Giáo trình hình thành ứng dụng điều chỉnh quy trình quốc hữu hóa doanh nghiệp tư bản tư nhân p4 doc - Pdf 22


IV. Thực trạng của kinh tế nhà nớc hiện
nay
1. Quy mô và tổ chức của các doanh nghiệp nhà nớc
Chỉ tính trong 10 năm từ 1990 2000. Chúng ta đã 3
lần thực hiện việc cải cách đổi mới DNNN. Lần thứ nhất
thực hiện vào những năm từ 1990 1993 với mục đích tổ
chức lại sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp quốc
doanh. Lần thứ hai từ năm 1994 1997, chúng ta đã thành
lập 18 Tổng công ty 91 và 77 Tổng công ty 90. Lần thứ ba
chúng ta thực hiện cổ phần hoá các DNNN và ngay sau đó
là việc giao bán, khoán và cho thuê các DNNN.
Sau 3 lần cải cách đổi mới DNNN thì năm 2000 so với
năm 1990 quy mô của các doanh nghiệp nhà nớc đã giảm
từ 12300 doanh nghiệp xuống còn 5280, những doanh
nghiệp có vốn dới 10 tỷ đồng chiếm tới 76,1%. Tuy
có sự giảm sút về quy mô nhng các DNNN vẫn đạt đợc
mức tăng trởng mạnh. Trong 5 năm từ 1991-1995 tốc độ
tăng trởng bình quân của DNNN đạt 11,7%. tỉ lệ đóng góp

vào tổng sản phẩm quốc dân GDP đạt 40,3%. Đồng thời
quá trình tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nớc đã mở
rộng quy mô vốn của các doanh nghiệp, giảm đợc sự tài
trợ đáng kể của ngân sách nhà nớc, một số ngành mới đã
và đang áp dụng công nghệ cao thực sự mang lại hiệu quả
đáng kể nh: dầu khí, năng lợng, bu chính viễn thông
vv Trong đó quyền chủ động của các sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp đợc phát huy.
Tuy vậy cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp nhà nớc
hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế nh việc doanh
nghiệp hoạt động chông chéo về ngành nghề kinh doanh,

đã có nhiều ngành thuộc thành phần KTNN tạo ra những
loại sản phẩm không chỉ có sức cạnh tranh mạnh ở thị
trờng nội địa mà còn có sức cạnh tranh mạnh trên thị
trờng quốc tế nh : dệt may, chế biến thuỷ hải sảnNgoài
ra KTNN cũng đang hớng sự phát triển vào những nghành,
lĩnh vực có trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại
nh: tin học, sinh học, vật liệu mới, tự động hoá. Điều này
đòi hỏi nhà nớc phải có những sách lợc đúng đắn khuyến
khích và bắt buộc các doanh nghiệp đầu t vào nghiên cứu
và đổi mới công nghệ. Đó là yếu tố vật chất quan trọng tạo
đà cho các doanh nghiệp nhà nớc giữ vững vị trí then chốt
đi đầu về ứng dụng khoa học và công nghệ, nêu gơng về
năng suất lao động, chất lợng sản phẩm và hiệu quả kinh
tế.
Mặc dù vậy việc phát triển khoa học công nghệ ở nớc
ta hiện nay còn tồn tại rất nhiều hạn chế, do đó khi thực
hiện hợp tác, chuyển giao công nghệ với nớc ngoài cần
tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ mới
nhất, tiên tiến nhất tránh không để cho Việt Nam trở thành
bãi thải công nghê của các nớc phát triển. Để thực hiện

đợc điều đó thì các DNNN phải đầu t cho việc đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực tránh việc chảy máu chất xám bởi
trong thời gian qua, cùng với sự phát triển mạnh của khu
vực kinh tế t nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc
ngoài đã xuất hiện xu thế bỏ doanh nghiệp nhà nớc để ra
làm ngoài với đồng lơng cao hơn trong khi đó các doanh
nghiệp nhà nớc rất cần những ngời có khả năng trình độ
để nghiên cứu, thử nghiêm, ứng dụngcác loại công nghệ
mới.

lập, đó là lợi ích doanh nghiệp. Nếu nhà nớc không quản
lý tốt ( mà điều này khó làm đợc nếu không có những tiêu
chuẩn tốt về kế toán, thống kê, kiểm toán ) thì doanh nghiệp

sẵn sàng biến lợi nhuận thành chi phí hợp pháp dới dạng
lơng thởng cho cán bộ và công nhân. Ngoài ra còn có
những khó khăn trong việc phân định thua lỗ do rủi ro hay
do sự thiếu trách nhiệm của những ngời có liên quan chính
vì thế có thể thấy tình trạng tài chính không rõ ràng và cực
kỳ bê bối của DNNN hiện nay thể hiện qua nợ khó đòi trở
thành phổ biến, doanh nghiệp không thể phá sản vì chủ nợ
không đệ đơn Là hậu quả của chính tình trạng thể chế hoá
sở hữu nhà nớc cha tìm đợc hình thức hợp lý.
4. Hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nớc.
Vấn đề hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nớc và
đặc biệt quan trọng vì đã là doanh nghiệp kinh doanh đơng
nhiên phải có hiệu quả thì mới tồn tại phát triển. Thực tế
các DNNN của chúng ta bên cạnh những thành tựu to lớn
đã và đang bộc lộ những yếu kém khá nghiêm trọng:
Quy mô các DNNN còn nhỏ (vốn bình quân chỉ là 12
tỉ đồng) Cơ cấu có nhiều bất hợp lý, công nghệ lạc hậu,
quản lý yếu kém, cha thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm
trong kinh doanh. Kết quả khảo sát 10 ngành cho thấy

ngoài một số doanh nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại
hoặc trung bình của thế giới và khu vực, số còn lại lạc hậu
so với thế giới từ 10 đền 20 năm, thậm chí 30 năm. Đến
tháng 5-2001 mới chỉ có 4,1% tổng số doanh nghiệp nhà
nớc đạt tiêu chuẩn chất lợng quốc tế. Kết quả sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nớc cũng cha

DNNN và doanh nghiệp t nhân. Có nhiều nguyên nhân
không liên quan đến sở hữu doanh nghiệp trong đó có
nguyên nhân rất cơ bản là điều kiện sản xuất kinh doanh
của nớc ta còn gặp nhiều khó khăn, biến động rủi ro lớn
các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế yếu kém, nhất là trình
độ quản lý, kinh nghiệm thơng trờng.

5. Những cơ hội và thách thức mới đối với doanh nghiệp
nhà nớc trong thời gian tới.
Trong tơng lai không xa DNNN phải đối mặt với hai
sức ép cạnh tranh lớn, sức ép cạnh tranh thứ nhất là cạnh
tranh với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác
và chuẩn bị cho một cuộc cạnh tranh với các doanh nghiệp
nớc ngoài, các tập đoàn kinh tế mạnh, các tập đoàn kinh tế
siêu quốc gia sau khi chúng ta hoàn thành tiến trình ra nhập
vào AFTA hay sau khi hiệp định tự do thơng mại Việt-Mỹ
có hiệu lực thi hành.
Về các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác: ở
nớc ta sau khi có luật doanh nghiệp ra đời chỉ trong một
thời gian ngắn, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế
dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất phát triển một
cách rầm rộ ngời ta ví nh hình ảnh nấm mọc sau cơn
ma cả nớc có khoảng 23000 doanh nghiệp loại này đầu
t một khoản vốn khoảng 25000 tỉ đồng vào quá trình sản
xuất và lu thông hàng hoá. Ngoài một số lĩnh vực sản xuất
kinh doanh thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nớc, còn lại các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status