TOÀN CẦU HOÁ VÀ VẤN ĐỀ “PHẢN ỨNG BẢN SẮC” TRONG VĂN HOÁ - Pdf 21

TOÀN CẦU HOÁ VÀ VẤN ĐỀ
“PHẢN ỨNG BẢN SẮC” TRONG VĂN HOÁ
(trường hợp Đồng bằng sông Cửu Long)

PGS. TS. Đinh Ngọc Thạch
Trường ĐH KHXH & NV, TP.
HCM

“Phản ứng bản sắc” là cách thức đáp trả lại những tác động từ bên
ngoài đến bản sắc của một dân tộc, những tác động làm biến dạng nó, hay
nói khác đi, làm mất “nguyên bản” của nó. Phản ứng có thể diễn ra khác
nhau, phụ thuộc vào điều kiện và khả năng của chủ thể tiếp nhận và xử lí
các giá trị du nhập từ bên ngoài.

1. Toàn cầu hoá đã và đang trở thành xu thế tất yếu, chi phối các lĩnh vực của
đời sống xã hội, từ kinh tế đến văn hoá, từ kĩ thuật, công nghệ đến chính trị, tư
tưởng. Ngay cả những quốc gia bị đánh giá là bảo thủ trong quan hệ với thế giới
bên ngoài, cũng không tránh khỏi những tác động của toàn cầu hoá. Sức mạnh chi
phối của toàn cầu hoá thể hiện không chỉ trong kinh tế, mà còn lan rộng sang hệ
thống chính trị, và từ đó tác động đến hoạt động kinh tế, văn hoá, trước hết là ở
định hướng phát triển của chúng. Nên hiểu điều này như thế nào?
Do chức năng của mình mà hệ thống chính trị của mỗi quốc gia cần đón nhận
và xử lí các vấn đề toàn cầu ảnh hưởng đến đời sống của các tầng lớp nhân dân,
quyền lợi của quốc gia. Nếu hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả, với những
con người vận hành hệ thống ấy thật sự linh hoạt, khôn ngoan, thì quốc gia được
hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hoá, liên kết quốc tế và hội nhập. Ngược lại, hệ
thống chính trị kém cỏi, xơ cứng, với những con người bảo thủ, định kiến, thiếu
năng động, thiếu bản lĩnh và sự nhạy bén nắm bắt cái mới, chỉ có thể chú trọng
đến viêc đối phó với toàn cầu hoá hơn là đề ra và thực hiện đường lối phát triển
phù hợp với xu thế chung. Bài học của mô hình chủ nghĩa xã hội cửa quyền, quan
liêu, bao cấp vẫn còn đó, để lại không ít di chứng trong hệ thống chính trị hiện nay,

lỗi”, “hãy biết sống dung dị và tiết kiệm” v.v. Phong trào đó cũng góp phần hình
thành các quốc gia dân tộc tư sản và sự phân cực Bắc - Nam trên bản đồ chính trị
châu Âu.
Khoa học thực nghiệm đặt ra cho mình mục tiêu đưa tri thức đến với thực
tiễn, nhấn mạnh “tri thức là quyền lực”, báo trước kỉ nguyên bùng nổ sáng tạo
khoa học và ứng dụng công nghệ vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những
nhân tố tạo nên môi trường văn hoá của chủ nghĩa tư bản tiếp tục thống trị trong
thời đại ngày nay, khi mà toàn cầu hoá vẫn còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của các
cường quốc tư bản chủ nghĩa. Nền văn hóa mới được xác lập trong quá trình đấu
tranh giải phóng cá nhân khỏi chủ nghĩa phổ quát Kytô giáo Trung cổ, do đó nó
sẵn sàng chấp nhận tính độc đáo, không lặp của mỗi cá nhân như chủ thể sáng tạo,
nghĩa là chấp nhận sự “lệch chuẩn” trong hoạt động để phát hiện cái mới, với triết
lý hết sức biện chứng rằng, có những quan niệm hôm qua là chân lý, là chuẩn mực
phổ biến, nhưng hôm nay, do sự vận động của thực tiễn xã hội, có thể trở thành cái
không phù hợp, cá biệt, và ngược lại.
Bên cạnh đó, trong môi trường nhà nước pháp quyền – thành quả của các
cuộc cách mạng tư sản, không gian văn hóa dường như dành cho mọi công dân,
thay cho chế độ đẳng cấp và sự thống trị của uy quyền tư tưởng, vốn là đặc trưng
của xã hội trước. Song văn hóa thực dụng cũng mang tính hai mặt, thể hiện bản
chất của xã hội tư sản. Một mặt, văn hóa thực dụng nhấn mạnh tính hiệu quả,
hướng đến đông đảo công chúng thông qua sự đa dạng của các môtíp và thứ bậc
sáng tạo. Mặt khác, tư duy thực dung trong văn hóa ngày nay rất có thể đụng chạm
đến những chuẩn mực, những giá trị truyền thống của nhiều dân tộc, nhất là những
dân tộc non trẻ, vừa thoát khỏi bóng mây của chủ nghĩa thực dân, đang thực hiện
những bước đi đầu tiên khẳng định bản ngã của mình.
Thứ nhất, thực dụng hoá trong hoạt động gây nên hiệu ứng tiêu cực trong các
quan hệ xã hội, trong lối sống và văn hoá ứng xử. Thứ hai, chủ nghĩa cá nhân, vốn
mang ý nghĩa cách mạng vào thời Phục hưng, giờ đây biến dạng thành thứ chủ
nghĩa cá nhân vị kỉ, cùng với sự sùng bái đồng tiền và quyền lực đến mức xuyên
tạc cả những chuẩn mực của xã hội công dân. Ở bình diện quốc tế các nước giàu

