Bài giảng sinh học đại cương - Pdf 22

Trường đại học nông nghiệp Hà Nội
Khoa nông học
BÀI GIẢNG
SINH HỌC ĐẠI CƯƠNG
Biên soạn:
Nguyễn Thị Hòa
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA NÔNG HỌC
BÀI GIẢNG SINH HỌC ĐẠI CƯƠNG
Người soạn: Nguyễn Thị Hoà
Bộ môn: Thực vật học
Hà Nội, 2009
MỤC LỤC
TỔ CHỨC CỦA CƠ THỂ SỐNG 1
1.1.CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA SINH VẬT 1
1.1.1.Sinh vật được cấu tạo từ tế bào 1
1.1.2.Sinh vật sinh trưởng và phát triển 1
1.1.3.Trao đổi chất 1
1.1.4.Chuyển động 1
1.1.5.Sinh vật trả lời lại các kích thích 2
1.1.6.Sinh sản 2
1.1.7.Tiến hoá và thích nghi với môi trường 2
1.2.CẤU TRÚC TẾ BÀO PROCARYOTA 2
1.3. CÂU TRÚC TẾ BÀO EUCARYOTA 5
1.3.1.Màng tế bào (Plasma membrane) 6
1.3.2.Vách tế bào thực vật 7
1.3.3.Nhân tế bào 11
1.3.4.Tế bào chất 11
1.3.5.Các bào quan khác 11
1.4. CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CÁC MÔ CHÍNH Ở THỰC VẬT VÀ ĐỘNG VẬT ĐA

4.1.3.Quang chu kỳ và phytocrom 66
CHƯƠNG V: SỰ TIẾN HOÁ 68
5.1.NGUỒN GỐC SỰ SỐNG 68
5.1.1.Hình thành các hợp chất hữu cơ đơn giản từ các chất vô cơ 68
5.1.2.Quá trình trùng phân tạo nên các đại phân tử hữu cơ 69
5.1.3.Sự xuất hiện cơ chế tự nhân đôi 69
5.1.4.Hình thành các tế bào sơ khai 70
5.2.CÁC QUAN ĐIỂM PHÂN CHIA SINH GIỚI 70
5.3.CÁC HỌC THUYẾT TIẾN HÓA 72
5.3.1.Khái niệm tiến hóa 72
5.3.2.Học thuyết tiến hoá của Lamac 72
5.3.3.Học thuyết tiến hoá của Dacuyn 73
5.3.4.Quan điểm hiện đại về tiến hoá 74
5.4. BẰNG CHỨNG TIẾN HÓA 77
5.4.1.Các hình thức cách li 77
5.4.2.Các cơ chế hình thành loài mới 78
Chương 1:
TỔ CHỨC CỦA CƠ THỂ SỐNG
1.1. CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA SINH VẬT
1.1.1. Sinh vật được cấu tạo từ tế bào
Học thuyết tế bào, một trong những quan điểm thống nhất của cơ bản của sinh học, nói rằng
mọi sinh vật đều được cấu tạo từ những đơn vị cơ sở được gọi là tế bào và từ các chất do tế bào sinh
ra. Mặc dù khác nhau nhiều về kích thước và hình dạng bên ngoài, song mọi sinh vật đều được tạo nên
từ những viên gạch cấu trúc nhỏ bé này. Một số dạng sống đơn giản nhất, như vi khuẩn, là những sinh
vật đơn bào: chúng chỉ gồm một tế bào duy nhất. Ngược lại, cơ thể của con người hoặc của thực vật
bậc cao được cấu tạo từ hàng tỉ tế bào. Trong các cơ thể đa bào phức tạp này, các quá trình sống phụ
thuộc vào các chức năng được điều phối của các tế bào thành phần.
Virus không được coi là sinh vật. Chúng chỉ có thể tiến hành các hoạt động sống và sinh sản
bằng cách sử dụng bộ máy trao đổi chất của các tế bào mà chúng kí sinh, và do vậy, chúng được coi là
nằm trên ranh giới giữa các cơ thể sống và sinh vật không sống.

