LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động
tiêu thụ sản phẩm tại các liên doanh ô tô
trong bối cảnh toàn cầu hoá
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trang
1
MỤC LỤC Trang
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế Quốc tế của Việt Nam 7
I. Một số vấn đề về toàn cầu hoá 7
1. Toàn cầu hoá và chiến lược của các nước đang phát triển 7
1.1. Các nước đang phát triển trong cơn lốc toàn cầu hoá 7
1.1.1. Bất bình đẳng - mảng tối của bức tranh toàn cầu hoá 10
1.1.2. Giáo dục - Phương thuốc hữu hiệu làm giảm bất bình đẳng 12
1.2. Toàn cầu hoá mang tính hai mặt 13
1.2.1 Những cơ hội khi tham gia toàn cầu hoá 13
1.2.2 Những thách thức khi tham gia toàn cầu hoá 16
1.3 Toàn cầu hoá gắn liền với xu thế khu vực hoá 17
2. Hội nhập kinh tế Quốc tế của Việt Nam - thuận lợi và khó khăn 19
Trang
2
4.2.1. Đối với xe tải nhẹ 46
4.2.2. Đối với xe du lịch 7 chỗ 46
4.2.3. Đối với xe hai cầu 7 chỗ 47
4.2.4. Đối với xe du lịch 12 chỗ 47
4.2.5. Đối với xe du lịch 7 chỗ 48
4.2.6. Đối với xe du lịch 5 chỗ 48 Chương III: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu 51
thụ sản phẩm của các liên doanh sản xuất và lắp ráp ô tô tại Việt
nam - Nghiên cứu điển hình tại Xí nghiệp liên doanh sản xuất ô tô
Hòa Bình
I. Phân tích thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm của VMC 51
1. Phân tích kết quả tiêu thụ sản phẩm 51
1. 1.Sản phẩm của VMC 51
1.2.Phân tích kết quả tiêu thụ sản phẩm của VMC 54
2. Phân tích các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm của VMC 59
2.1. Hoạt động điều tra nghiên cứu thị trường 59
2.2. Chiến lược sản phảm 59
2.3. Chiến lược giá cả 61
2.4. Chính sách phân phối sản phẩm 63
2.5. Khuyếch trương sản phẩm 65
2.6. Chích sách hậu mãi 67
3. Khả năng năng cạnh tranh của VMC 68
5.2. Tổ chức tốt hoạt động bảo hành bảo dưỡng sau bán 80 IV. Các điều kiện đảm bảo thực hiện tại Xí nghiệp liên doanh sản 81
xuất ô tô Hoà Bình
1. Điều kiện về công nghệ và kỹ thuật sản xuất 81
2. Điều kiện về vốn kinh doanh 82
3. Điều kiện về tổ chức và nhân sự 82 Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trang
4DANH MỤC BẢNG BIỂU:
BẢNG:
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm và mức độ thay đổi của khối lượng
mậu dịch thế giới (%)
Bảng 2: Vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực năm 2002.
Bảng 3: Số lượng tiêu thụ ô tô tại một số nước ASEAN
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện ở Việt Nam có 14 liên doanh sản xuất và lắp ráp ô tô được cấp giấy phép hoạt
động, trong đó 11 liên doanh đã đi vào hoạt động và có sản phẩm tiêu thụ trên thị trường,
02 liên doanh đang tiến hành xây dựng nhà xưởng và chuyển giao công nghệ, 1 liên doanh
đã bị giải thể.
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang phát triển trong một xu thế chung của toàn
thế giới - đó là xu thế toàn cầu hoá. Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đang là một vấn
đề nóng bỏng buộc các nhà hoạch định chính sách phải dày công suy nghĩ để làm sao có
được kết quả tốt nhất, phù hợp nhất. Một trong những bước đi đầu tiên trong quá trình hội
nhập là những cam kết của khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA/CEPT). Công nghiệp
ô tô Vịêt nam cũng phải tìm ra con đường đi riêng của mình. Khi những cam kết này được
thực hiện, ô tô của các nước ASEAN sẽ tràn sang Việt Nam. Và với lợi thế của nhũng
nước đi trước, họ sẽ chiếm ưu thế so với ngành công nghiệp ô tô non trẻ của chúng ta.
