GIÁO TRÌNH
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3: Sản xuất-Chi phí: Lý
thuyết và ước lượng
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng
28
Chương III
SẢN XUẤT-CHI PHÍ: LÝ THUYẾT VÀ ƯỚC LƯỢNG
I. HÀM SẢN XUẤT VÀ ĐƯỜNG ĐỒNG LƯỢNG
1. Hàm sản xuất và các tính chất của nó
Sản xuất là việc sử dụng các loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau gọi là đầu vào hoặc
các yếu tố sản xuất, để tạo ra hàng hoá dịch vụ mới, gọi là đầu ra (hay sản phẩm). Sản phẩm
có thể là hàng hoá cuối cùng hoặc sản phẩm trung gian. Một doanh nghiệp có thể sản xuất
một sản phẩm hoặc nhiều sản phẩm khác nhau. Lưu ý rằng theo nghĩa rộng “sản xuất” được
hiểu là tất cả các hoạt động tạo ra hàng hoá, dịch vụ, từ xây dựng hoặc mở rộng nhà máy và
nghiệp có thể sản xuất ra bằng các kết hợp đầu vào tư bản (K) và lao động (L) khác nhau.
Bảng 3.1 Hàm sản xuất với hai đầu vào biến đổi
Tư bản (K) 6 10 24 31 36 40 39
Sản lượng (Q)
5 12 28 36 40 42 40
4 12 28 36 40 40 36
3 10 23 33 36 36 33
2 7 18 28 30 30 28
1 3 8 12 14 14 12
1 2 3 4 5 6
Lao động (L)
Dạng phổ biến và hữu ích nhất là hàm sản xuất Cobb – Douglas: Q = AK
L
Trong đó A là một hệ số dương;
và
là những số dương nhỏ hơn 1.
Hàm sản xuất được giả định là có một số tính chất sau :
+ Cả K và L đều có thể chia nhỏ đến vô cùng và là những biến độc lập.
+ Hàm sản xuất là hàm liên tục do đó sản lượng tăng dần khi K hoặc L, hoặc cả 2 tăng.
2. Hàm sản xuất với một đầu vào biến đổi
Trong ngắn hạn, chỉ có một đầu vào biến đổi. Nếu giữ nguyên số lượng 1 đầu vào và
thay đổi số lượng đầu vào kia thì ta có thể rút ra tổng sản phẩm (TP) của đầu vào biến đổi.
Như biểu thị ở bảng 4.1, nếu giữ nguyên số lượng tư bản là 1 đơn vị và cho số lượng lao động
thay đổi từ 1 đến 6 thì tổng sản phẩm của lao động được cho ở dòng cuối cùng của bảng đó.
Từ biểu số liệu tổng sản phẩm ta có thể xác định được sản phẩm trung bình và sản phẩm cận
c
ủa lao động
Sản phẩm cận biên
c
ủa lao động
1 3 3 3
2 8 4 5
3 12 4 4
4 14 3,5 2
5 14 2,8 0
6 12 2 -2
Hình 3.1 Tổng sản phẩm, sản phẩm trung bình
và sản phẩm cận biên của lao động
Mối quan hệ và xu hướng vận động của tổng sản phẩm, sản phẩm trung bình và sản
phẩm cận biên được minh hoạ trên đồ thị ở hình 3.1 khi vẽ các đường tổng sản phẩm, sản
phẩm trung bình và sản phẩm cận biên của lao động tương ứng.
AP
MP
MP
L
AP
L
O
A
MP
L
= 0
TP
Sản
Doanh thu thêm được từ việc sử dụng thêm một đơn vị lao động gọi là sản phẩm
doanh thu cận biên của lao động (MRP
L
). Nó bằng sản phẩm cận biên của lao động (MP
L
)
nhân với doanh thu cận biên thu được từ việc bán sản phẩm sản xuất thêm :
MRP
L
= MP
L
.MR
Chi phí bỏ thêm để thuê thêm một đơn vị hay chi phí tài nguyên cận biên của lao động
(MRC
L
hoặc MLC) bằng phần tổng chi phí tăng thêm do thuê thêm một đơn vị lao động:
MRC
L
= TC/L
Như vậy doanh nghiệp phải thuê lao động cho đến khi :
MRP
L
= MRC
L
Vì MRC
L
= TC/L = MP
L
. MC = MRP
L
4. Hàm sản xuất với hai đầu vào biến đổi
Đường đồng lượng
Hàm sản xuất với 2 đầu
vào K và L có thể được biểu thị
bằng đường đồng lượng trên đồ
thị. Một đường đồng lượng biểu
thị những kết hợp đầu vào khác
nhau mà doanh nghiệp có thể sử
dụng để sản xuất ra mức sản
lượng nhất định. Đường đồng
lượng cao hơn biểu thị mức sản
lượng cao hơn, đường đồng lượng
thấp hơn biểu thị mức sản lượng
thấp hơn. Biểu thị các số liệu ở
bảng 3.1 ta có hình 3.2.
