Văn hóa sinh thái, nhân văn
và hệ thống tự nhiên, con người, xã hội
PGS.TS. Vũ Minh Tâm Cơ sở tự nhiên - xã hội của sự hình thành văn hóa sinh thái - nhân
văn là phương thức sản xuất xã hội, năng lực tư duy, nhận thức của con
người và hoạt động thực tiễn của nó. Từ cội nguồn này, sự phát triển
của văn hóa sinh thái - nhân văn có thể chia ra thành những nấc thang
lịch sử: Giai đoạn văn hoá sinh thái - nhân văn có tính thần thoại và
tính thống nhất. Giai đoạn văn hóa sinh thái nhân văn có tính duy lý và
duy tình. Giai đoạn văn hóa sinh thái - nhân văn mang tính kết hợp
Đông Tây (giai đoạn hiện đại). Nhận thức đúng đắn mối quan hệ hữu cơ giữa con người và tự nhiên, xác định
một cách có ý thức tích cực các hoạt động thực tiễn của con người phù hợp với các
quy luật của tự nhiên, đó là cơ sở để giải quyết mọi vấn đề sinh thái, môi trường
sinh thái nhân văn (xã hội) toàn cầu đang trong thực trạng báo động, kêu cứu. Như
thế, con người cần phải nắm được bản chất, quy luật tồn tại, vận hành của tự nhiên
cùng với những hiện tượng, biểu hiện cụ thể, đa dạng của nó. Đồng thời, điều chủ
yếu là, con người cần có năng lực vận dụng đúng đắn các quy luật của tự nhiên
vào mọi hoạt động thực tiễn của mình, cũng như cần tạo ra một cuộc sống hài hòa,
hòa hợp với tự nhiên. Có thể xem đây là nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề
môi trường sinh thái - nhân văn. Điều đó cũng có nghĩa là con người và xã hội cần
có được một nền tảng văn hóa sinh thái - nhân văn. Ph.Ăngghen đã lưu ý rằng:
"chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược
thống trị một dân tộc khác… chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự
thống trị của chúng ta đối với tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh
vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng
kết hợp Đông Tây (giai đoạn hiện đại).
Trong sự phát triển của văn hóa học sinh thái nhân văn, quan niệm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa sinh thái-nhân văn là một
bước tiến mới, trong đó, quan niệm, tư tưởng về mối quan hệ "tự nhiên - con
người - xã hội" mang tính khoa học, tính thực tiễn và tính nhân văn cao cả. Ở đây,
văn hóa sinh thái-nhân văn chính là toàn bộ giá trị mà con người đạt được trong
quá trình biến đổi tự nhiên nhằm tạo ra môi trường sống mới vừa phù hợp với bản
chất người và phát triển xã hội, vừa phù hợp với bản chất, sự tồn tại và phát triển
của tự nhiên.
Trước thực trạng môi trường trái đất bị hủy hoại nghiêm trọng do hoạt động
sản xuất - tiêu dùng công nghiệp và hoạt động sống nói chung của con người, cùng
với "sự trả thù của tự nhiên" đối với sự sinh tồn của chính con người, cộng đồng
nhân loại buộc phải có những hoạt động thực tế và tiếng nói chung tích cực nhàm
bảo vệ và cải thiện môi trường. Đó là Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường con
người, Hội nghị về môi trường và giáo dục môi trường, Hội nghị Thượng đỉnh về
môi trường và phát triển (1992), Hội nghị Thượng đỉnh về phát triển bền vững
(2002)
Từ những năm 50 của thế kỷ trước, các ngành khoa học về môi trường, về văn
hóa sinh thái - nhân văn đã hình thành vững chắc và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Mục tiêu chung của các ngành khoa học này không gì khác là làm cho con người
hiểu đúng đắn về trái đất, có ý thức tự giác và có hoạt động thực tiễn nhằm bảo vệ,
cải thiện môi trường sinh thái, tức là có được những điều kiện tiên quyết và cơ bản
đối với sự sinh tồn và phát triển bền vững của con người và xã hội.
Cơ sở trực tiếp và nhân tố khách quan của văn hóa sinh thái - nhân văn chính là
môi trường sinh thái - tự nhiên. Đó là nước, không khí, động vật, thực vật, đất đai
và tất cả các hiện tượng tự nhiên khác. Chúng là điều kiện quy định sự tồn tại của
con người, nhưng con người đang hủy hoại chúng.