hết sức phức tạp và có nhiều mảng sáng tối đan xen nhau này[v][5]. Có nhiều bài
viết hay, trong đó có cả bài viết về biện chứng giữa phát triển văn hoá và xu thế
hội nhập, song thiếu hẳn một triết lí thực sự về văn hoá dưới tác động của toàn cầu
hoá, nhất là vấn đề “phản ứng bản sắc” trong văn hoá, mà điều này lại rất cần thiết,
nhằm góp phần xác lập quan điểm thực tiễn về văn hoá trong điều kiện toàn cầu
hoá.
Thế nào là bản sắc và phản ứng bản sắc, hay đúng hơn, phản ứng mang tính
bản sắc? Đã có khá nhiều công trình bàn về khái niệm bản sắc, đến nỗi cuối cùng
không có định nghĩa nào về bản bản sắc được xem là chuần mực. Tại Hội nghị lần
thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã đưa ra cách hiểu về bản
sắc dân tộc của văn hoá như sau: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền
vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua
lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước
nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường dân tộc, tinh
thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc;
lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lí, đức tính cần cù, sáng tạo trong
lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hoá
dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc
đáo”[vi][6]. Không thể xem đó là định nghĩa cô đọng và nổi bật về bản sắc dân tộc
trong văn hoá, mà chỉ là sự liệt lê các tính cách dân tộc, được thử thách trong tiến
trình lịch sử, song ít ra cách hiểu ấy đã làm sáng tỏ phần nào yếu tố biệt hoá và cá
thể hoá, mà nếu thiếu chúng khó có thể nói đến những nét đặc trưng của các nền
văn hoá dân tộc.
Một số nhà nghiên cứu trước cách hiểu quá “chung chung” về bản sắc, dễ
hoà lẫn bản sắc của người Việt với bản sắc của các dân tộc khác, đòi hỏi phải nêu
được cái bên trong, cái cố hữu tự thân ở bản sắc. Song đó là sự biện minh theo
tinh thần của chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa hoài nghi, bởi lẽ không thể có bản
sắc, hơn nữa bản sắc dân tộc của văn hoá, tồn tại dưới dạng tự thân, khép kín, cô
lập. Bản sắc, hiểu như cái bản chất đặc trưng của mỗi dân tộc, luôn luôn thể hiện
ra một cách sinh động, thông qua hoạt động của con người, và được thẩm định