khác cho cơ thể.
Mặc dù thực vật không chuyển động theo cách như chúng ta thấy ở động vật, song chúng vẫn
chuyển động. Chẳng hạn, thực vật hướng lá của chúng về phía mặt trời và mọc về phía ánh sáng. Ở
một số thực vật, như cây bắt ruồi, sự chuyển động là rõ ràng, thậm chí còn biểu hiện mạnh.
1.1.5. Sinh vật trả lời lại các kích thích
Mọi dạng sống đều trả lời lại các kích thích, đó là những thay đổi về các yếu tố lý, hoá học
trong môi trường bên trong và bên ngoài của chúng. Những kích thích gây nên sự trả lời ở hầu hết sinh
vật là những thay đổi về màu sắc, cường độ hoặc hướng của ánh sáng; những thay đổi về nhiệt độ, áp
suất hay âm thanh; những thanh đổi về thành phần hoá học của môi trường đất, không khí và nước bao
quanh. Ở những cơ thể đơn giản, toàn bộ cơ thể có thể mẫn cảm với các kích thích. Chẳng hạn, một số
cơ thể đơn bào trả lời lại ánh sáng gắt gao bằng cách trốn lủi. Ở các động vật bậc cao, một số tế bào
của cơ thể được biệt hoá để trả lời lại một số dạng kích thích (chẳng hạn như các tế bào võng mạc của
mắt trả lời sự có mặt của ánh sáng.)
Mặc dù không rõ ràng như ở động vật, song thực vật cũng trả lời lại ánh sáng, trọng lực, nước,
sự đụng chạm và các kích thích khác. Nhiều trả lời ở thực vật được thực hiện bởi tốc độ sinh trưởng
khác nhau của các phần của cơ thể thực vật (cây bắt ruồi).
1.1.6. Sinh sản
Ở các cơ thể đơn giản như amip, sự sinh sản có thể là vô tính bằng cách phân đôi. Trước khi
phân chia, amip sẽ tổng hợp hai bản sao nguyên liệu di truyền (bộ gen) của nó và phân bố mỗi bộ hoàn
chỉnh về một tế bào mới. Trừ kích thước ra, mỗi con amip con đều giống với tế bào mẹ.
Ở hầu hết động vật và thực vật, sinh sản hữu tính được thực hiện nhờ sản sinh ra các tế bào
trứng hoặc tinh trùng đã được biệt hoá có thể dung hợp với nhau để tạo thành một tế bào trứng đã thụ
tinh, từ đây, một cơ thể mới sẽ dần được hình thành.
1.1.7. Tiến hoá và thích nghi với môi trường
Khả năng tiến hoá và thích nghi với môi trường cho phép một quần thể tồn tại trong một thế
giới luôn thay đổi. Thích nghi là những đặc điểm làm tăng khả năng sống sót của một cơ thể trong một
môi trường nhất định. Đó có thể là sự thích nghi về cấu trúc, sinh lý, tập tính hoặc cả ba. Lưỡi dài, linh
hoạt của ếch là một sự thích nghi để bắt côn trùng, còn bộ lông dày của gấu Bắc Cực là một sự thích
nghi để vượt qua nhiệt độ băng giá. Mỗi cơ thể thành công về mặt sinh học sẽ là một tập hợp phức tạp
của những thích nghi trong quá trình tiến hoá.