Trên cơ sở đó, sự tác động của con người - xã hội vào môi trường tự nhiên
mang tính chất quyết định đối với văn hóa sinh thái - nhân văn, vì vậy, con người
và xã hội cần điều khiển một cách có ý thức tích cực mối quan hệ giữa con người
toàn vẹn của hệ thống tự nhiên - con người - xã hội. Để xây dựng đạo đức sinh
thái mới, con người cần phải thay đổi tư duy, quan niệm về tự nhiên, về vị trí của
con người và về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Do đó, đạo đức sinh thái
hợp lý là đạo đức bảo đảm cho cả lợi ích của chủ thể (con người) lẫn lợi ích của
khách thể (tự nhiên), kết hợp hợp lý giữa kinh tế thị trường, hoạt động công
nghiệp, khoa học, công nghệ và việc bảo vệ, cái thiện sự tồn tại, giá trị nội tại của
tự nhiên.
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống sông hòa hợp với thiên nhiên. Trái qua
trường kỳ lịch sử, con người Việt Nam vừa khai thác, sử dụng thiên nhiên, vừa
bảo vệ, cải tạo thiên nhiên để thiên nhiên bền vững và phát triển. Sông hài hòa với
thiên nhiên là một tập tính phổ biến của con người và xã hội Việt Nam. Bên cạnh
những tri thức về vạn vật trong trời đất là tình yêu thiên nhiên và ý thức bảo vệ,
làm phồn thịnh thiên nhiên của người Việt cổ.
Như hầu hết quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với
những nguy cơ, thách thức về môi trường sinh thái - nhân văn. Môi trường sinh
thái - nhân văn ở Việt Nam hiện nay cùng tồn tại, đan xen phức tạp hiện tượng
sinh thái cổ điển và sinh thái hiện đại. Môi trường này cũng đang diễn ra sự vượt
trước về tính chất gay gắt và cấp bách của thực trạng môi trường sinh thái so với
trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, thực trạng này cũng gắn liền với sự
căng thẳng và khó khăn trước các vấn nạn ô nhiễm môi trường xã hội. Mặt khác
xã hội Việt Nam đang nằm trong tình trạng biến đổi quan niệm về đạo đức sinh
thái với tính chất phức tạp, cấp thiết của vấn đề môi trường sinh thái trong điều
kiện kinh tế thị trường và công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để giải quyết một cách
tích cực những vấn đề trên, đời sống văn hóa sinh thái - nhân văn cần:
Xây dựng một quan niệm mới về ý thức sinh thái phù hợp với sự phát triển xã
hội bền vững.
Bằng nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của sự
phát triển xã hội bền vững trong mối quan hệ với công bằng xã hội, dân chủ xã hội
và văn minh xã hội.
Giải quyết tết nạn ô nhiễm môi trường xã hội, bởi đây không chỉ là vấn đề kinh
hình thái giáo dục khác, giáo đục văn hóa sinh thái - nhân văn là một quá trình
giáo dục về nhận thức khoa học, tư duy chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, văn hóa nói
chung trong lĩnh vực sinh thái - nhân văn, cùng với những phương thức, biện pháp
giáo dục tương ứng, thích hợp. Trong phạm vi nhà trường, giáo dục văn hóa sinh
thái - nhân văn là một phương diện của sự chuẩn bị, trang bị cho mỗi cá thể, nhân
cách tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động bảo vệ, cải thiện môi trường sinh
thái mang tính nhân văn của toàn cộng đồng xã hội.
Xây dựng văn hóa sinh thái - nhân văn là một quá trình vừa mang tính trước
mắt, cấp thiết, vừa mang tính lâu dài, chiến lược. Xuất phát từ đời sống hiện thực
và mối quan hệ xã hội trong hệ thống tự nhiên - con người - xã hội, văn hóa sinh
thái - nhân văn không chỉ liên quan trực tiếp đến mọi lĩnh vực sản xuất vật chất và
sản xuất tinh thần, mà còn chịu sự quy định của trình độ phát triển xã hội, của chế
độ xã hội, của tư duy chính trị - xã hội, của giai cấp thống trị xã hội và của những
quan hệ xã hội nhất định.