng 9,1% về trị giá; bạch tuộc đạt 17,6 nghìn tấn với trị giá là 52,5
triệu USD, tăng 4,9% về lượng và 7,3% về trị giá so với 6 tháng/2009.
Thuỷ sản loại khác: lượng xuất khẩu thuỷ sản loại khác trong 6 tháng/2010 đạt gần 20,2
nghìn tấn với trị giá đạt 82,6 triệu USD, giảm 26,6% về lượng và giảm 16% về trị giá so
với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, xuất khẩu cua, ghẹ các loại đạt 5,2 nghìn tấn với trị giá
gần 38 triệu USD, tăng 9,2% về lượng và giảm 13,6% về trị giá so với 6 tháng đầu năm
2009.
Thống kê lượng và kim ngạch xuất khẩu một số nhóm hàng thủy sản trong 6 tháng
đầu năm 2010:
5
Trong tương lai ngành thủy sản Việt Nam còn phải đương đầu với những tác động từ môi
trường bên ngoài, bên trong và nhiều tác động khác. Dưới đây là những yếu tố thuộc
phân tích PESTLE nhằm để chỉ ra những tác động môi trường chủ yếu mà ngành thủy
sản phải đương đầu trong vòng 5-10 năm tới.
❷Phân tích bằng công cụ P.E.S.T.L.E:
2.1/Công cụ phân tích P.E.S.T.L.E là gì?
P.E.S.T.L.E. là một công cụ phân tích Marketing (Policy - Economic- Social -
Technology- Law – Environment) tức là Chính trị - Kinh tế - Xã hội - Công nghệ - Luật
pháp - Môi trường. Đây là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế, các
yếu tố này là các yếu tố bên ngoài của của doanh nghiệp và ngành, và ngành phải chịu
các tác động của nó đem lại như một yếu tố khách quan. Các doanh nghiệp dựa trên các
tác động sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp.
2.2/Phân tích cụ thể:
2.2.1/Yếu tố chính trị-P(political factors):
-chính sách thuế:
+ Tổ chức FAO đã tài trợ cho ngành thủy sản Việt Nam 250.000 USD để xóa đói giảm
nghèo và nâng cao khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam. Đây là nguồn tài trợ quan
7
trọng giúp cho ngành thủy sản Việt Nam phát triển bền vững, đáp ứng chỉ tiêu yêu cầu
chất lượng của thị trường thế giới.
-chính sách đối ngoại,khuyến khích hợp tác đầu tư:
+ Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản chính thức có hiệu lực từ ngày
01/10/2009, trong đó, 86% nhóm hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam vào thị trường
Nhật Bản (thị trường tiêu thụ thủy sản lớn và ổn định) được ưu đãi về thuế. Thị trường
Nga mở cửa trở lại với nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong đó có Công ty CP Nam Việt;
Công ty CP XNK Thủy sản An Giang v.v Nhờ đó thúc đẩy giá trị xuất khẩu ngành thủy
sản nói riêng,giá trị xuất khẩu Việt Nam nói chung,mở rộng thị trường tiềm năng đồng
thời tham gia vào thị trường mới.
+Quan hệ ngoại giao được tạo lập và củng cố đưa ra nhiều cơ hội hơn cho xuất khẩu các
mặt hàng thủy sản nói riêng và xuất khẩu nói chung,đặt nền tảng cho doanh nghiệp trong
nước trong việc tham gia vào thị trường quốc tế.
+Xu hướng bảo hộ thương mại, các hàng rào kỹ thuật, kiểm dịch chặt chẽ và thường
xuyên ban hành các tiêu chuẩn mới khắt khe hơn về dư lượng kháng sinh và an toàn vệ
sinh thực phẩm. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đang trong quá trình triển khai dự luật
nông nghiệp 2008 (Farmbill), trong đó có điều khoản nhằm hạn chế việc nhập khẩu cá tra
của Việt Nam, dựa trên việc mở rộng định nghĩa catfish và đưa cá tra của Việt Nam vào
danh sách này để chuyển đối tượng này từ USFDA sang USDA quản lý.
-Sự bình ổn chính trị:thể chế chính trị và an ninh quốc gia luôn được củng cố và giữ vững
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động kinh doanh và đầu
tư.Đây là một điểm mạnh của Việt Nam có sức hút đối với nhiều tập đoàn lớn.
