NHẬN THỨC VỀ KHÁI NIỆM VĂN HÓA TRONG QUAN HỆ
VỚI HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA CON NGƯỜI
GS.TS. Phạm Xuân Nam
(Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
Xét trên bình diện lý luận và phương pháp
luận, văn hóa và con người luôn có mối
quan hệ tác động qua lại biện chứng với
nhau. Không thể nói đến văn hóa mà không
có con người, cũng như không thể nói đến
con người - Con Người (viết hoa) - mà tách
rời văn hóa.
Với cách đặt vấn đề như thế, bài tham
luận ngắn này sẽ đề cập đến mấy nội dung
chủ yếu sau:
1. Như mọi người đều biết, trong công trình Văn hóa nguyên thủy (xuất bản lần
đầu năm 1871), nhà nhân học Anh Edward B. Tylor đã đưa ra định nghĩa: "Văn
hóa hay văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất về dân tộc học của nó, là toàn bộ
phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục
và những khả năng, những tập quán mà con người có được với tư cách là thành
viên xã hội" [1]. Cho đến nay, phần lớn các nhà nghiên cứu văn hóa đều xem đây
là định nghĩa khoa học đầu tiên về khái niệm văn hóa, mặc dù danh từ văn hóa - cultura đã xuất hiện khá sớm trong đời sống ngôn ngữ ở cả phương Đông và
phương Tây.
Ở phương Đông, Mạnh Tử - người kế thừa và phát triển xuất sắc học thuyết
của Khổng Tử - đã nói: "Thánh nhân dùng văn hóa của Hoa Hạ để thay đổi phong
tục của người Di, người Địch, chứ chưa ai nói người Hoa Hạ bị người Di, người
Địch giáo hóa lại" [2]. Trong khi đó, ở phương Tây, Cicéron - nhà hùng biện thời
cổ La Mã - cũng từng có nhận xét: "Triết học là văn hóa (sự vun trồng) tinh thần"
của xã hội hay một nhóm xã hội, và ngoài văn học và nghệ thuật, nó còn bao gồm
lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín
ngưỡng" [10].
Rõ ràng, sự đa dạng của các định nghĩa về văn hóa bắt nguồn từ sự đa dạng
trong cách tiếp cận, và do đó dẫn đến những cách hiểu khác nhau về khái niệm này.
Dominique Wolton đã nêu ra ba cách hiểu khái niệm văn hóa trong một số ngôn
ngữ chính của phương Tây: i) Văn hóa theo nghĩa cổ của tiếng Pháp chỉ sự sáng
tạo, chỉ các tác phẩm; ii) Văn hóa trong tiếng Đức gần với văn minh, bao hàm các
giá trị, các biểu tượng và di sản được công nhận và chia sẻ trong một cộng đồng
người nhất định; iii) Trong tiếng Anh, văn hóa mang tính nhân học hơn và bao
gồm cả lối sống, phong cách, cách cư xử thường ngày, hình ảnh và những điều
thần bí" [11].
Ở Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: Khái niệm văn hóa có thể quy về hai
cách hiểu chính - theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Còn về cách định nghĩa, thì có
định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng. Trong loại định nghĩa nêu đặc
trưng, lại phân biệt ba khuynh hướng: i) Khuynh hướng coi văn hóa là những kết
quả (sản phẩm) nhất định; ii) Khuynh hướng xem văn hóa như những quá trình;
iii) Khuynh hướng xem văn hóa như những quan hệ, những cấu trúc [12].
Nhìn chung, mỗi cách hiểu, cách định nghĩa về khái niệm văn hóa đều là kết
quả của một cách tiếp cận, qua đó nhà nghiên cứu xây dựng cho mình một công cụ
nhận thức, một quan niệm làm việc, bảo đảm cho sự nhất quán của những vấn đề
văn hóa sẽ được bàn đến.
2. ở đây, xuất phát từ quan điểm về sự gắn bó máu thịt giữa văn hóa và con
người, như trên đã nói, chúng tôi thử tiếp cận bản chất của văn hóa từ nhiều chiều
cạnh, nhiều lớp quan hệ khác nhau:
Thứ nhất, xét theo con đường và phương thức hình thành, văn hóa là hoạt
động sinh sống có ý thức của con người.