Ở các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất
kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khi sản phẩm
của doanh nghiệp được tiêu thụ tức là nó được người tiêu dùng chấp nhận. Sức tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp thể hiện uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, sự thích
ứng với nhu cầu người tiêu dùng và sự hoàn thiện các hoạt động dịch vụ. Nói cách khác
tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp đồng
thời nó thể hiện cả ba mục tiêu: lợi nhuận, vị thế và an toàn.
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt bắt buộc mỗi doanh
nghiệp phải nỗ lực hết sức để tồn tại và phát triển thì việc tiêu thụ sản phẩm càng có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó là cơ sở để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được tiến hành thường xuyên, liên tục, có hiệu quả nhằm đưa doanh nghiệp phát triển hơn
nữa. Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự xác định cho mình phương hướng, cách
thức tiêu thụ thích hợp với khả năng và điều kiện của doanh nghiệp mình.
Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm, chiếm thị phần lớn luôn là mục tiêu phấn
đấu chung của tất cả các liên doanh ô tô hiện đang hoạt động tại Việt Nam. Nó có ý nghĩa
rất lớn đối với sự phát triển của các liên doanh và còn đối với sự phát triển của ngành công
số liệu để tôi có thể hoàn thành bản khoá luận này. CHƯƠNG I
TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CỦA VIỆT NAM
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trang
7
I. Một số vấn đề về toàn cầu hóa
1. Toàn cầu hoá và chiến lược của các nước đang phát triển
1.1. Các nước đang phát triển trong cơn lốc toàn cầu hóa
Chúng ta biết rằng chủ nghĩa tư bản đã tạo ra sự phát triển của sản xuất mà chưa
nền văn minh nào trước đó đạt được. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, các cuộc
chiến tranh giành giật thị trường cũng không ngừng bùng nổ. Chính từ những cuộc chiến
tranh này mà các nước tư bản đã triển khai một sức mạnh kinh tế, quân sự bao trùm thế
giới. Như vậy, có thể nói thời đại quốc tế hóa đã được mở ra trong vũ lực và bóc lột đối với
các vùng thuộc địa. Vào thế kỷ XIX đế quốc Anh có sự phát triển mạnh, khống chế hầu
như toàn bộ thế giới. Cho đến đầu thế kỷ XX nước Anh kiểm soát các đường giao thông
hàng hải quốc tế và khống chế nhiều vùng thuộc địa với 1/5 diện tích trái đất. Sự hội nhập
của các thị trường thuộc địa vào thị trường thế giới đã đưa đến sự biến động về luồng di
dân và giao lưu phát triển kinh tế. Thời kỳ này bên cạnh hoạt động hàng hóa hữu hình là sự
đang phát triển phải thi hành để cải cách và thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Điều này có
nghĩa là, Mỹ dùng các thể chế quốc tế WB và IMF để thu hẹp thâm hụt kinh tế thành tăng
trưởng kinh tế theo mô hình của Mỹ. Mô hình này dựa trên hai vấn đề chủ yếu sau: một là
ổn định kinh tế vĩ mô mà trong đó giảm lạm phát và giảm thâm hụt ngân sách là mục tiêu
hàng đầu; hai là cải cách cơ cấu kinh tế bằng tự do hoá mậu dịch, tự do hoá tài chính, tư
nhân hoá và thu nhỏ một cách dứt khoát vai trò của nhà nước trong nền kinh tế.
Trên lý thuyết thì tự do hoá thương mại và tài chính giúp gia tăng hiệu quả kinh tế
và về lâu dài nó đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc tế. Trên thực tế, tự do hoá, đặc biệt là tự do
hoá tài chính, làm lợi nhiều nhất cho nhóm thu nhập cao, làm tài sản của họ ngày một gia
tăng, dựa trên việc đầu tư những tài sản đã có. Tự do hoá giúp họ có những cơ hội đầu tư
với lợi nhuận cao và nhanh chóng rút ra khỏi cuộc chơi khi rủi ro đến gần, do họ là một
trong số ít người được trang bị tri thức đầy đủ về thị trường và có khả năng nắm bắt, xử lý
thông tin hơn các bộ phận khác trong cộng đồng. Khi kinh tế suy thoái, nhóm thu nhập
thấp luôn là nhóm bị tổn thương nhiều nhất do những khoản tiết kiệm ít ỏi của họ buộc
phải đem ra để trả nợ nước ngoài, phần còn lại của các khoản tiết kiệm này thì lại bị mất
mát lớn do đồng tiền trong nước mất giá.
