Đề tài: Suy giảm đa dạng sinh học - Pdf 21

TÀI LIỆU
SUY GIẢM
ĐA DẠNG SINH HỌC
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 1
MỤC LỤC
I. M U:ỞĐẦ 3
II. N I DUNG:Ộ 5
1. Th c tr ng DSH:ự ạ Đ 5
a d ng ngu n gen:Đ ạ ồ 5
a d ng v lo i:Đ ạ ề à 7
a d ng h sinh thái:Đ ạ ệ 10
2. T m quan tr ng c a DSH Vi t Nam:ầ ọ ủ Đ ệ 13
3. S suy gi m c a a d ng sinh h c Vi t Nam:ự ả ủ đ ạ ọ ở ệ 15
4. Nguyên nhân l m suy gi m a d ng sinh h c:à ả đ ạ ọ 17
5. xu t gi i pháp:Đề ấ ả 20
III. K T LU N:Ế Ậ 24
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 2
I. MỞ ĐẦU:
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địa
hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền. Trải dài từ 8030
tới 230 vĩ độ Bắc, với sự khác biệt về khí hậu và địa hình giữa các miền nên Việt Nam có
sự đa dạng lớn về môi trường tự nhiên và sinh học. Hệ sinh thái từ rừng mưa thường xanh
cận nhiệt đới ở phía Bắc tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, rừng ngập mặn và đất ngập
nước ven biển đã tạo ra hệ động, thực vật phong phú và có giá trị. Đặc điểm đó là cơ sở rất
thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lượng.
Lĩnh vực sinh học hiện nay vẫn còn nhiều điều mới lạ và bí ẩn bởi những gì chúng ta biết
mới chỉ là một phần rất nhỏ của thiên nhiên rộng lớn này. Không chỉ các nhà sinh học
trong nước mà nhiều nhà sinh học nước ngoài đến Việt Nam để nghiên cứu về đa dạng sinh
học (ĐDSH) bởi sự bùng nổ của công nghệ sinh học, vấn đề kiểm soát các thông tin di
truyền và an toàn sinh học được đặt ra trên phạm vi quốc tế.
Theo công ước về đa dạng sinh học được đưa ra vào năm 1992 tại hội nghị Liên Hiệp

Vật nuôi
Đặc
trưng
ĐD loài
HST
rừng
HST đất
ngập
nước
HST
biển
nghiệp hoá đang trên đà phát triển. Việt Nam cũng không nắm ngoài xu thế đó, là một
nước đang phát triển, từng bước chuyển mình sang nền kinh tế công nghiệp lớn, kèm theo
đó là đời sống dân cư ngày càng phát triển, đô thị hoá cao và điều này đe doạ đến mối
trường Việt Nam nói chung và đa dạng sinh học nói riêng. Nó làm cho nhiều loài đang bị
suy giảm một cách nhanh chóng, thậm chí có một số loài đang ở ngưỡng cửa của sự diệt
vong mà nguyên nhân chủ yếu là do môi trường sống bị phá huỷ, do săn bắt quá mức và do
sự tấn công một cách dữ dội của các loài nhập cư cũng như sự cạnh tranh của các kẻ thù
khác. Các chu trình hoá học và thuỷ văn tự nhiên đang bị phá vỡ do việc phá rừng và mỗi
năm có hàng tỷ tấn đất mặt đã bị bào mòn và cuốn trôi theo các dòng nước xuống các ao
hồ đại dương. Loài người đang sử dụng một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý
giá nhất mà không thể thay thế được trên thế giới, đó là sự đa dạng sinh học - cơ sở của sự
sống còn, sự thịnh vượng và sự phát triển bền vững của chính họ. Tất cả tài sản quý giá đó
rất cần thiết để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của loài người hiện nay, trong tương lai,
cũng như đã đáp ứng cho tổ tiên trước kia. Thế nhưng loài người đã không biết giữ gìn
nguồn tài nguyên quý giá đó mà lại đang khi thác quá mức, tiêu hao và phá huỷ nó với
danh nghĩa là để phát triển. sự suy thoái đa dạng sinh học trên trái đất hàng ngày, hàng giờ
âm thầm phá huỷ khả năng phát triển của loài người. Việt nam cũng như nhiều nước khác
trên thế giới đang đứng trước những thử thách lớn về vấn đề suy giảm đa dạng sinh học.
Để có cái nhìn và cách hiểu chính xác, bằng phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu

2 Nhóm cây lương thực bổ sung 95
3 Nhóm cây ăn quả 105
4 Nhóm cây rau 55
5 Nhóm cây gia vị 46
6 Nhóm cây làm nước uống 14
7 Nhóm cây lấy sợi 16
8 Nhóm cây thức ăn gia súc 14
9 Nhóm cây lấy dầu béo 45
10 Nhóm cây lấy tinh dầu 20
11 Nhóm cây cải tạo đất 28
12 Nhóm cây dược liệu 181
13 Nhóm cây cây cảnh 62
14 Nhóm cây bóng mát 7
15 Nhóm cây cây công nghiệp 24
16 Nhóm cây lấy gỗ 49
Tổng 802
Nguồn : Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới-Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005.
Có 3 nhóm cây trồng được nông dân sử dụng:
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 5
• Các giống cây trồng bản địa: Nhóm giống cây trồng này hiện nay
đang chiếm vị trí chủ đạo đối với nhiều loại cây trồng. Trong số nhóm
giống cây trồng này có những giống đã được nông dân sử dụng vì lưu
truyền hàng nghìn năm nay.
• Các giống cây trồng mới: Là những giống cây có khả năng cho năng
suất cao vì có một số đặc tính tốt khác như: phẩm chất nông sản tốt,
khả năng chống chịu sâu bệnh cao được các nhóm khoa học chọn
lọc, lai tạo thành. Những năm gần đây các giống cây trồng được các
nhóm khoa học chọn lọc và lai tạo mới cũng như các loại giống cây
trồng được nhập nội, trước khi đưa ra sản xuất rộng răi, được hội đồng

Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 6
• Các biểu hiện của kiểu gen ở Việt Nam rất phong phú. Riêng kiểu gen cây lúa có
đến hàng trăm kiểu hình khác nhau, thể hiện ở gần 400 giống lúa khác nhau.
• Các kiểu gen ở Việt Nam thường có nhiều biến dị, đột biến. Trong đó có những biến
dị xảy ra dưới tác động của các yếu tố tự nhięn (sấm, chớp, bức xạ ), có những đột
biến xảy ra do những tác nhân nhân tạo. Đây lŕ một trong những nguồn tạo giống
mới.
• ĐDSH gen ở Việt Nam chứa đựng khả năng chống chịu vŕ tính mềm dẻo sinh thái
cao của các kiểu gen.
Đa dạng về loài:
Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất
định tại một vùng nào đó.
Tổng số ước tính = 10 triệu.
Chưa được mô tả = 8.3 triệu.
Đã được mô tả = 1.7 triệu
Trong những năm qua, cùng với những nổ lực về bảo tồn đa dạng sinh học, công tác điều
tra nghiên cứu về đa dạng sinh học cũng được nhiều cơ quan Việt Nam cũng như các tổ
chức quốc tế thực hiện. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thành phần loài động, thực
vật, các hệ sinh thái đặc trưng. Các kết quả nghiên cứu được tập hợp từ các nhà khoa học,
các cơ quan nghiên cứu cho thấy:
Bảng: Thành phần loài sinh vật đã biết được cho đến nay
TT Nhóm sinh vật Số loài đã xác định được
1 Thực vật nổi 1.939
- Nước ngọt 1.402
- Biển 537
2 Rong, tảo 697
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 7
s
?


Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ ĐDSH cao tręn thế
giới với dự tính có thể có tới 20.000-30.000 loài thực vật. Việt Nam được xếp thứ 16 về
mức độ ĐDSH (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới).
• Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn:
Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đă ghi nhận có 15.986
loài thực vật ở Việt Nam. Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc thấp và 11.458 loài thực vật
bậc cao. Trong số đó có 10 % số loài thực vật là đặc hữu.
Khu hệ động vật: cho đến nay đă thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun sán ký
sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng,
260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú.
Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương - Mã Lai của IUCN, Việt Nam được
xem là nơi giàu về thành phần loài và có mức độ đặc hữu cao so với các nước trong vùng
phụ Đông Dương. Động vật giới Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu: hơn 100 loài và phân
loài chim, 78 loài và phân loài thú đặc hữu. Riêng trong số 25 loài thú linh trưởng đã được
ghi nhận thẻ ở Việt Nam có tới 16 loài, trong đó có 4 loài và phân loài đặc hữu của Việt
Nam, 3 phân loài chỉ phân bố ở Việt Nam và Lào, 2 phân loài chỉ có ở vùng rừng hai nước
Việt Nam - Cămpuchia.
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 8
• Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa
Các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng như hệ động
vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loŕi cây cỏ ngập nước và bán ngập nước, động vật
không xương sống và cá.
- Vi tảo: đă xác định được có 1.438 loŕi tảo thuộc 259 chi và 9 ngành;
- Cho đến nay đă thống kê và xác định được 794 loŕi động vật không xương sống. Trong
đó, đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác nhỏ, có 54 loài và 8 giống lần đầu tiên
được mô tả ở Việt Nam. Riêng hai nhóm tôm, cua (giáp xác lớn) có 59 loài thì có tới 7
giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô tả. Trong tổng số 147 loài trai
ốc, có 43 loài (29,2% tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều là những
loài đặc hữu của Việt Nam hay vùng Đông Dương. Điều đó cho thấy sự đa dạng và mức độ
đặc hữu của khu hệ tôm, cua, trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam là rất lớn.

• Khả năng thích nghi của loŕi cao. Thích nghi của các loài được thực hiện thông qua
các đặc điểm thích nghi của từng cá thể, thông qua chuyển đổi cấu trúc loŕi. Loài
sinh vật ở Việt Nam nói chung có đặc tính chống chịu cao đối với các thay đổi của
các yếu tố và điều kiện ngoại cảnh.
Về thực vật, trong giai đoạn 1993 – 2003, đã có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới loài đó
được phát hiện và mô tả mới cho khoa học v.v.
Đa dạng hệ sinh thái:
Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như
ở nước tại một vùng nào đó. Hệ sinh thái là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trường tác
động lẫn nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng và trao đổi thông tin.
Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong tự nhiên của Việt Nam hiện nay tập trung ở 3 hệ
sinh thái (HST) chính là: HST trên cạn ( HST rừng), HST đất ngập nước và HST biển.
Hệ sinh thái đất ngập nước:
Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc
vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay
nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển có độ sâu không
quá 6 mét khi triều thấp".
Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2 nhóm
ĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển. Trong đó có một số kiểu có tính ĐDSH cao:
• Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn có các chức năng và giá trị như cung cấp
các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ, bãi ăn và ương các
loài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác; xâm chiếm và cố định
các bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lại tác động của sóng biển và
bão tố ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật hoang dã bản địa và di cư
(chim, thú, lưỡng cư, bò sát).
• Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á. U Minh
thượng và U Minh hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùng đầm lầy than
bùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
• Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam. Do đặc tính pha trộn
giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phú