đang diễn ra là trong khi công tác quản lí văn hoá còn mang nặng tính hành chính
thì ở một bộ phận dân chúng những phản ứng bản sắc mang tính tự phát đang lan
rộng, đòi hỏi xác lập cách tiếp cận thực tế hơn đối với vấn đề này. Có thể đề cập
đến các “vành đai” chịu ảnh hưởng của văn hoá và lối sống phương Tây trong cơn
sóng triều toàn cầu hoá, lấy Thành phố Hồ Chí Minh và các cửa khẩu biên giới
làm những điểm xuất phát. Lẽ cố nhiên trước sự xâm nhập của các giá trị từ bên
ngoài phản ứng thường diễn ra theo hai chiều: hoặc làm quen dần dần, rồi tiếp
nhận và cải biến, hoặc phê phán và bài trừ. Nhưng đó là cách thức phản ứng thông
thường.
Điều cần nói ở đây là phản ứng cực đoan, cũng diễn ra theo hai chiều: cố
chấp bản sắc và tha hoá bản sắc, mà việc nhận ra và khắc phục nó hoàn toàn
không dễ dàng, bởi lẽ nó đã là một vấn đề nhận thức, lệ thuộc vào chủ thể nhận
thức, vào thói quen ý thức, vào phương thức tổ chức và vận hành cơ chế chính
quyền.
Thế nào là cố chấp bản sắc? Cách đây 10 năm, trong bài viết Bản sắc tộc
người và bạo lực chính trị Maila Joseph viết về vấn đề này như sau: “Toàn cầu
hoá ngay từ ban đầu đã có một hiện tượng tương đồng hoá những lối ứng xử và
những khát vọng. Nền văn minh phương Tây chuyển tải những lí tưởng được tiêu
chuẩn hoá của một nền văn hoá kĩ thuật, tiêu dùng và hoan lạc chủ nghĩa. Sự phản
ứng mang tính bản sắc có thể được giải thích một phần như là một sự phản ứng
đối mặt với sự áp đặt những mô hình văn hoá ngoại lai. Đợt kịch phát bản sắc
trong phạm vi phản ứng với sự tha hoá bản sắc và ít ra cũng có sự khẳng định
mình một cách quá mức mà khước từ một nền văn hoá khác, không đặc sắc và phi
nhân tính”[viii][8]. Trong bối cảnh hiện nay trên thế giới sự cố chấp bản sắc có
thể đưa đến những xung đột bản sắc nhân danh quá trình quay trở về với cội nguồn.
Chủ nghĩa khủng bố thực chất là mạo xưng bản sắc để thực hiện những cuộc tấn
công có chủ đích và phi nhân tính vào các đối tượng mà nó gọi là kẻ thù không đội
trời chung. Cho dù tên gọi “chủ nghĩa khủng bố” đôi khi mang tính chủ quan, áp
đặt, thậm chí miệt thị, song những diễn biến chính trị trong 5 năm trở lại đây cho
thấy trong các hành vi bạo lực ẩn chứa không ít những biểu hiện của cố chấp bản