của tế bào.
• Ribosome: Ở tế bào prokaryota, ribosome là bào quan chiếm tới 60% trọng lượng khô
của tế bào. Nó được cấu tạo bởi 2 thành phần là ARNribosome (rARN) và protein.
rARN của tế bào prokaryota có 3 loại với hằng số lắng đọng là 5s, 16s và 23s. Các phân
tử rARN kết hợp với protein tạo thành 2 tiểu phần của ribosome với hằng số lắng đọng
là 30s và 50s. Trong quá trình tổng hợp protein, 2 tiểu phần của ribosome kết hợp với
nhau tạo thành ribosome hoàn chỉnh có hằng số lắng đọng là 70s. Trong một tế bào vi
khuẩn có thể có tới 10.000 ribosome, chúng giữ vai trò vận chuyển và tổng hợp một số
loại protein trong tế bào.
• Chất nguyên sinh: Là một hệ thống chất lỏng với khoảng 80% là nước, phần còn lại là
các nguyên tố hóa học (có khoảng hơn 50 nguyên tố) và các hợp chất hữu cơ như
protein, axit nucleic, lipid, hydratcácbon có phân tử lượng nhỏ. Ngoài ra, ở một số vi
khuẩn trong chất nguyên sinh còn chứa một số tinh thể độc. Đặc biệt, trong chất nguyên
sinh của vi khuẩn còn có các phân tử ADN vòng, kích thước nhỏ gọi là plasmid, chúng
có khả năng sao chép độc lập với AND của vi khuẩn. Khác với tế bào eukaryota, các
bào quan ở tế bào prokaryota hầu như không có màng riêng và nó nằm lẫn lộn với chất
nguyên sinh, không có lưới nội chất và ty thể.
• Các bào quan khác: Các thành phần dưới đây có thể có hoặc không có mặt trong các
tế bào nhân sơ.
3
o Thể vùi: là thành phần chứa các chất dự trữ trong tế bào nhân sơ. Chúng có thể
được hình thành khi môi trường thừa chất dinh dưỡng và sẽ tiêu biến khi nguồn
dinh dưỡng cạn đi.
o Meosom: Meosom là một bộ phận được hình thành từ màng tế bào. Nó tham gia
vào việc tạo màng tế bào trong quá trình phân bào. Ngoài ra, nó còn có tác dụng
làm tăng diện tiếp xúc của tế bào, qua đó làm tăng khả năng hấp thụ và vận
chuyển các chất dinh dưỡng qua màng. Ở các loại vi khuẩn có khả năng quang
hợp, thì trên mesosom còn có chứa các sắc tố cần cho quang hợp.
o Lông roi: Cấu trúc hỗ trợ cho quá trình di chuyển của nhiều loài vi khuẩn nhờ
các chuyển động quay của chúng.

hai cực: cực kị nước do hai nguyên tử cácbon của glycerol kết hợp với hai phân tử axit béo, cực ưa
nước do nguyên tử các bon thứ ba của glyxerol kết hợp với nhóm phosphate ưa nước, nhóm này lại nối
với một alcol phức (cholin). Khoảng cách giữa các phân tử phospholipid được gọi là lỗ màng, nơi cho
các chất hòa tan trong lipid đi qua.
Các phân tử protein có trên màng tế bào được chia thành 2 loại: một loại xuyên từ mặt trong ra
mặt ngoài của màng, xuyên qua 2 lớp phospholipid, chúng được gọi là protein xuyên màng; loại còn
lại bám cố định ở một lớp phospholipid hoặc chỉ bám vào bề mặt của màng được gọi là protein bám
màng.
Các phân tử protein xuyên màng lại được chia thành 2 loại, một loại tạo thành kênh protein có
chức năng vận chuyển các chất qua màng, loại còn lại thường liên kết với các phân tử đường để tạo
thành các thụ quan, chúng có chức năng tiếp nhận và dẫn truyền thông tin qua màng.
Các phân tử protein bám màng cũng được chia thành 2 loại: Các phân tử protein bám ở mặt
ngoài thường liên kết với các hydrat các bon để tạo thành các thụ quan có tác dụng nhận biết các vật
thể lạ xâm nhập vào tế bào, đồng thời tham gia vào quá trình vận chuyển các chất qua màng; Các phân
tử protein bám ở mặt trong thì liên kết với vi sợi để tạo thành bộ khung nâng đỡ và tạo dạng cho tế
bào.
b. Chức năng của màng
Chức năng chính của màng tế bào là bảo vệ các bào bên trong tế bào, ngăn cách tế bào với môi
trường, là nơi thực hiện các quá trình trao đổi chất giữa tế bào này với tế bào khác và trao đổi chất giữa
tế bào với môi trường ngoài.
1.3.2. Vách tế bào thực vật
a. Thành phần cấu tạo
7
Hình 1. 5. Cấu tạo vách tế bào thực vật
Vách hay thành tế bào là một cấu thành điển hình của tế bào thực vật phân biệt với tế bào các
Giới khác. Ngoại trừ một số tế bào sinh sản, còn thì mọi tế bào thực vật đều có vách riêng. Do sự có
mặt của vách cho nên rất hạn chế việc trương phồng sinh chất khi có sự thẩm thấu cũng như hình dạng
và kích thước của tế bào đựoc giữ cố định ở trạng thái trưởng thành. Kiểu của vách tế bào xác định kết
cấu của mô. Những mô ở ngoại vi thì có vách tế bào chứa vật liệu bảo vệ cho các tế bào nằm phía dưới
khỏi sự khô hạn. Vách tế bào dùng để chống đỡ cho các cơ quan của cây đặc biệt là các vách dày và