"Hoạt động sinh sống có ý thức của con người" [13], như C. Mác nói, là cái
riêng có ở con người, phân biệt con người với con vật, đời sống con người với đời
sống con vật. Hoạt động đó diễn ra với sự hình thành một cách song trùng các mối
người - với tư cách là mỗi cá nhân và cả cộng đồng - được ghi nhận như những
mốc đánh dấu các thời kỳ phát triển văn hóa như những sáng chế ra các loại công
cụ sản xuất từ đồ đá đến đồ đồng, đồ sắt ; những phát minh ra các phương tiện
giao tiếp như chữ viết, con số ; những sáng tạo trong các lĩnh vực triết học, văn
học, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, v.v
Mỗi một sáng chế, phát minh, sáng tạo đó vừa là kết quả của quá trình hoạt
động tự do, lao động tự do của con người, vừa là động lực thúc đẩy con người
vươn tới một trình độ tự do ngày càng cao hơn. Ph. Ăngghen viết: "Mỗi bước tiến
lên trên con đường văn hóa lại là một bước tiến tới tự do" [18] là với ý nghĩa như
thế.
Có thể khẳng định rằng, quá trình sáng tạo bao giờ cũng gắn liền với sự phát
hiện ra cái mới, khai phá con đường mới, thoát ra khỏi những lối mòn, sự sao chép,
bệnh giáo điều để vươn tới sự phát triển năng động.
Nhiều kết quả của một quá trình sáng tạo thường kéo theo nó những quá trình
tái tạo nhất định. Nếu hoạt động sáng tạo thúc đẩy sự phát triển văn hóa về chất -
cả chất bộ phận hay chất toàn thể - thì hoạt động tái tạo lại nhân lên những thành
tựu sáng tạo văn hóa về lượng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ rộng rãi của cộng đồng
- từ thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc đến toàn nhân loại, và từ thế hệ này đến thế hệ
khác. Như vậy, hoạt động tái tạo có tác dụng bảo tồn và phổ biến các sản phẩm
văn hóa. Vì cũng là một hoạt động sinh sống có ý thức của con người, nên nhiều
khi ngay trong quá trình tái tạo lại có những yếu tố sáng tạo tăng thêm. Tuy vậy,
cần nhấn mạnh rằng: chỉ có hoạt động sáng tạo mới là quá trình tạo ra sản phẩm
văn hóa gốc, còn các hoạt động tái tạo là quá trình tạo ra các sản phẩm phái sinh.
Không có hoạt động sáng tạo thì không có một hoạt động tái tạo nào.
Thứ ba, xét theo kết quả và vai trò định hướng cho sự phát triển của con người,
văn hóa là giá trị - hệ giá trị.
Kết quả của những hoạt động sinh sống có ý thức của con người, đặc biệt là
những hoạt động sáng tạo, đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển của bản thân con
người - đó chính là những giá trị văn hóa. Những hình thái biểu hiện của giá trị
văn hóa có thể là vật phẩm, công cụ, phương tiện, tư liệu sinh hoạt (giá trị văn hóa
chân lý. "Chân" yêu cầu không chỉ năng lực hiểu biết, khám phá, sáng tạo mà còn
cả thái độ ứng xử một cách trung thực, chân thành. Chân giá trị là giá trị đích thực,
nó đối lập với cái giả - cả sự giả dối, lừa bịp lẫn sự giả tạo, khiên cưỡng.
- Biểu hiện tập trung của "thiện" là cái tốt, sự tử tế, tình cảm vị tha, lòng nhân
ái. "Thiện" đối lập với ác như cái tốt đẹp đối lập với cái xấu xa. "Thiện" là đặc
trưng của tính người và tình người. Tính thiện, tấm lòng từ thiện và làm việc thiện
đi liền với nhau trong một con người là điều cơ bản của con người có đạo đức.
Định hướng giá trị vào cái "thiện", con người có khả năng vươn tới cái tốt, nảy nở
lòng nhân ái, từ đó mà có thái độ lịch sự, lòng khoan dung, độ lượng trong văn hóa
ứng xử.