triển ấy yếu tố “tiên tiến” được nhấn mạnh trước tiên, thống nhất hữu cơ với việc
giữ gìn, bảo tồn các giá trị truyền thống, từng được trải nghiệm trong lịch sử hàng
ngàn năm dựng nước và giữ nước. Sự cố chấp bản sắc, mà thực chất là quan điểm
bảo thủ trong văn hoá, có thể biến tự hào thành tự ti, theo kiểu “ta về ta tắm ao ta,
dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Trong câu ca dao đó vế thứ nhất có thể hiểu từ
góc độ tự tôn dân tộc, nhưng với vế thứ hai mặc cảm nhược tiểu đã thể hiện rõ, và
nếu xét trong điều kiện hiện nay có thể xem như một biểu hiện của lối tư duy co
cụm, bị động, nghĩa là bỏ qua cơ hội tiếp biến văn hoá phù hợp với tâm lí, tính
cách và truyền thống dân tộc trên bước đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bên
cạnh đó điều đáng lo ngại hiện nay là do năng lực quản lí văn hoá hạn chế, tại
nhiều khu vực của ĐBSCL hiện tượng “thả nổi” trong sinh hoạt văn hoá lại tạo
nên những khoảng trống văn hoá nguy hiểm, ảnh hưởng đến sự phát triển chung
của toàn vùng. Thiếu sót này đã được Hội nghị lần thứ Mười Ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá IX nêu ra: “Môi trường văn hoá còn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã
hội… Có biểu hiện lúng túng, hữu khuynh trong cuộc đấu tranh giữa các khuynh
hương tư tưởng trong lí luận - phê bình và sáng tác, trước những tác động ngày
càng phức tạp của quá trình hội nhập kinh tế và giao lưu văn hoá”[x][10]. Sự thả
nổi cũng là nguyên nhân dẫn đến tha hoá bản sắc trong một bộ phận nhân dân,
trong đó có vùng ĐBSCL. Trong Hội thảo Khoa học Những vấn đề văn hoá và
nguồn nhân lực ở ĐBSCL (11/2004) đã có một số tham luận bàn cề hiện tượng này,
như tôi đề cập ở phần trên.
Đối cực của cố chấp bản sắc là tha hoá bản sắc, sự chấp nhận đánh mất cái
Tôi trước sự xâm thực ngày càng mạnh mẽ của các yếu tố ngoại lai, mà không
phải yếu tố nào cũng phù hợp với tâm lý và tính cách của người Việt Nam, và đây
là nguy cơ lớn đối với chiến lược phát triển ĐBSCL. Sự tha hoá thể hiện trước hết
ở lối sống thực dụng, sự thương mại hoá hoạt động văn hoá, chạy theo thị hiếu tầm
thường, xa rời nguồn cội, là ở thứ triết lí vọng ngoại, đi ngược lại truyền thống dân
tộc. Có vẻ như mức độ hội nhập càng cao thì tha hóa bản sắc theo hướng đồng hoá
và hoà tan càng gia tăng. Điều đáng ngạc nhiên là hiện tượng mô phỏng, bắt chước,
đua đòi, tâm lí hưởng thụ xâm nhập vào tất cả các đối tượng, không phân biệt trình

tự không được đảm bảo, gây nên tâm lý bất an cho du khách và những người tham
dự. Sức hấp dẫn của các lễ hội đối với giới trẻ không cao, nếu không nói là không
đáng kể. Họ không tìm thấy vị trí của mình ở đó. Các cuộc liên hoan nghệ thuật
diễn ra khá trang trọng, với sự hiện diện của đại diện cấp ủy, chính quyền, các nhà
quản lí văn hoá, nhưng hiệu ứng tích cực sau liên hoan thì không. Vì thế mới xảy
ra nghịch lí giữa một bên là nhu cầu mở rộng không gian giao tiếp với thế giới bên
ngoài thông giao lưu, đối thoại, nhưng lại chưa đủ lực, và một bên là những biện
pháp bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc trong văn hoá và giới thiệu chúng ra thế
giới, nhưng lại chưa đủ linh hoạt để tạo sức hấp dẫn. Tính hình thức, thiếu đồng
bộ và thiếu tính thiếu chuyên nghiệp của sự tổ chức văn hoá và sự nghèo nàn sân
chơi văn hoá là một trong những nguyên nhân của tình trạng tha hoá bản sắc.
Điều đó tạo ra mảnh đất màu mỡ cho các giá trị, các chuẩn mực từ bên ngoài
(mà không phải tất cả đều phù hợp với tính cách người Việt) phát triển, phổ biến,
phá vỡ hoặc làm biến dạng các giá trị truyền thống. Sự biến dạng giá trị (tôi xin
nhấn mạnh hiện tượng này) có tính hai mặt, một mặt các giá trị truyền thống chịu
sự phản biện khắt khe của những chuyển biến kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
diễn ra trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi đưa vào nội hàm của mình những tính quy
định mới, những yếu tố mới, nếu không muốn bị coi là lỗi thời - đó là biến dạng
tích cực, biến dạng để thích nghi; mặt khác, sự lắp ghép gượng ép truyền thống
với hiện đại nhân danh “hiện đại hoá truyền thống” trên thực tế đã loại bỏ truyền
thống, nghĩa là loại bỏ cái nguyên bản, cái hồn vốn có của nó dưới tác động đa
chiều của hội nhập, toàn cầu hoá và kinh tế thị trường.
Sự tha hoá bản sắc đang diễn ra một cách phổ biến trong thái độ đối với
truyền thống. Tính biệt hoá, thực dụng hoá và sự ích kỉ đã đưa đến tình trạng xa
rời nguồn cội trong một bộ phận giới trẻ, sự tính toán lạnh lùng theo triết lí “tiền là
trên hết” của những người nông dân nghèo ở vùng nông thôn ĐBSCL trong cuộc
mưu sinh khắc nghiệt. Việc 45% học sinh Trường trung học phổ thông Hùng
Vương không biết Hùng Vương là ai, hay nhiều học sinh Trường THCS Nguyễn
Văn Bé “mù tịt” về Anh hùng Nguyễn Văn Bé, nhưng lại nắm rất tốt lí lịch trích
ngang của Michael Jackson, đâu có gì khác với việc học sinh tỉnh Trà Vinh không