vách, lớp mới nhất ở vị trí trong cùng, sát với chất tế bào.
Trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển và cấu trúc của tế bào thực vật mà có thể phân biệt được ba
lớp chủ yếu của vách tế bào là: 1) lớp giữa hay là lớp gian bào; 2) vách sơ cấp; 3) vách thứ cấp (hình
1.7).
Lớp giữa hay lớp gian bào là lớp xi măng giữ các tế bào lại với nhau để tạo thành mô và theo
đó thì lớp này nằm giữa các vách sơ cấp của tế bào cạnh nhau. Lớp này cấu tạo từ các chất keo, có bản
chất pectin và không có tác động về quang học (đẳng hướng). Lớp này ở những tế bào già rồi cũng bị
lignin hóa.
Vách sơ cấp là lớp vách đầu tiên phát triển của tế bào mới. Ở nhiều tế bào chỉ có một vách này
thôi và lớp giữa là gian bào. Những tế bào có phát triển vách thứ cấp thì vách sơ cấp mỏng. Vách này
cũng tương đối mỏng ở các tế bào có hoạt tính trao đổi chất như các tế bào thịt lá, mô mềm dự trữ
trong thân, rễ và củ. Vách sơ cấp phát triển dày ở các mô như mô dày trong thân và lá, nội nhũ trong
một số hạt. Vách sơ cấp cũng thể hiện cấu tạo lớp là do có sự khác nhau trong thành phần của xenluloz
và các hợp chất không phải xenluloz cùng với nước trong vách tế bào.
Hình 1. 6. Cấu trúc phân tử cellulose
8
Vách thứ cấp được hình thành ở mặt trong của
vách sơ cấp. Vách thứ cấp được hình thành trong
những tế bào khi tế bào đó đã ngừng phát triển. Vách
thứ cấp dị hướng và xếp thành lớp rõ rệt. Ở sợi và các
quản bào vách này có ba lớp là lớp ngoài (S
1
), lớp
giữa (S
2
) và lớp trong (S
3
) trong vách thứ cấp dễ dàng
nhận biết dưới kính hiển vi. Trong các lớp đó thì lớp
giữa (S

Hình 1. 7. Sơ đồ cấu trúc lớp và sự sắp xếp các
sợi tế vi của vách tế bào. S1, S2, S3 là vách thứ
cấp, S3 có khi được xem là vách cấp 3. Theo K.
Esau.
9
Lignin tăng cường tính chống thấm nước cho vách tế bào giúp cho quá trình vận chuyển nước
trong hệ thống mô dẫn. Lignin còn giúp cho các tế bào dẫn truyền chống lại sức căng của dòng nước
do sự thoát hơi nước tạo ra khi kéo nước lên tận đỉnh ngọn các cây gỗ. Một vai trò khác của lignin là
để chống lại sự xâm nhập của các loại nấm. Cái gọi là “gỗ bị thương” là bảo vệ cho cây chống lại sự
xâm nhập của nấm bằng cách tăng cường tính chống chịu của vách chống lại các hoạt tính enzym của
nấm và làm giảm bớt sự khuếch tán enzym và các chất độc của nấm vào cây. Có thể cho rằng chính
lignin là tác nhân đầu tiên chống nấm và vi khuẩn sau vai trò dẫn nước và cơ học trong sự tiến hóa của
thực vật trên cạn.
Cutin, suberin và sáp được thấm vào vách tế bào tạo thành chất nền, khảm vào khung xenluloz
của vách tế bào để tăng cường chức năng bảo vệ cho các tế bào thực vật. Đó là các hiện tượng hóa
cutin, hóa suberin của vách tế bào thực vật.
Cutin và suberin là thành phần cấu trúc lipid của nhiều loại tế bào mà chức năng chủ yếu là tạo
nên một chất nền trong đó có sáp là hợp chất lipid tạo thành chuỗi dài. Sáp tổ hợp với cutin hoặc
suberin tạo nên lớp ngăn cách ngăn ngừa sự mất nước và các chất khác từ bề mặt của cây. Cutin cùng
với sáp tạo thành lớp cuticul bao lấy bề mặt lá và thân để chống sự mất nước và các vai trò bảo vệ
khác cho các phân có cấu tạo sơ cấp.
Suberin hay bần là hợp chất chính của vách tế bào lớp vỏ bần, lớp ngoài cùng của chu bì. Dưới
kính hiển vi điện tử suberin làm thành từng lớp màu sẫm xen kẽ với các lớp sáp màu xám.
d. Đường lưu thông giữa các tế bào
Trên vách thứ cấp có đường lưu thông giữa các tế bào. Trước hết đó là các lỗ. Lỗ trên các tế
bào cạnh nhau thường đối diện với nhau. Hai lỗ đối diện nhau như vậy đươc gọi là cặp lỗ. Mỗi lỗ trong
một cặp có khoang lỗ và hai khoang cách nhau bởi một phần vách mỏng được gọi là màng lỗ. Lỗ được
xuất hiện trên vách tế bào trong quá trình phát triển cá thể của vách tế bào và là kết quả của sự tích tụ
các vật liệu cấu trúc nên vách thứ cấp. Màng lỗ của cặp lỗ gồm hai vách sơ cấp và phiến giữa.
Vách sơ cấp cũng có những chỗ lõm sâu, đó là những vùng lỗ sơ cấp. Đó là những chỗ mỏng