Hệ sinh thái biển:
Việt Nam có vùng lãnh hải gắn với bờ biển rộng khoảng 226.000 km
2
. Do vậy hệ sinh
thái biển cũng rất phong phú, có 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, có tính đa dạng sinh học và
năng suất sinh học cao.Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh
vật cư trú trong các vùng đa dạng sinh học biển khác nhau. Thành phần quần xã trong hệ
sinh thái giàu, cấu trúc phức tạp, thành phần loài phong phú. Đây là môi trường sản xuất
thuận lợi và rộng lớn gắn chặt với đời sống của hàng triệu cư dân sống ven biển của Việt
Nam.
Hệ sinh thái rừng:
Các hệ sinh thái của rừng Việt Nam rất đa dạng, mỗi hệ sinh thái rừng thực chất là một
phức hệ rất phức tạp, được vận hành và chi phối bởi các quy luật nội vi và ngoại vi. Một số
hệ sinh thái điển hình: rừng trên núi đá vôi, rừng rụng lá và nửa rụng lá, rừng thường xanh
núi thấp, núi trung bình, núi cao v.v. có giá trị đa dạng sinh học cao và có ý nghĩa rất quan
trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam.
Diện tích rừng của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn biến động khác nhau. Theo thống
kê của tác giả Paul Maurand (1943), năm 1943 Việt Nam có diện tích rừng là 14,3 triệu
hecta, đạt tỷ lệ che phủ lãnh thổ là 43%. Từ năm 1943-1975, diện tích rừng đã bị suy giảm
còn 11,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ là 34% (Viện Điều tra quy hoạch rừng, năm 1976).
Giai đoạn 1976 đến 1990 là thời kỳ tài nguyên rừng bị khai thác mạnh để phục vụ phát
triển kinh tế xã hội của đất nước sau chiến tranh. Diện tích rừng trong giai đoạn này tiếp
tục giảm xuống, diện tích rừng năm 1990 chỉ còn chưa đầy 9,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ
chỉ đạt 27,8%.
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 11
Giai đoạn 1990 đến nay Chính phủ đã có nhiều biện pháp về chính sách và đầu tư nên
diện tích rừng đã dần được phục hồi kể cả diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng. Năm
2005, diện tích rừng đã đạt trên 12,6 triệu hecta với độ che phủ 37%.
Bảng: Diễn biến diện tích và độ che phủ rừng qua các thời kỳ
Năm Diện tích rừng (1000 ha) Độ che phủ

• Thành phần các quần xã trong các hệ sinh thái rất giàu. Cấu trúc quần xã trong các
hệ sinh thái phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều nhánh. Điểm đặc trưng này làm cho đa
dạng hệ sinh thái ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với các nước khác trên thế
giới.
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 12
• Tính phong phú của các mối quan hệ giữa các yếu tố vật lý và các yếu tố sinh học,
giữa các nhóm sinh vật với nhau, giữa các loài, giữa các quần thể trong cùng một
loài sinh vật. Mạng lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng với nhiều khâu nối tiếp
nhau làm tăng tính bền vững của các hệ sinh thái. Các mối quan hệ năng lượng được
thực hiện song song với các mối quan hệ vật chất rất phong phú, nhiều tầng, bậc
thông qua các nhóm sinh vật: tự dưỡng (sinh vật sản xuất), dị dưỡng (sinh vật tięu
thụ), hoại sinh (sinh vật phân hủy) trong các hệ sinh thái ở Việt Nam là những chuỗi
quan hệ mà ở nhiều nước khác trên thế giới không có được.
• Các hệ sinh thái ở Việt Nam có đặc trưng tính mềm dẻo sinh thái cao, thể hiện ở sức
chịu tải cao; khả năng tự tái tạo lớn; khả năng trung hoà và hạn chế các tác động có
hại; khả năng tự khắc phục những tổn thương; khả năng tiếp nhận, chuyển hóa, đồng
hóa các tác động từ bęn ngoài.
• Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm. Tính mềm
dẻo sinh thái của các hệ sinh thái ở Việt Nam làm cho các hệ đó luôn ở trong trạng
thái hoạt động mạnh, vì vậy, thường rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài, kể
cả các tác động của thiên nhiên, cũng như những tác động của con người.
2. Tầm quan trọng của ĐDSH Việt Nam:
• Giá trị sinh thái và môi trường:
Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người.
Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa, thủy hóa (thủy vực):
ôxy và các nguyên tố cơ bản khác như cacbon, nitơ, photpho. Chúng duy trì sự ổn định
và màu mỡ của đất, nước ở hầu hết các vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm,
thiên tai. Gần đây, khái niệm các dịch vụ của hệ sinh thái được đưa ra trên cơ sở các
thuộc tính, chức năng của chúng được con người sử dụng.
Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng

nhu cầu cây thuốc cho công nghiệp dược, mỹ phẩm hương liệu khoảng 20.000 tấn/năm.
Hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu thuốc khoảng 10.000 tấn/năm trị giá khoảng 15-20
triệu USD.
Giá trị kinh tế của ĐDSH có thể nęu khái quát về các mặt sau đây:
- Giá trị được tính ra tiền do việc khai thác, sử dụng mua bán hợp lý các tài nguyên
ĐDSH.
- ĐDSH đảm bảo cơ sở cho an ninh lương thực và phát triển bền vững của đất nước,
đảm bảo các nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
- ĐDSH cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản: mía đường, bông
vải, cây lấy dầu, cây lấy sợi, thuốc lá, cói, hạt điều
- ĐDSH góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất, qua đó làm tăng giá trị nông sản.
• Giá trị xã hội và nhân văn:
Trong các nền văn hóa của nhiều dân tộc tręn thế giới, một số loài động vật hoang dã
được coi là biểu tượng trong tín ngưỡng, thần thoại hoặc các tác phẩm hội họa, điêu
khắc. Sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên sinh vật đã hình
thành các lễ hội của một số bộ tộc ít người như lễ hội săn bắn theo mùa, hoặc hình
thành sự quản lý tài nguyên theo tính chất cộng đồng như vai trò của già làng, trưởng
bản trong việc phân định phạm vi, mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên đất và rừng.
Cuộc sống văn hóa của con người Việt Nam rất gần gũi thiên nhiên, các loài động, thực
vật nuôi trồng hay hoang dã và các sản phẩm của chúng đã quen thuộc với mọi người
dân, đặc biệt người dân sống ở vùng nông thôn và miền núi, như lễ hội chọi trâu ở Đồ
Sơn (Hải Phòng), lễ hội đua thuyền Nhiều loài cây, con vật đă trở thành thiêng liêng
hoặc vật thờ cúng đối với các cộng đồng người Việt như: gốc đa thiêng, đền thờ cá Ông
ở các tỉnh miền Nam Trung bộ. Các khu rừng thiêng, rừng ma là những nét văn hóa độc
đáo của nhiều dân tộc miền núi. Nghề dệt thổ cẩm, làm hương, làm hàng mỹ nghệ từ
gỗ, tre nứa hay song mây là những sự gắn bó của đời sống văn hóa con người Việt Nam
với ĐDSH.
Rất nhiều loài động vật hoang dã được thuần dưỡng với mục đích làm bầu bạn với
con người hoặc thuần hóa để chăn nuôi làm thực phẩm sử dụng hàng ngày.
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 14

nhiên. Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật của nước ta nhanh hơn nhiều so với
các quốc gia trong khu vực.
Suy giảm hệ sinh thái:
Hệ sinh thái rừng bị tổn thất nặng nề:
• Diện tích rừng bị thu hẹp. Rừng bị khai thác: 120.000-250.000ha/năm.
• Độ che phủ rừng bị giảm sút tới mức báo động: độ che phủ của rừng năm 1943 là
43% thì nay chỉ còn 28.8% (Phạm Bình Quyền-2005).
Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã xác định chỉ tiêu thảm
rừng che phủ đất đai lãnh thổ các quốc gia thuộc miền Nhiệt đới ở mức >33%, dưới đó
là báo động môi trường.
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 15
• Tình trạng mất rừng hầu hết xảy ra ở các rừng phòng hộ xung yếu. VD: Độ che phủ
của rừng tự nhiên ở một số lưu vực các sông như sau:
- Lưu vực sông Đà: <11%.
- Lưu vực sông Hồng: 23%.
- Lưu vực sông Đồng Nai: 25%.
- Lưu vực sông Ba (Gia Lai): <23%.
• Chất lượng rừng bị giảm: bị thu hẹp và chia cắt. (rừng nguyên sinh, rừng giàu chỉ
còn <13% tổng diện tích rừng). Độ che phủ và chất lượng rừng bị giảm (rừng tái
sinh chiếm 55% tổng diện tích rừng) (nguồn: Bộ TNMT, 2007).
Suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước: đầm phá Tam Giang, rừng ngập mặn Cần Giờ, rừng
U Minh Thượng,
• Suy thoái về số lượng: diện tích bị giảm
• Suy thoái về chất lượng: 70% diện tích đất ngập nước bị ô nhiểm (nguồn: Bộ
TNMT, 2009).
• Rừng ngập nước và tràng cỏ ngập nước ở đồng bằng Bắc Bộ (>1,7 triệu ha) và
đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 3,9 triệu ha) đã chuyển đổi thành đất nông
nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản (Bộ TNMT, 2007).
• Diện tích đất ngập nước hiện nay: chỉ còn 10 triệu ha (Bộ TN&MT, 2009).
• Rừng ngập mặn: diện tích rừng ngập mặn đã giảm 183.724 trong 20 năm qua (Bộ