Tư nhân hoá, nếu thi hành một cách dân chủ, công khai, tôn trọng pháp luật, có
giám sát của chính quyền và nhân dân, thì có thể đ
em lại lợi ích chung cho nền kinh tế
cũng như cho nhóm có thu nhập thấp. Nhưng ở nhiều nước, tư nhân hoá đã làm cho phân
hoá giàu nghèo thêm sâu sắc. Trường hợp điển hình là ở Nga, vì vấn đề tham nhũng được
"hợp pháp hoá" qua tư nhân hoá. Vì thế, nếu chính sách tư nhân hoá không được thi hành
với mục đích tạo thêm bình đẳng cho xã hội thì về lâu dài sẽ làm cho bất bình đẳng ngày
càng trầm trọng.
Bảng 1 - Tốc độ tăng trưở
ng kinh tế hàng năm và mức thay đổi của khối lượng mậu dịch
thế giới (%).
Các năm Mức tăng mậu dịch thế giới Mức tăng trưởng kinh tế
gắn bó chặt chẽ với nhau, đó sẽ là công cụ đắc lực của toàn cầu hóa kinh tế.
Một vấn đề khác là thị trường lao động quốc tế được mở rộng. Trong xu thế toàn
cầu hóa hiện nay, dưới tác động của sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã mở ra
cho con người khả năng giao lưu, tiếp cận các thông tin, nâng cao trình độ dân trí. Vì vậy
con người có thể tiếp cận được nhiều các cơ hội việc làm hơn ở các nước khác nhau. Bên
cạnh đó, bản thân sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia đã là nhân tố hạn chế sự
dịch chuyển lao động quốc tế. Song chính điều đ
ó lại càng tạo ra sự gắn kết chặt chẽ của
thị trường lao động quốc tế chứ không phải là ngược lại. Lao động ở các quốc gia đang
phát triển được thu hút vào chi nhánh các công ty xuyên quốc gia.
1.1.1. Bất bình đẳng - mảng tối trong bức tranh toàn cầu hoá
Hiển nhiên quá trình toàn cầu hóa gắn liền với chủ nghĩa tư bản dựa trên sự phát
triển của khoa học kỹ thuật tạo ra sự
phát triển sản xuất mạnh mẽ. Và chính trong sự phát
triển sản xuất với mục tiêu lợi nhuận các tổ chức độc quyền cạnh tranh nhau gay gắt. Kết
quả là hình thành những liên minh độc quyền không chỉ trong phạm vi quốc gia mà trên
phạm vi quốc tế.
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trang
10
Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phạm vi ảnh
hưởng của chủ nghĩa tư bản được mở rộng. Các nước đế quốc mưu toan lợi dụng xu thế
toàn cầu hóa để nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Rõ ràng là xét về logic và
lịch sử thì toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, là kết quả của sự phát triển lực lượng sản
xuất, của kinh tế thị trường, song cũng cần phải thấy toàn cầu hóa hiện nay không phải
không có tính chất chính trị do việc tham gia vào toàn cầu hóa xuất phát từ các lợi ích khác
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trang
11
cực hơn và do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng nhiều nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90
đến nay đã chứng minh rằng sự bất bình đẳng ở các nước trên thế giới đã có ảnh hưởng
tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế trong các nước ấy trong vòng 150 năm qua.
Các con số thống kê cho thấy, bất bình đẳng thường gia tăng nhanh hơn ở các nước
đang phát triển. Bên cạnh đó, mức độ chênh lệch của các nhóm nghèo giữa các nước phát
triển và các nước đang phát triển rất lớn và ngày càng tăng. Nếu tính theo chỉ số phát triển
con người của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) dựa trên ba tiêu chuẩn cơ
bản là giáo dục, thu nhập và tuổi thọ thì mức độ bất bình đẳng còn nghiêm trọng hơn
nhiều. Tính đến năm 1995, chỉ số phát triển con người của Thái Lan đứng thứ 59 trên thế
giới, của Inđônêxia là 96, của Malaixia là 98, của Việt Nam là 122. Điều này chứng tỏ cái
gọi là "thần kỳ kinh tế" của châu Á chưa đến được với đông đảo người dân ở đây.