-Chiến tranh xung đột:tranh chấp khu vực biển Đông với Trung Quốc gần đây gây không
ít khó khăn đến khai thác đánh bắt thủy sản của ngư dân.
2.2.2/Yếu tố kinh tế-E(economic factors):
-tỉ giá hối đoái:
+Tỷ giá USD, giá vàng trong năm 2009-2010 liên tiếp biến động,và được dự báo sẽ tiếp
biến động về nhập khẩu trong đó có nhập khẩu thực phẩm. Khủng hoảng tài chính đã lan
đến Nga, Ucraina và Ba Lan, một số ngân hàng không đủ vốn họăc xiết chặt tín dụng
9
khiến các nhà nhập khẩu không vay được tiền để thanh toán hàng nhập khẩu và đã có nhà
nhập khẩu từ chối nhận hàng.
+ Hiện nay đồng Euro và đồng bảng Anh đang mất giá khiến một số nhà nhập khẩu
Châu Âu bị thua lỗ. Nhiều nhà nhập khẩu Châu Âu yêu cầu thanh toán bằng đồng Euro,
vì vậy càng tăng thêm khả năng mất lãi khi xuất hàng. Hàn Quốc – một thị trường tiêu
thụ đáng kể thủy sản – đến nay đã cầu cứu FED hỗ trợ. Còn Ucraina, nhà nhập khẩu lớn
nhất cá tra phi lê Việt Nam, cũng đang trông chờ vào những khoản cứu trợ của EU.
+ Như vậy, khủng hoảng kinh tế xảy ra ở các nước phát triển lại là những thị trường
tiêu thụ chính sản phẩm xuất khẩu từ các nước đang phát triển, rõ ràng sẽ ảnh hưởng lớn
đến nhiều ngành sản xuất của nước này. Ngành xuất khẩu thủy sản nhiều nước đang dần
phải hứng chịu những hậu quả của suy thóai kinh tế và khủng hỏang tài chính.
+Ngành thủy sản nước ta đã hòa nhập vào thị trường thế giới từ rất sớm. Hiện nay,
thủy sản Việt Nam đã có mặt trên hơn 150 thị trường thế giới. Mỗi năm, xuất khẩu đều có
khó khăn riêng về thị trường, về kiện tụng chống bán phá giá và rào cản VSATTP (dư
lượng kháng sinh và hóa chất cấm ) Nhưng tác động khủng hoảng tài chính lan rộng ở
các nước phát triển có lẽ là năng nề nhất và bất khả kháng đối với xuất khẩu nói chung.
-lãi suất:
+ Lãi suất ngân hàng tuy đã hạ nhiệt(vào khoảng 13%/năm), song vẫn còn rất cao so với
khả năng sinh lợi của DN. Trong khi đó nguồn hỗ trợ tín dụng của nhà nước không còn.
Một số đơn vị đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong giai đoạn tín dụng cao trước đây,
nay gặp nhiều khó khăn khi nợ đáo hạn.Đối với doanh nghiệp các ngành nông-lâm –ngư
được hỗ trợ 2%.
-cung-cầu:
+Các doanh nghiệp không ngừng tăng cường củng cố chất lượng sản phẩm,mở rộng diện
tích nuôi trồng,đảm bảo nguồn cung cấp dồi dào .
+ Theo kết quả nghiên cứu mới đây của FAO cho thấy lượng tiêu thụ mặt hàng thủy sản
bình quân đầu người mỗi năm hiện đang ở mức 16Kg và sẽ tăng lên 19Kg vào đầu năm
ở khắp nơi trên Thế giới. Đặc biệt ở nước ta còn sử dụng cá để chế biến nước mắm (1
loại gia vị không thể thiếu của mỗi gia đình và chỉ có ở Việt Nam), tạo nên một văn
hóa ẩm thực đặc trưng của nguời Việt.
Những tháng gần đây, dịch heo tai xanh và cúm gia cầm lại xuất hiện ở nước ta, gây khó
khăn cho nông dân và những người nội trợ. Người tiêu dùng chuyển sang ăn thủy hải
sản nhiều hơn, nhu cầu về mặt hàng này tăng cao, giá cả cũng theo đó tăng lên. Tạo
một động lực giúp cho ngành thủy sản phát triển hơn.