Chiến tranh: chiến tranh không những là nguyên nhân trực tiếp mà còn là nguyên nhân
sâu xa gây suy thoái ĐDSH. Trong giai đoạn 1945 đến 1990 nước ta đã trải qua hai cuộc
chiến tranh và 2 cuộc xung đột biên giới hết sức khốc liệt.Chiến tranh đã gây biến động lớn
về phân bố dân cư giữa các vùng, đồng thời một diện tích lớn đất rừng bị khai phá để trồng
cây lương thực bảo đảm hậu cần tại chỗ cho quân và dân. Không những thế các loài động
vật hoang dã còn bị đe dọa bởi các loại vũ khí do chiến tranh để lại sau đó.
Khai thác quá mức:
- Khai thác gỗ:
Các phương thức khai thác gỗ (hợp pháp hay bất hợp pháp) không bền vững từ trước đến
nay đều được coi là mối đe dọa lớn đối với ĐDSH. Nó không những làm nghèo kiệt tài
nguyên gỗ tự nhiên mà còn làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng rừng và gây ảnh hưởng
lớn đối với vùng cư trú của các loài động vật hoang dã.
- Khai thác củi làm nhiên liệu:
Khai thác củi làm nhiên liệu có quy mô lớn và kho kiểm soát, đây cùng là mối đe dọa rất
lớn đối với ĐDSH.
- Khai thác, buôn bán lâm sản ngoại gỗ (kể cả động vật).
- Đánh bắt cá:
Tại nhiều nơi vẫn còn tình trạng đánh bắt cá mang tính huỷ diệt như dùng mìn, chất nổ,
điện, thậm chí cả chất đôc (Xyanua). Đánh bắt quá mức có thể thấy rõ hậu quả qua sản
lượng đánh bắt một số loài cá suy giảm mặc dù cường độ đánh bắt tăng.
- Khai thác trái phép tài nguyên các rạn san hô.
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 17
Giống cây Giảm diện tích
gieo trồng(%)
Tỷ lệ mất giống
địa phương (%)
Lúa 50 80
Ngô, đậu 75 50
Cây có củ 75 20
Chè và đay 20 90

Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các vận động của tự nhiên: Việc phát sinh mới hay hoạt
động trở lại của các núi lửa, sóng thần, sạt lở đất, động đất, sa mạc hóa, cháy rừng
Ô nhiễm môi trường sống:
Có thể liệt kê một số nguyên nhân sau:
Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: Thuốc trừ sâu là nhân tố gây ô nhiễm nặng nề và được khuyến
cáo từ năm 1962 (Rachel Carson, 1962).
Ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước cũng là nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH thuỷ sinh như các
loài cá, ốc, trai, hến Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là do các chất thải công
nghiệp, chất thải dân dụng, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, rò rỉ xăng dầu từ các tàu vận tải,
các kim loại nặng(thuỷ ngân, chì, thiếc ). Các chất thải này theo dòng chảy và lan tràn
trong một vùng rộng lớn. Kết quả là một loạt loài ở các bậc dinh dưỡng tiếp theo trong
chuỗi thức ăn cũng bị nhiễm độc theo.
Ô nhiễm không khí và mưa axít: Các hoạt động công nghiệp xả thải vào khí quyển, đốt
rừng làm nương rẫy, làm thay đổi và làm ô nhiễm bầu khí quyển của trái đất. Các nền
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 18
công nghiệp như luyện thép, các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là than dầu đã thải
ra một lượng lớn nitrat, sulphat vào không khí, các khí này khi gặp hơi nước trong khí
quyển sẽ tạo ra axit nitric và sunphuric. Các axit này liên kết với những đám mây và khí
tạo thành mưa đã làm giảm độ pH của nước mưa xuống thấp và tăng khả năng hấp thụ các
kim loại nặng độc hại.
Sư sản sinh ôzôn, các kim loại độc hại và lắng đọng khí nitơ: . Nồng độ ôzôn cao ở tầng
khí quyển gần mặt đất sẽ giết chết các mô thực vật, làm cho cây dễ bị tổn thương, làm hại
đến các quần xã sinh học, giảm năng suất nông nghiệp.
Sự biến đổi khí hậu: Sự biến đổi khí hậu và nồng độ khí cacbonic trong khí quyển gia tăng
sẽ có khả năng làm thay đổi triệt để cấu trúc của các quần xã sinh học và sẽ chỉ còn một số
loài có khả năng phát triển thích ứng với điều kiện sống mới (Bazzaz và Fajer, 1992).
Sự chuyên hóa trong sản xuất nông nghiệp:
Do sức ép của sự gia tăng dân số trên thế giới, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm
và các loại nguyên, nhiên, vật liệu sẵn có trong tự nhiên, đồng thời cũng thúc đẩy loài
người lựa chọn hoặc lai tạo ra các giống động thực vật có năng suất, chất lượng cao; và sử