Tuy nhiên, nếu không có tăng trưởng kinh tế thì số người nghèo càng đông hơn và
việc xoá đói giảm nghèo càng khó duy trì. Mặt khác, nếu không giải quyết được một phần
nào vấn đề phân hóa giàu nghèo thì không thể đảm bảo phát triển kinh tế dài hạn. Bất bình
đẳng cản trở phát triển kinh tế và hiệu quả của nền kinh tế vì nó làm giảm bớt sự hăng say
của con người trong quá trình làm việc cũng như tiết kiệm và đầu tư. Bên cạnh đó, bất bình
đẳng còn gây cho người dân cảm giác về một thể chế bất công, phi hiệu qủa, ảnh hưởng
đến tiến trình phát triển kinh tế dài hạn. 1.1.2. Giáo dục - Phương thuốc hữu hiệu giảm bất bình đẳng.
Trong thời đại kinh tế toàn cầu hoá dựa trên tri thức và thông tin, thì giáo dục là tài
sản còn quý hơn đất đai vì nó giúp con người cải thiện thu nhập nhanh chóng. Đối với một
trong thu nhập cũng ảnh hưởng sâu sắc tới cung và cầu giáo dục trong nền kinh tế. Nếu các
chính phủ tài trợ giáo dục phổ thông cho nhiều trẻ em trong tuổi đi học, thì gánh nặng thuế
sẽ chuyển dịch từ nhóm có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập cao hơn, dẫn tới sự phân bổ
nguồn lực công bằng hơn. Tuy nhiên, để tránh gánh nặng thuế, các nhóm thu nhập cao sẽ
chống các biện pháp tài trợ giáo dục phổ thông và tìm cách để chuyển các nguồn tiền tài
trợ này cho giáo dục đại học và sau đại học, nơi mà con em của họ sẽ được lợi nhiều nhất.
Nếu thu nhập được phân bố đồng đều hơn, thì thuế dùng để tài trợ cho giáo dục phổ thông
cũng được chia đồng đều hơn, do đó sự chống đối của các nhóm thu nhập cao sẽ yếu hơn.
Birdsall cũng chỉ ra rằng tuy ngân sách cho giáo dục tính theo phần trăm GDP ở
châu Mỹ Latinh không thấp hơn các nước Đông Á, nhưng tỷ lệ ngân sách được phân bổ
cho giáo dục phổ thông lại thấp hơn Đông Á. Một nghiên cứu cho biết rằng chi phí cho
một sinh viên đại học lớn gấp 50 lần chi phí cho một học sinh cấp tiểu học. Một ví dụ
tương phản giữa châu Mỹ Latinh và Đông Á là trường hợp của Venezuela và Hàn Quốc.
Năm 1985 Venezuela dành 43% ngân sách giáo dục cho đại học và sau đại học trong khi
Hàn Quốc chỉ dành có 10%. Ngân sách dành cho giáo dục tính theo phần trăm GDP của
Venezuela cao hơn (4,3%) ở Hàn Quốc (3%) nhưng sau khi trừ đi phần chi phí cho giáo
dục đại học và sau đại học, phần ngân sách cho giáo dục phổ thông ở Hàn Quốc là 2,5%
GDP, trong khi Venezuela chỉ là 1,3%. Do đó, ở Đông Á, một số lượng lớn các trẻ em
nghèo được hưởng ngân sách cho giáo dục phổ thông, trong khi ở châu Mỹ Latinh, số
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trang
13
lượng nhỏ các con cái nhà giàu được lợi. Đây là lý do tại sao trẻ em nghèo ở châu Mỹ
Latinh ít có cơ hội học phổ thông hơn và chất lượng giáo dục thấp hơn khu vực Đông Á.
Tóm lại toàn cầu hoá đang tạo một sân chơi bình đẳng cho các nước nghèo. Và để
giảm bớt sự bất bình đẳng này, bên cạnh việc kêu gọi xây dựng luật chơi mới bình đẳng
Trang
14
- Quá trình toàn cầu hóa tạo cơ hội cho các quốc gia tiếp cận với nguồn vốn và
công nghệ kỹ thuật, trình độ quản lý cao. Ngày nay, trong nền kinh tế toàn cầu cùng với
việc mở cửa thị trường làm cho quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa dịch vụ gia tăng mạnh
mẽ là dòng lưu chuyển của vốn, của công nghệ cũng được mở rộng và đẩy nhanh. Tham
gia vào toàn cầu hóa các quốc gia không chỉ tận dụng được thị trường mà còn có thể thu
hút, sử dụng các dòng vốn quốc tế. Điều này có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với các
quốc gia đang phát triển, nơi đang rất cần vốn và trình độ quản lý tiên tiến. Vì vậy, có thể
thấy toàn cầu hóa vừa là điều kiện vừa là nhân tố kích thích sự phát triển của khoa học
công nghệ. (xem bảng 2).