- Biểu hiện điển hình của "mỹ" là cái đẹp. Cái đẹp thể hiện nổi bật trong lĩnh
vực sáng tạo nghệ thuật, đồng thời cái đẹp có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời
sống con người: trong đạo đức và lối sống, trong lời nói và cử chỉ giao tiếp, trong
thái độ và hành vi ứng xử giữa người với người. Cái đẹp còn hiện diện trong cả
lĩnh vực tư duy, tư tưởng. Đó là sự hài hòa thẩm mỹ giữa nội dung tư tưởng và
hình thức thể hiện. Đó cũng là chất lượng thẩm mỹ trong tư duy lôgích chặt chẽ,
chính xác, trong trí tưởng tượng sáng tạo mà người ta gọi là "sức bay của tư
tưởng" - một nhân tố rất quan trọng của hoạt động nghiên cứu, phát minh, sáng tác
[20].
Cần nói thêm rằng: chân - thiện - mỹ (cái thật, cái tốt, cái đẹp) không tách rời
nhau mà đan xen với nhau, bổ sung cho nhau. Cái thật chỉ trở thành đẹp khi nó gắn
liền với cái tốt. Cái tốt làm cho cái thật và cái đẹp được tôn lên. Còn cái đẹp trước
hết phải là cái tốt và cái thật.
Theo Mạnh Tử, "Người mà lòng thiện phát lộ tràn trề, mỗi cử động đều hợp
với điều thiện thì gọi là mỹ" [21]. C. Mác cũng đã nói đại ý: Từ những con người
lao động đang làm việc cật lực để tạo ra những sản phẩm tốt và có ích cho xã hội,
chúng ta nhìn ra cả cái đẹp của loài người. Nhưng C. Mác đã không chỉ nói đến cái
tốt, cái đẹp của lao động cơ bắp mà còn thấy những giá trị đó được nhân lên trong
hoạt động trí tuệ sáng tạo của con người thể hiện ở những thành tựu khoa học ngày
càng cao, đến mức trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp", trở thành "những cơ
- Văn hóa không tách rời mà có nhiệm vụ xây dựng kinh tế, chính trị, xã hội,
trong đó nhiệm vụ xây dựng tâm lý, luân lý - thực chất là xây dựng nhân cách văn
hóa của con người - được đặt lên hàng đầu.
Chính là phải nhìn nhận văn hóa với nội hàm và chức năng bao quát như trên,
chúng ta mới có căn cứ lý luận và phương pháp luận vững chắc để đi sâu phân tích
hai vấn đề chủ chốt được đặt ra nghiên cứu của chương trình đề tài KX.03/06-10
là phát triển văn hóa và xây dựng con người ở nước ta hiện nay.
Cũng có thể bàn thêm về con người và xây dựng con người trong các lĩnh vực
hoạt động khác nhau theo định hướng của những giá trị văn hóa tương thích, đáp
ứng yêu cầu phát triển của dân tộc và xu thế của thời đại. Song đó là chủ đề của
một bài viết khác.
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2007
Bài đã trình bày tại Hội thảo về cơ sở lý luận và phương pháp
luận nghiên cứu văn hoá và con người do Chương trình
KX.03/06-10 tổ chức ngày 5-1-2008 tại Hà Nội, công bố trên
vanhoahoc.edu.vn với sự đồng ý của tác giả.
[1]. E.B. Tylor: Primitive Culture. London 1871. Dẫn theo C.P. Kottak: Cultural
Anthropology. New York 1979, p.4. Nguyễn Tấn Đắc dịch và giới thiệu.
[2]. Tứ th do Trần Trọng Sâm, Kiều Bách Vũ Thuận biên dịch. Nxb Quân đội
nhân dân, Hà Nội 2003, tr. 634
[3]. Dẫn theo Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên): Xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001,
tr. 13
[4]. Abraham Moles: Sociodynamique de la culture. Paris 1967. Bản dịch tiếng
Nga, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1973, tr. 83
[5]. Đàm Gia Kiện (chủ biên): Lịch sử văn hóa Trung Quốc, do Chương Chính,