Số nhiễm sắc thể trong mỗi tế bào của
các loài sinh vật luôn ổn định và đặc trưng cho loài. Tuy nhiên, hình dạng của nhiễm sắc thể thì không
ổn định và thường xuyên thay đổi qua các kỳ của quá trình phân bào.
Phần lớn các nhân đều chứa ít nhất một nhân con. Nhân con tạo nên các ribosome, tới lượt
chúng, ribosome lại tạo nên các protein. Nhân con xuất hiện dưới dạng một vùng tối hơn bên trong
nhân. Khi một tế bào chuẩn bị sinh sản, nhân con sẽ biến mất.
1.3.4. Tế bào chất
Mọi thứ nằm giữa màng tế bào và nhân được gọi là tế bào chất. Tế bào chất gồm hai thành
phần chính: bào tương và các bào quan. Bào tương là một hỗn hợp dạng keo bao gồm chủ yếu là nước,
cùng với các protein, hidratcarbon và các hợp chất hữu cơ khác. Bào tương là nơi dự trữ và cung cấp
chất dinh dưỡng cho tế bào, là nơi diễn ra rất nhiều các phản ứng sinh lý, sinh hóa quan trọng của tế
bào và là môi trường tồn tại của rất nhiều các bào quan khác như ti thể, lạp thể, lưới nội chất, thể golgi

1.3.5. Các bào quan khác
a. Lưới nội chất
Hình 1. 8. Cấu trúc nhân tế bào
11
Là một hệ thống các kênh, các túi, các bể chứa phân bố
trong tế bào chất và được giới hạn bởi màng lipoprotein.
Có 2 dạng mạng lưới nội chất là mạng lưới có hạt và mạng lưới trơn.
Lưới nội chất có vai trò giao thông nội bào. Chúng đảm bảo sự vận chuyển các chất từ môi
trường vào tế bào chất, và cũng là đường giao thông giữa các cấu trúc nội bào. Các chất khác nhau từ
tế bào chất hoặc các bào quan được tập trung vào xoang túi bể chứa của mạng lưới, từ đó sẽ được
chuyển đi đến các phần khác nhau của tế bào hoặc thải ra ngoài. Quá trình vận chuyển của mạng lưới
nội chất là dạng vận chuyển tích cực.
Lưới nội chất còn có vai trò tổng hợp chất. Mạng lưới nội chất có hạt có vai trò trong tổng hợp
protein và các enzyme. Mạng lưới nội chất trơn có vai trò tham gia và quá trình tổng hợp và vận
chuyển các chất lipid như phospholipid, lipoprotein, steroid…Mạng lưới nội sinh chất trơn còn có vai
trò khử độc, chúng tập trung và chuyển hoá các độc tố xâm nhập vào tế bào.
b. Ribosome