Bảng 2 - Vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực năm 2002:
Đơn vị: tỷ USD
Các khu vực Số lượng vốn đầu tư Tỷ lệ (%)
Thế giới 3.578 100
Các nước công nghiệp 2.491 69,6
Tây Âu 1.267 35,4
Bắc Mỹ 872 24,4
quá trình hội nhập, các quốc gia đều nhanh chóng được tiếp nhận những thông tin tri thức
mới góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở nền tảng cho dân chủ phát triển. Trong
môi trường bảo hộ, đặc biệt với nền kinh tế "khép kín" khó có thể tiếp nhận và áp dụng
những thông tin tri thức mới. Ngày nay, sự hiện diện của mạng Internet đã nhanh chóng
lan truyền thông tin toàn cầu, sự ngăn cách không gian hầu như không còn ý nghĩa. Với
các phương tiện thông tin và giao thông hiện đại, con ngưòi ở các vùng xa xôi hẻo lánh
cũng tiếp cận được những tri thức văn hóa thế giới. Toàn cầu hóa đưa lại điều kiện giao lưu
hội nhập của con người giữa các nền văn hóa, không những con người hiểu nhau hơn mà
còn góp phần nâng cao giá trị văn hóa truyền thống, xóa bỏ những hủ tục phi nhân văn, mở
ra điều kiện phát triển cho con người và cho sự chung sống hòa bình của các nền văn hóa.
1.2.2. Những thách trong quá trình tham gia toàn cầu hóa
- Toàn cầu hóa đã không phân phối công bằng các cơ hội và lợi ích giữa các khu
vực, quốc gia, trong mỗi quốc gia và từng nhóm dân cư. Trên thực tế, trong toàn cầu hóa
những nước phát triển giàu có, những cá nhân giàu có mới được hưởng phần lớn những lợi
thế. Vì vậy, toàn cầu hóa đã làm gia tăng tình trạng bất công, làm sâu sắc sự phân hóa giàu
nghèo. Hiện nay, các quốc gia phát triển chiếm 20% dân số thế giới, nắm 73% khối lượng
buôn bán trao đổi tài sản và dịch vụ, 58% đầu tư trực tiếp nước ngoài và 91% số người sử
dụng Internet. Hầu như tuyệt đại đa số bộ phận các công ty xuyên quốc gia, thế lực chính
của toàn cầu hóa thuộc về các quốc gia phát triển. Cùng với sự gia tăng của quá trình toàn
cầu hóa sự chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số giàu nhất với 20% dân số nghèo nhất
cũng tăng lên mạnh mẽ. Tỷ lệ này năm 1960 là 30/1, năm 1990 là 60/1 và năm 2001 là
77/4. Tổng tài sản của 367 tỷ phú trên thế giới hiện nay không thua kém thu nhập của 3,1
tỷ người ở các nước nghèo. Vấn đề đặt ra là phải chăng toàn cầu hóa càng gia tăng thì thế
giới càng phân hóa? Thực tế này đặt ra yêu cầu cần phải đấu tranh cho một quá trình toàn
cầu hóa với mục tiêu nhân bản hơn.
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
ổ biến của các loại hình văn hóa ngoại lai với lối sống trái ngược thuần
phong mỹ tục, làm băng hoại đạo đức con người. Mạng Internet là phương tiện thông tin
tuyệt vời và nó cũng là con đường xâm thực về mặt văn hóa khá nguy hiểm nếu không có
cách quản lý hiệu quả.
1.3. Toàn cầu hóa kinh tế gắn liền với xu thế khu vực hóa.
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trang
17
Nét mới và là một trong những đặc trưng của xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay là
nó diễn ra cùng với xu thế khu vực hóa. Trong quan hệ với toàn cầu hóa thì xu thế khu vực
hóa được xem là bước chuẩn bị để tiến tới toàn cầu hóa, mặt khác xu thế khu vực hóa hiện
nay phản ánh một thực trạng co cụm nhằm bảo vệ những lợi ích tương đồng giữa một vài
nước trước những tác động tiêu cực do toàn cầu hóa đặt ra.