Bên cạnh đó, ý thức của mọi người về sức khỏe ngày càng cao, họ biết được ăn thủy sản
có lợi cho tim mạch và xương, lại kéo dài tuổi thọ, vì vậy việc sử dụng thủy sản
nhiều hơn trong các bữa ăn sẽ trở thành xu hướng tất yếu.
2.2.4/Yếu tố công nghệ-T(technological factors):
Công nghệ là một yếu tố quan trọng, góp phần không nhỏ đến sự phát triển của toàn
nền kinh tế quốc dân, trong đó có ngành thủy sản.
Công nghệ càng phát triển, càng có nhiều giống mới ra đời và được ứng dụng rộng rãi
trong ngành nuôi trồng, đem lại năng suất cao và chất lượng ngày một hoàn thiện. các
nhà khoa học đã nghiên cứu thành công và tạo ra các giống mới với nhiều đặc tính tốt
hơn như cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm he chân trắng, tôm càng xanh, cá rô đơn tính,
nhuyễn thể hai mảnh, tu hài, hải sâm, bào ngư, rong biển… là những thực phẩm có giá trị
dinh dưỡng cao, lợi ích kinh tế lớn. các nghiên cứu này đã giải quyết không ít việc làm,
góp phần nâng cao đời sống cho người dân ven biển, đặc biệt là vùng duyên hải Nam
trung bộ.
Hiện nay, công nghệ sử dụng năng lượng mặt trời đang được thử nghiệm tại một số
địa phương ven biển. Hệ thống này gồm có những tấm pin mặt trời, năng lượng được hấp
thu và chuyển đến bình ắc quy, cung cấp điện cho các thiết bị thổi khí oxy vận hành. Oxy
được chuyển đến gần đáy ao nhờ các ống dẫn khí, vi sinh vật cũng được dử dụng kết hợp
12
để cải thiện chất lượng nước trong ao nuôi. Qua quá trình thử nghiệm, kết quả thu được là
rất khả quan, sử dụng được nguồn năng lượng tự nhiên, giảm thiểu ô nhiễm và các chất
gây bẩn trong ao hồ, loại bỏ khả năng bị nhiễm độc từ các nguồn năng lượng khác kkhi
hô hấp qua mang của cá và tôm nuôi.
Thông tư 25/2010/TT-BNNVPTNT buộc những nhà xuất khẩu thủy sản vào Việt Nam
phải đăng ký qua cơ quan có thẩm quyền của nước đó nhưng từ trước đến nay công ty
thường mua trực tiếp từ các tàu cá chứ không qua doanh nghiệp nên sẽ vị phạm thông tư
25.
Tuy nhiên, chính phủ đã kịp thời đưa ra thông tư 51 để chỉnh sửa một số điều trong
thong tư 25 đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghịêp thủy sản Việt Nam được
diễn ra bình thường.
Bên cạnh đó, luật pháp quốc tế cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của
ngành này như Luật chống bán phá giá của Mỹ là một rào cản lớn đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu cá da trơn vào nước này, hay luật IUU về nhập khẩu thủy sản vào
EU, tất cả lô hàng hải sản muốn vào được thị trường EU đều phải chứng minh nguồn
gốc (vùng biển khai thác, tàu khai thác…quy định điều tiên quyết để nhập khẩu sản
phẩm thuỷ sản vào EU là phải có chứng nhận về tính hợp pháp của sản phẩm) trong
khi các doanh nghiệp của nước ta thu gom sản phẩm từ các đầu nậu với số lượng
nhiều, việc kiểm soát nguồn gốc hàng hóa là không hề dễ dàng.
2.2.6/Yếu tố môi trường-E(envirnomental factors):
Bên cạnh các tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ, pháp luật thì
yếu tố môi trường ngày càng có ảnh hưởng đối với sự phát triển của ngành thủy sản nước
ta và ngược lại.
Sự lên giá các sản phẩm thủy sản so với nông sản đã tạo nên hiện tượng nông dân ồ ạt
phá bỏ ruộng vườn, rừng ven biển để đào ao nuôi cá, nuôi tôm, đặc biệt ở các vùng ven
đô và ven biển.
14
ĐBSCL hiện có 400 ngàn ha, các tỉnh ven biển và đồng bằng bắc bộ là172.467 ha diện
tích mặt nước nuôi trồng thủy sản các loại. Hàng năm,chỉ riêng ĐBSCL đã cung cấp cho
thị trường 1,5 triệu tấn, chiếm trên 70% sản lượng thủy sản cả nước.