nền của ty thể (matrix) chứa nhiều enzym (sử dụng cho chu trình Krebs, cho quá trình tổng hợp ADN ,
sao mã tổng hợp ARN và tổng hợp protein), có ADN trần dạng vòng trần, có ribosome và protein
riêng.
Hình 1. 10. Cấu trúc Ribosome
13
Ti thể được xem như là trạm chuyển hoá năng lượng chứa trong các phân tử dinh dưỡng
(gluxit, lipid, axit amin) thành năng lượng tích trong ATP, là dạng năng lượng sử dụng cho tất cả các
quá trình sống của tế bào.
d. Lạp thể (Plastid)
Lạp thể là loại bào quan chỉ có ở tế bào thực vật. Dựa vào màu sắc và vai trò, người ta chia lạp
thể thành ba loại là: vô sắc lạp, sắc lạp và lục lạp.
Vô sắc lạp (Leucoplasts) là loại lạp thể không màu, phân bố ở hầu khắp các tế bào trong cây,
đặc biệt có nhiều ở những tế bào trong mô dự trữ (trong củ, hạt…). Lạp không màu có thể tạo ra tinh
bột gọi là lạp bột, tạo ra dầu gọi là lạp dầu hoặc tạo ra protein thực vật gọi là những hạt alơron. Hình
dạng của lạp không màu thường là hình cầu hoặc hình bầu dục.
Sắc lạp (Chromoplasts) là loại lạp thể có màu (trừ màu xanh). Sắc lạp thường chứa hai nhóm
sắc tố chính là xantophyl( có màu vàng) và carotin (có màu đỏ da cam). Tùy thuộc vào hàm lượng và
tỷ lệ của 2 loại sắc tố trên mà chúng biểu hiện những màu sắc khác nhau. Trong cây, sắc lạp phân bố
chủ yếu ở hoa, quả chín, lá về mùa thu. Hình dạng của sắc lạp cũng rất khác nhau, có thể là hình que,
hình cầu hoặc phân thuỳ….
Vai trò chủ yếu của sắc lạp là thu hút côn trùng, chim, qua đó hỗ trợ quá trình thụ phấn và phát
tán hạt; ngoài ra sắc lạp còn giúp cho quá trình quang hợp của cây xanh hiệu quả hơn.
Lục lạp là loại lạp thể có màu xanh lục do có chứa sắc tố diệp lục (chlorophyll). Lục lạp cũng
có chứa các sắc tố thuộc nhóm carotenoit nhưng hàm lượng ít nên bị màu xanh của diệp lục át đi.
Trong cây, lục lạp phân bố chủ yếu ở lá, thân, cành non, đôi khi ở lá mầm của một số hạt (ví dụ hạt
sen).
Hình 1. 11. Cấu trúc ti thể
14
Hình 1. 12. Lục lạp
Lục lạp ở thực vật thường có dạng hình đĩa dẹp hoặc hình hạt. Đối với tảo, lục lạp có thể có

Hình 1. 14. Lizosome
16
lyzosom được cấu tạo theo kiểu màng cơ bản, bên trong lysosome có chứa các enzyme mạnh phục vụ
cho quá trình tiêu hoá nội bào. Nhiệm vụ của lyzosom là phân huỷ những bào quan hỏng (nội thực
bào), phân huỷ các chất lấy từ bên ngoài vào (thực bào).
Peroxisom là bào quan được hình thành từ lưới nội chất, bên trong chứa nhiều enzyme oxyhoá
có tác dụng giải độc cho cơ thể, ví dụ enzyme catalase giúp phân huỷ

H
2
O
2
, người ta thấy peroxisom
có nhiều trong tế bào gan nơi chứa nhiều sản phẩm trung gian còn mang nhiều độc tính.
Glyoxysom là một loại bào quan nhỏ bên trong chứa các enzyme phục vụ cho quá trình biến
đổi lipid thành gluxit, điều này rất có ý nghĩa đối với hạt của cây có dầu, vì khi nẩy mầm, nhờ sự hoạt
động của glyoxysome, dầu dự trữ trong hạt sẽ được biến đổi thành gluxit để làm nguyên liệu xây dựng
tế bào mới.
g. Bộ xương tế bào
Hình 1. 15. Bộ xưong tế bào
Bao gồm các sợi protein phân bố cạnh màng sinh chất và các bào quan, chúng tạo thành bộ
khung có nhiệm vụ chống đỡ, tạo chỗ bám cho các bào quan và tạo dạng cho tế bào. Có ba loại là vi
sợi, vi ống và sợi trung gian.
Vi sợi (sợi tế vi) là những sợi protein có đường kính khoảng 6-7nm. Vi sợi cấu tạo bởi protein
actin hay myosin, có độ đàn hồi rất cao. Trong tế bào, vi sợi thường liên kết với nhau tạo thành các bó
sợi nằm sát màng sinh chất và song song với màng; nó cũng phát triển mạnh ở chỗ tiếp giáp giữa các
lỗ màng của hai tế bào cạnh nhau. Vai trò chính của vi sợi là chống đỡ và giúp tế bào chuyển động,
nhất là ở tế bào động vật. Ngoài ra, nó còn có chức năng làm giảm bớt sự chuyển động hỗn độn của tế
bào chất.
Vi ống (vi quản) là những ống nhỏ dài, dạng sợi, có đường kính từ 20 – 25nm. Vi ống được tạo