gấu trúc Mỹ, sẽ tăng lên. Do gấu trúc Mỹ ăn trứng chim, nên khi số lượng chó sói ít hơn thì
số lượng gấu trúc ăn trứng chim lại nhiều lên, kết quả là số lượng chim hót sẽ ít đi.
Sự bất lực của chính quyền và những chiến lược phát triển không hợp lý:
Nguyên nhân này có vai trò tương đối lớn, nhất là đối với các loài có nguy cơ tuyệt chủng
và ở các nước nghèo. Hệ thống các văn bản pháp luật chưa hoàn thiện và không được
những người có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc. Do cuộc sống khó khăn nên những
người dân bản địa đã tiến hành khai thác bất hợp pháp các loài động thực vật cung cấp cho
thị trường, song các cấp chính quyền dường như không làm được nhiều để hạn chế tình
trạng trên, thậm chí do nguồn lợi kinh tế rất lớn nên một số nhà chức trách còn tiếp tay cho
các hoạt động phi pháp. Bên cạnh đó chính sách di dân đã làm cho rất nhiều diện tích rừng
bị mất đi nhanh chóng. Các chính sách kinh tế sai lầm đã làm giá cả gia tăng nhanh và đẩy
một bộ phận người dân thuộc vùng sâu, vùng xa, những vùng có mức độ ĐDSH cao nhất,
ngày càng trở nên khốn khó, để tự nuôi sống mình và gia đình họ đã khai thác triệt để
nguồn lợi sinh học tại địa phương.
5. Đề xuất giải pháp:
5.1. Biện pháp kỹ thuật:
5.1.1. Bảo tồn nguyên vị:
Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài,
các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Thông thường bảo
tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn (KBT) và đề xuất các
biện pháp quản lý phù hợp. Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế Giới - IUCN thì có 6
loại KBT:
- Loại I: Khu bảo tồn nghiêm ngặt (hay KBT hoang dã).
- Loại II: Vườn Quốc gia chủ yếu để bảo tồn các HST và sử dụng vào mục đích du
lịch, giải trí, giáo dục.
- Loại III: Công trình thiên nhiên chủ yếu để bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đặc
biệt.
- Loại IV: Khu bảo tồn sinh cảnh hay các loài, chủ yếu là nơi bảo tồn một số sinh
cảnh hay một số loài đặc biệt cần bảo vệ.
- Loại V: Khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển chủ yếu bảo tồn các