Khu vực hóa có nhiều mức độ khác nhau, từ một vài nước và lãnh thổ đến nhiều
nước tham gia vào một tổ chức khu vực địa lý. Hiện nay có các tổ chức đáng chú ý như
Liên minh châu Âu (EU); Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA); Diễn đàn kinh tế
hợp tác châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA);
Tổ chức hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) EU - tổ chức liên kết khu vực ở trình độ cao
nhất, và AFTA - tổ chức liên kết khu vực mà chính Việt Nam chúng ta đang là một thành
viên.
Với việc thực hiện liên kết AFTA rõ ràng năng lực hội nhập của ASEAN vào nền
kinh tế thế giới sẽ gia tăng. Bởi lẽ, việc mở rộng buôn bán tự do trong khu vực sẽ bảo vệ và
nâng cao vị thế của ASEAN đối với các khu vực khác. Qua hợp tác nội bộ sẽ góp phần
giảm bớt sự lệ thuộc vào các tổ chức và quốc gia bên ngoài và sự hợp tác này sẽ tạo đà cho
việc tham gia hợp tác trong không gian mở rộng hơn như APEC và WTO. Với những lợi
trình này. Để khắc phục điều đó các quốc gia có những điểm tương đồng tìm đến nhau tạo
lập các tổ chức kinh tế, tạo cho nhau những điều kiện thuận lợi hơn các quy định quốc tế
hiện hành. Như vậy về trình độ hợp tác hoá khu vực hiện nay cao hơn so với toàn cầu hoá.
Tuy vậy khu vực hoá chỉ là tạm thời, nó ra đời trên cơ sở một trình độ phát triển nhất định
của toàn cầu hoá, là bước tất yếu trên đường đi tới toàn cầu hoá. Hợp tác hoá kinh tế khu
vực càng phát triển sẽ là điều kiện và động lực cho toàn cầu hoá kinh tế.
Thực trạng phát triển hiện nay cho thấy toàn cầu hoá mới chỉ ở giai đoạn đầu. Để
tiến tới một thế giới toàn cầu hoá, loài người còn phải phấn đấu lâu dài để loại bỏ những
khác biệt trên những bình diện khác nhau. Toàn cầu hoá và khu vực hoá là xu hướng tất
yếu, nó xuất hiện và gia tăng gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là
khoa học công nghệ. Điều này cũng có nghĩa hội nhập quốc tế và khu vực là yêu cầu tất
yếu của phát triển. Vấn đề là hội nhập ra sao? Tiến trình và cách thức thế nào để tận dụng
được những mặt tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của những xu thế trên.
2. Hội nhập kinh tế Quốc tế của Việt Nam - Thuận lợi và khó khăn
Trên thực tế nền kinh tế Việt Nam mới hội nhập kinh tế quốc tế ở mức độ và quy
mô hạn chế. Do nhu cầu phát triển nền kinh tế hiện tại và trong tương lai cũng như xu thế
phát triển chung của thế giới đã đến lúc chúng ta cần phải đẩy nhanh quá trình hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới.
2.1. Quá trình hội nhập quốc tế trong những năm gần đây
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc ta, thực ra chưa bao giờ
chúng ta tách khỏi nền kinh tế thế giới. Trướ
c khi nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
(nay là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) ra đời, chúng ta đã tham gia vào tiến trình
kinh tế thế giới, tuy nhiên đó là quá trình bị động khi mà nền kinh tế của chúng ta chịu sự
chi phối của chủ nghĩa thực dân. Sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời, do
điều kiện chiến tranh nên việc phát triển kinh tế rất hạn chế. Quan hệ của Việt Nam với
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
53%. Cùng với vốn FDI chúng ta còn tiếp nhận một lượng không nhỏ nguồn vốn ODA
thực sự có ý nghĩa quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng. Tính ra mức vốn nước ngoài
hiện nay chiếm khoảng 32% tổng vốn
đầu tư xã hội. Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài trong GDP đều tăng lên qua các năm.
Cùng với việc mở cửa thu hút vốn nước ngoài, gia tăng xuất khẩu, các doanh
nghiệp Việt Nam cũng đã mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài, kể cả vào những nước phát triển
như Nhật Bản. Tính cho đến nay các doanh nghiệp Việt Nam đã có 27 dự án đầu tư ra
nước ngoài với tổng số khoảng 8 triệu USD, tập trung chủ yếu trong lĩnh vực chế biến thực
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trang
20
phẩm, thương mại, dịch vụ và xây dựng. Đồng thời những năm 90 chúng ta đã ký các hợp
đồng lao động đưa hơn 8 vạn lao động ra nước ngoài làm việc.