Tuy mang lại lợi nhuận cao cho người dân nhưng việc mở rộng diện tích nuôi trồng
thủy sản ngày càng làm cho nguồn nước ở những nơi này bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Ước tính mỗi năm, việc nuôi trồng thủy sản đã thải ra môi trường nước xấp xỉ 3 triệu
tấn bùn ở dạng chất thải hữu cơ gần như chưa được xử lý. Mầm bệnh từ các ao nuôi cũng
Nuôi trồng theo mô hình VAC không đúng kỹ thuật làm nguồn nước bị ô nhiễm nặng
nề, dẫn đến hậu quả là cá chết hàng loạt ở Hải Phòng (tháng 7/2010), người nuôi cá phải
chịu thiệt hại không nhỏ.
Cùng với kĩ thuật nuôi không đúng, người nuôi thủy sản còn chịu nhiều thiệt hại do
nguồn nước bị nhiễm hàm lượng kim loại nặng vượt 1-33 lần mức cho phép mà chưa rõ
nguyên nhân như vụ cá chết ở Đà Nẵng tháng 8/2010.
Hiện nay, thời tiết có nhiều biến đổi bất gây ảnh hưởng tiêu cực đến ngành thủy sản.
Nhiều cơn bão xuất hiện bất thường với tần số ngày càng cao cản trở việc đánh bắt xa
bờ, làm sản lượng thu hoạch thủy hải sản giảm đáng kể, ảnh hưởng đến toàn ngành.
Hiện tượng lũ lụt không theo mùa xuất hiện gây nên những tác động mạnh mẽ lên
hoạt động nuôi trồng thủy sản, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
16
S
-tỷ giá được nâng lên.
-Lãi suất cho vay có xu
hướng giảm.
-vị trí địa lý thuận lợi
-Nằm trong 10 nước xuất
khẩu thủy sản hàng đầu
thế giới.
-Quan hệ đối ngoại được
duy trì và giữ vững.
-chính trị bình ổn.
-hưởng ưu đãi về thuế.
-Công nghệ ngày càng
phát triển.
-Ban hành những điều luật
bảo vệ quyền lợi cho
ngành thủy sản.
SO
-Tăng khả năng xuất khẩu
thủy sản.
-Tăng khả năng vay vốn
đầu tư cho ngành,giúp
doanh nghiệp giải quyết
các khó khăn tài chính Là
vốn.
-Đưa tốc độ tăng trưởng
về xuất khẩu thủy sản là
20%-25%.
WO
-
17
-Thúc đẩy kim ngạch xuất
khẩu thủy sản lên trên 6 tỷ
USD trong 2015 và7 tỷ
USD trong 2020.
-Hạn chế nhập khẩu
nguyên liệu thủy san còn
0,5 tỷ đô
-Thâm nhập thị trường
mới có tiềm năng(Nam
Mĩ,Trung Đông,Bắc
Phi),ổn định thị trường
cũ(EU,Đông
Âu,Nhật,Mỹ,Trung Quốc).
-Thu hút đầu tư nước
ngoài.
-Nâng cao doanh số tiêu
*khó khăn
- Đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm của các thị trường chính.
- Giá thức ăn cho nuôi trồng tăng.
- Tình hình biến đổi khí hậu biến đổi phức tạp gây ra các cơn bão, lũ lụt bất thường
làm ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt xa bờ và nuôi trồng thủy sản.
- Tình hình đánh bắt không có kế hoạch làm cạn kiệt nguồn tài nguyên sẵn có.
- Môi trường sinh thái ngày càng suy thoái do ảnh hưởng của các khu công nghiệp.
19
- Các nước có những điều luật để bảo vệ quyền lợi người nuôi trồng trong nước nên
các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều rào cản hơn.
- Gia nhập WTO làm chúng ta mất dần lợi thế về giá, tạo điều kiện cho các đối thủ
cạnh tranh nhảy vào thị trường Việt Nam
- Xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan
- Công nghệ nuôi trồng và chế biến thủy sản của Việt Nam cần phát triển hơn nữa
để bắt kịp với đà phát triển của các nước khác.
- Tình hình biển Đông diễn biến phức tạp.
20