- Lớp ngắn hạn về khoa học chuyên ngành, về kỹ thuật quản lý, hay về vấn đề hành chính.
- Lớp đại học hay sau đại học về chuyên ngành trong nước hay ngoài nước.
- Hội thảo, tập huấn về vấn đề riêng.
- Trao đổi khoa học, kinh nghiệm giữa các nước hay các cơ quan khoa học, viện nghiên
cứu.
- Tập huấn ngắn ngày cho cán bộ thực địa.
- Chương trình soạn thảo tài liệu chuyên môn và phân phát tài liệu.
- Tổ chức xây dựng chiến lược, kế hoạch quốc gia, địa phương có sự tham gia của các cơ
quan chính phủ, các cộng đồng địa phương, các tổ chức kinh doanh, các nhóm dân tộc và
những có liên quan.
5.2.2. Mở rộng các hoạt động truyền thông và nâng cao nhận thức về ĐDSH:
- Giáo dục trong nhà trường: Cần chính thức đưa vấn đề bảo tồn ĐDSH vào nội dung giáo
dục chính quy trong tất cả các trường học, từ lớp mầm non đến các trường tiểu học, trung
học cơ sở và trung học phổ thông. Nội dung giáo dục môi trường, trong đó có ĐDSH nhất
thiết phải được đưa vào chương trình đào tạo ở các trường dạy nghề, các trường trung học
chuyên nghiệp và các trường đại học, đặc biệt là các trường sư phạm các cấp, các trường
nội trú ở miền núi. Do tính chất liên ngành mà nội dung ĐDSH có thể lồng ghép vào nội
dung của nhiều môn học khác như Sinh học, Địa lý, Văn học, Hoá học, Giáo dục công
dân, sinh hoạt ngoại khoá.
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 21
- Giáo dục ngoài nhà trường: Nâng cao nhận thức về ĐDSH nhất thiết phải được đẩy mạnh
thực hiện ngoài phạm vi nhà trường mà đối tượng là đông đảo quần chúng, cộng đồng dân
cư, nhất là những người sống chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên sinh học. Công
việc này cũng cần được thực hiện ở những nơi có đông đảo nhân dân đến thăm như các bảo
tàng, vườn thú, vườn thực vật, vườn quốc gia, KBT thiên nhiên,
- Thành lập bộ phận chuyên trách về giáo dục, nâng cao nhận thức về ĐDSH, đảm nhận
công tác giáo dục ĐDSH như:
+ Xây dựng chương trình giáo dục, nâng cao nhận thức về ĐDSH.
+ Nghiên cứu và xây dựng các hình thức giáo dục về nâng cao nhận thức ĐDSH phù hợp
với từng đối tượng, từng lứa tuổi.

Luật tuân theo quy định bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH phải tuân thủ nguyên tắc:
- Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác, sử dụng hợp lý ĐDSH; giữa bảo tồn, khai
thác, sử dụng hợp lý ĐDSH với việc xóa đói, giảm nghèo.
Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 22
- Bảo tồn tại chỗ là chính, kết hợp bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển chỗ.
- Tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng ĐDSH phải chia sẻ lợi ích với các
bên có liên quan
- Bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân.
- Bảo đảm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi
gen gây ra đối với ĐDSH…
Luật cấm các hành vi:
- Săn bắt, đánh bắt, khai thác loài hoang dã trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu
bảo tồn, trừ việc vì mục đích nghiên cứu khoa học.
- Lấn chiếm đất đai, phá hoại cảnh quan, hủy hoại hệ sinh thái tự nhiên, nuôi trồng các loài
ngoại lai xâm hại trong khu bảo tồn.
- Xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ công
trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh.
- Xây dựng công trình, nhà ở trái phép trong phân khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn.
- Điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản; chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô
trang trại, nuôi trồng thuỷ sản quy mô công nghiệp.
- Cư trú trái phép, gây ô nhiễm môi trường trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân
khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn…
4.2. Các thoả thuận quốc tế:
Hợp tác quốc tế là một điều kiện tiên quyết vì nhiều lí do khác nhau:
- Trước hết, các loài thường di chuyển qua các biên giới. Các hoạt động bảo tồn chim di cư
ở phía Bắc Châu Âu sẽ không thể thành công nếu nơi cư trú qua mùa đông của chim tại
Châu Phi bị phá hủy.
- Thứ hai, việc buôn bán quốc tế về các sản phẩm sinh học có thể gây nên hậu quả là sự
khai thác quá mức các loài nhằm đáp ứng nhu cầu thương mại. Việc quản lí và kiểm soát
buôn bán đòi hỏi phải cả trên lĩnh vực xuất và nhập khẩu.

IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
http://tailieu.vn/
http://huegreencorridor.org/resources/DATA/GCP_Bach%20Ma%20NP
%20Extension/Bach%20Ma_Community%20Awareness%201_VN.pdf
http://thuviensinhhoc.violet.vn/present/show/entry_id/457861
http://yeumoitruong.com/forum/archive/index.php/t-2622.html

Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học - Nguyễn Thị Hiền Thảo - Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status