Thực ra để đạt được những kết quả như trên trong những năm qua Việt Nam đã có
nhiều đổi mới cải thiện môi trường đầu tư, đặc biệt là Luật đầu tư, mặc dù còn phải điều
chỉnh song đã được thừa nhận là luật cởi mở, có sức thu hút đối với FDI. Chúng ta cũng có
nhiều đổi mới trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, điều chỉnh các mức thuế theo hướng ngày
một tự do hơn.
Kết quả hội nhập còn được thể hiện rõ ở việc gia nhập và tham gia vào những hoạt
động kinh tế khu vực và toàn cầu. Chúng ta đã trở thành thành viên của ASEAN, APEC,
có quan hệ chặt chẽ với các tổ chức chuyên môn của UN, IMF, WB và ADB. Đặc biệt
chúng ta đã từng bước bình thường hoá quan hệ ngoại giao và thương mại với Mỹ, đã ký
kết hiệp định thương mại Việt - Mỹ và đang xúc tiến gia nhập WTO.
Việc hội nhập tích cực, chủ động như trên đã góp phần quan trọng vào thành tựu
kinh tế - xã hội những năm đổi mới vừa qua. Không những phá vỡ được thế bao vây cô lập
quá trình tham gia hội nhập. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang chuyển sang nền
kinh tế trí tuệ, khoa học - công nghệ phát triển mạnh, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
chi phối mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, nhưng cũng không thể thay thế được vai trò của
nguồn nhân lực lao động. Trong thực tế nhiều công ty nước ngoài vào Việt Nam, một trong
những lý do quan trọng là tận dụng nguồn nhân lực lao động dồi dào, rẻ và có khả năng
tiếp thu công nghệ mới.
- Chúng ta đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện đất nước
hoà bình, chính trị xã hội ổn định. Đây là điều kiện quan trọng tiên quyết để phát triển kinh
tế, mở rộng quan hệ đối ngoại. Hơn nữa, nó đảm bảo vai trò định hướng trong hội nhập
quốc tế. Sự ổn định về kinh tế xã hội cho phép tập trung toàn thể sức lực của nhân dân cho
phát triển đất nước. Trong những năm qua chúng ta không những phát huy tốt nguồn nhân
lực trong nước mà còn thu hút được sự đóng góp không nhỏ của kiều bào ta ở nước ngoài
cùng với một lượng vốn lớn của nước ngoài đổ vào Việt Nam. Sự ổn định chính trị xã hội
thực sự là yếu tố quan trọng tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh tăng thu hút đối với
đầu tư.
Trong những năm qua Việt Nam cũng đã gia tăng quan hệ với Liên Hiệp Quốc,
IMF, WB. Cho đến nay đã hơn 20 năm Việt Nam tham gia vào LHQ. Sự tham gia này cho
phép Việt Nam nhận được sự giúp đỡ của LHQ trong nhi
ều lĩnh vực, đồng thời qua đó
Việt Nam cũng đóng góp vào sự phát triển của tổ chức này. Ngày nay chúng ta đã tham gia
tích cực vào các hoạt động của LHQ và có quan hệ chặt chẽ với các tổ chức của LHQ như
UNDP, UNFPA, UNICEF, UNHCR v.v
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tham gia hội nhập tích cực dưới hình thức quan hệ
song phương. Đáng chú ý là quan hệ của ta với Nhật, Mỹ và các nước thành viên EU.
Riêng Nhật Bản và các thành viên EU là những quố
c gia có quan hệ khá thuận lợi đối với
Việt Nam. Nhật Bản luôn là quốc gia cung cấp ODA lớn nhất, bạn hàng thương mại lớn
nhất và là một trong ba nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam. Đối với EU, Việt Nam cũng là
một trong những quốc gia nhận tài trợ chính từ EU. Tháng 7/1995 Việt Nam và EU đã ký
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
phẩm sẽ có giá thành cao, không có sức cạnh tranh. Sự yếu kém còn thể hiện ở chỗ cơ cấu
mặt hàng xuất khẩu cũng không có tính cạnh tranh. Hiện chúng ta chủ yếu xuất khẩu
nguyên liệu và các sản phẩm sơ chế như dầu thô, gạo, cao su, chè, cà phê .Các sản phẩm
công nghiệp, nhất là những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao ít, sức cạnh tranh yếu.