sinh dục
18
Hình 1. 17. Cấu trúc lông roi
j. Không bào
Không bào là những xoang chứa đầy chất lỏng và được bao bọc bởi một màng gọi là màng
không bào. Không bào có phổ biến ở các tế bào thực vật và tế bào động vật bậc thấp nhưng hiếm gặp ở
động vật bậc cao.
Ở thực vật, khi tế bào còn non thì mỗi tế bào có rất nhiều không bào nhỏ, khi tế bào trưởng
thành các không bào nhỏ tập hợp lại thành một không bào lớn, ép tế bào chất và nhân sát vào màng tế
bào. Chất lỏng chứa trong không bào gọi là dịch tế bào. Dịch không bào có nước và các hợp chất hoà
tan. Tuỳ loại cây và tuỳ cơ quan của cây mà các chất hoà tan trong tế bào khác nhau. Các chất đó có
thể là axit amin, đường, các alcaloit, các loại sắc tố như anthoxyan và nhiều chất khác. Ngoài ra,
không bào còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh áp suất thẩm thấu, sức hút của rễ cây, tính
thấm của màng tế bào và sức căng bề mặt tế bào.
Ở động vật nguyên sinh (protozoa), không bào có tác dụng tiêu hoá thức ăn (không bào tiêu
hoá) hay giúp tế bào chuyển động (không bào co bóp).
Hình 1. 18. Không bào ở tế bào thực vật Hình 1. 19. Không bào ở động vật nguyên sinh
19
Bảng 1. 1. So sánh cấu trúc tế bào giữa vi khuẩn, thực vật và động vật
Các yếu tố cấu trúc Vi khuẩn Động vật Thực vật
Vách tế bào có mặt (protein,
polisaccarit)
không có có mặt (celluloza)
Màng tế bào có mặt có mặt có mặt
Không bào không có không có hoặc nhỏ không bào đơn lớn ở
tế bào trưởng thành
Roi có mặt (1 sợi) có mặt vắng mặt
Vi quản vắng mặt có mặt có mặt
Hệ màng trong
Lưới nội chất vắng mặt có mặt có mặt

20
Hình 1. 20. Sự phân bố của một số loại mô ở thực vật hai lá mầm
a. Mô phân sinh
Trong những giai đoạn đầu của sự phát triển phôi thì mọi tế bào đều phân chia, nhưng với sự
tăng trưởng dần thì sự phân chia tế bào và sự tăng trưởng lại tập trung vào một phần của cây mà vùng
đó rất ít phân hóa và ở đấy mô vẫn giữ trạng thái phôi sinh và tế bào giữ khả năng phân chia. Mô phôi
sinh đó trong cơ thể trưởng thành được gọi là mô phân sinh.
Theo vị trí thì mô phân sinh trong cơ thể thực vật được chia ra các kiểu sau: 1) mô phân sinh
ngọn ở trên đỉnh ngọn, các chồi bên của thân và rễ; 2) mô phân sinh lóng, mô nằm ở giữa các mô
trưởng thành như là ở phía gốc của các lóng cây họ Lúa; 3) mô phân sinh bên là mô xếp vị trí song
song bao quanh cơ quan như tầng phát sinh mạch và tầng sinh bần.
Theo nguồn gốc thì mô phân sinh được chia thành mô phân sinh sơ cấp và mô phân sinh thứ
cấp. Từ mô phân sinh sơ cấp sẽ phát triển thành biểu bì, vỏ sơ cấp của thân và rễ, thịt lá và mô dẫn sơ
cấp; từ mô phân sinh thứ cấp sẽ phát triển thành mô dẫn thứ cấp và chu bì.
21
Rễ TV 2 lá mầm
Bó mạch
Cấu trúc lá tv hai lá mầm
Lớp cuticun
Biểu bì trên
Biểu bì dưới
Gân lá
TB kèm
Thân TV 2 lá mầm
Thân TV 1 lá mầm
Bó mạch
Biểu bì
Ruột
Biểu bì
Vỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status