đắn đối với cái thứ hai thật khó mà nói đến quan điểm đổi mới trong văn hoá phù
hợp với những đòi hỏi của phát triển bền vững và đi vào chiều sâu, nghĩa là gắn
kết các vấn đề văn hoá với cải thiện chất lượng sống và lối sống, môi trường văn
hoá với môi trường chính trị và không gian kinh tế đang ngày càng trở nên sôi
động. Giáo dục ý thức hội nhập cũng đồng thời góp phần khắc phục những phản
ứng cực đoan như vừa nói trên trước tác động của toàn cầu hoá và liên kết kinh tế
quốc tế.
Muốn như vậy trước hết cần đổi mới công tác cán bộ, đào tạo đội ngũ những
người làm công tác văn hoá vừa giỏi về chuyên môn, vừa có bản lĩnh chính trị và
nhạy bén nắm bắt cái mới, khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, cục bộ địa
phương và cả chủ nghĩa giáo điều trong xử lí văn hoá. Tiếp đó, cần tạo ra những
sân chơi văn hoá thực sự lành mạnh và có sức thu hút đối với giới trẻ, chủ động
đón nhận và cải biến những giá trị từ bên ngoài, chấp nhận cả sự “lệch chuẩn” tạm
thời trong sáng tạo để phát hiện và bồi dưỡng, khuyến khích cái mới, đồng thời
ngăn chặn có hiệu quả sự lan tỏa của cái xa lạ với bản sắc dân tộc. Nhằm giới
thiệu văn hoá khu vực ra thế giới, qua đó khẳng định cái Tôi dân tộc trong văn hoá,
cần đẩy mạnh quảng bá văn hoá dưới nhiều hình thức khác nhau, từ việc tổ chức
các hội thảo, các diễn đàn văn hoá mang tầm quốc tế, đến nâng cao hiệu quả của
hoạt động văn hoá và kinh doanh các sản phẩm văn hoá.
Cuối cùng, để định hướng thành công sự sáng tạo và hưởng thụ văn hoá,
khắc phục tình trạng thực dụng hoá văn hoá cần xoá dần ranh giới giữa thành thị
và nông thôn, nâng cao trình độ dân trí, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề lao
động dư thừa, vấn đề bình đẳng giới, vấn đề tôn giáo, dân tộc… Nói khác đi, môi
trường văn hoá chỉ trở nên lành mạnh một khi các nhu cầu vật chất và tinh thần
của người dân được đảm bảo trong điều kiện hiện có của từng vùng, từng địa
phương.
Với điều kiện tự nhiên và con người khá đặc sắc, lại là vùng đất mới, còn
nhiều giá trị chưa khai thác hết, khu vực ĐBSCL có điều kiện trở thành vùng đất
hấp dẫn thực sự, thành điểm nóng của phát triển văn hoá trong quá trình hội nhập,
nếu có những con người không chỉ lo tuyên truyền văn hoá, mà còn biết “làm” văn

xã hội – chuyên đề, Hà Nội, 1998, tr. 206.
[ix][9] xem Terrorism,
[x][10] Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam, số 30-Kl/TW.
Kết luận Hội nghị lần thứ Mười Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX), Hà
Nội, 20/7.2004, tr. 2, Tài liệu lưu hành nội bộ
[xi][11] xem thêm Báo Công an TP. HCM, số 1488, thứ Năm, 9/10/2006; Báo
Người Lao động, số 3767, 3768, 3769, các ngày 24, 25, 26 tháng 10/2006, và các
báo khác
[xii][12] Dẫn Tạp chí Khoa học xã hội, số 09(85)/2005, tr. 46 – 51


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status