Chúng ta biết rằng chủ thể tham gia thực sự vào hội nhập là các doanh nghiệp.
Trong khi đó các doanh nghiệp của ta còn nhỏ và y
ếu. Yếu cả về khả năng quản lý kinh
doanh lẫn năng lực sản xuất. Hiện nay trong 6000 doanh nghiệp Nhà nước chỉ có khoảng
5% làm ăn thực sự có hiệu quả hơn, nhưng phần tuyệt đại bộ phận cũng là doanh nghiệp
vừa và nhỏ, khả năng về vốn và công nghệ cũng bị hạn chế. Trong khi đó, cơ chế chính
sách khuyến khích bộ phận kinh tế này cũng chưa tạo ra cho họ môi trường thuận lợi. Đó
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Mai Hòa - Lớp A1 CN9
Trang
23
là chưa kể hệ thống thuế của ta, nhiều doanh nghiệp còn kêu quá cao dẫn đến giá thành
sản phẩm của họ cao, giảm năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh kém là nguy cơ lớn khi đẩy nhanh nhịp độ hội nhập. Để hội
nhập có hiệu quả vấn đề là làm sao phải nâng cao được năng lực cạnh tranh thì các doanh
nghiệp mới có thể đứng vững được trước sự xâm nhập của hàng hoá bên ngoài và từ đó
mới có thể vươn ra được thị trường thế giới. Vì vậy, nhà nước cũng như các doanh nghiệp
cần có chính sách để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh, xem đó là
nhiệm vụ hàng đầu hiện nay nếu không sẽ không thể chạy kịp với lịch trình hội nhập vào
AFTA.
- Nền kinh tế thị trường thế giới hiện nay đã phát triển trong khi đó chúng ta mới
chuyển sang kinh tế thị trường, vì vậy, các yếu tố của thị trường cũng chỉ mới hình thành ở
bước đầu chưa phát triển. Hơn nữa nền kinh tế thị trường thế giới hiện nay đang nằm dưới
cam kết. Đành rằng ta chưa có kinh nghiệm cùng với nhiều ràng buộc khác về an ninh
chính trị song cũng phải có chiến lược tổng thể về hội nhập để các cấp, các ngành, các
doanh nghiệp có phương hướng xác định, chủ động tham gia hội nhập.
- Phải thấy rằng trong quá trình hội nhập vừa qua không phải mọi người đều đã
hiểu và nhận thức được yêu cầu phải mở cửa hội nhập. Trong những năm qua hàng hóa
ngoại tràn vào Việt Nam đã phần nào kéo theo cả nếp sống "sùng ngoại". Khoảng cách
phân hoá giầu nghèo ngày càng tăng đi liền với tệ nạn xã hội nổi lên chưa từng thấy làm
ảnh hưởng sâu sắc đến thuần phong mỹ tục, đến bản sắc dân tộc. Có thể nói những hậu quả
kéo theo quá trình hội nhập đang là thách thức lớn của nước ta hiện nay. Nếu đẩy nhanh
hội nhập mà không có cơ chế chính sách đi kèm để giải quyết các hiện tượng này thì hội
nhập không hẳn đã hiệu quả, đã thành công.
Trong thời đại ngày nay không thể phát triển nếu không hội nhập, không tham gia
vào quá trình toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá đã, đang và sẽ diễn ra từng giờ từng phút không
chỉ trên phạm vi toàn thế giới mà trong khuôn khổ hạn hẹp của bản khoá luận này chúng ta
không thể đề cập hết mọi khía cạnh được. Ở chương sau, chúng ta sẽ đi sâu vào một ngành
cụ thể đang đặt ra khá nhiều vấn đề cần phải giải quyết và một phần nào đó chúng ta sẽ
đứng trên góc độ của toàn cầu hóa, của quá trình hội nhập kinh tế để xem xét ngành nghề
này - đó là ngành Công nghiệp Ô tô Việt Nam. Để có thể hiểu và phân tích cặn kẽ về
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, thiết nghĩ chúng ta cũng nên điểm qua đôi nét về lịch sử
hình thành và phát triển của nền công nghiệp ô tô thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện
nay.