Hình 3.2 Các đường đồng lượng
Các đường đồng lượng ở hình 3.2 có những phần dốc lên, những phần đó không có ý
nghĩa. Nghĩa là doanh nghiệp sẽ không hoạt động ở phần dốc lên của đường đồng lượng vì nó
có thể sản xuất ra cùng một mức sản lượng với nhiều tư bản và lao động hơn. Vì việc sử dụng
các đầu vào phải mất chi phí nên doanh nghiệp sẽ không sản xuất ở các phần dốc lên của các
đường đồng lượng. Đường vòng OVIZO phân cách vùng có ý nghĩa (dốc xuống) và không có
ý nghĩa (dốc lên) của các đường đồng lượng. Đường OVI nối tất cả các điểm có độ dốc bằng
không của các đường đồng lượng. Các điểm ở phía phải của đường này cho thấy MPL là âm,
tương ứng với giai đoạn III của sản xuất đối với lao động. Đường OZI nối tất cả các điểm có
độ dốc bằng vô cùng của các đường đồng lượng. Các điểm nằm ở phía trái của đường đồng
lượng có MPK là âm, tương ứng với giai đoạn III của sản xuất đối với tư bản.
I
V
ủa lao động cho tư bản cũng bằng MP
L
/MP
K
. Bởi vì tất cả các điểm trên đường đồng lượng
đều biểu thị c
ùng một mức sản lượng. Như vậy vận động dọc theo đường đồng lượng xuống
phía dưới thì lượng sản phẩm được thêm do sử dụng thêm lao động phải bằng lượng sản phẩm
bị mất do sử dụng ít tư bản hơn trước. Cụ thể là phần tăng thêm trong lượng lao động (L)
nhân v
ới sản phẩm cận biên của lao động (MP
L
) phải bằng phần giảm trong lượng tư bản
(K) nhân với sản phẩm cận biên của tư bản (MP
K
). Nghĩa là :
(L).(MP
L
) = - (K).(MP
K
)
Do đó
MP
L
/MP
K
= - K/L = MRTS
Trong khu vực kinh tế các đường đồng lượng không những là có độ dốc âm mà còn lồi
so với gốc toạ độ. Lý do là khi vận động xuống phía dưới dọc theo đường đồng lượng thì
doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động lên và ít tư bản đi, nên MP
/MP
K
Hay
MP
L
/w = MP
K
/r
Hình 3.4 Kết hợp đầu vào tối ưu
Như vậy để tối thiểu hoá chi phí sản xuất (hay tối đa hoá sản lượng) tỷ số giữa sản
phẩm hiện vật cận biên của lao động trên một đơn vị chi phí đầu vào lao động phải bằng tỷ số
giữa sản phẩm cận biên của tư bản trên một đơn vị chi phí đầu vào tư bản.
Tối đa hoá lợi nhuận
Để tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp phải sử dụng mỗi đầu vào cho đến khi sản phẩm
doanh thu cận biên của một đầu vào bằng chi phí tài nguyên của đầu vào đó. Với giá đầu vào
không đổi doanh nghiệp có thể sử dụng một đầu vào cho đến khi sản phẩm doanh thu cận biên
của nó bằng giá phải trả cho nó. Như vậy để tối đa hoá lợi nhuận của việc sử dụng các đầu
vào lao động và tư bản doanh nghiệp phải sử dụng cho đến khi :
MRP
L
= w
MRP
K
= r
Vì
MRP
L
= MP
L
.MR
/r
Lưu ý rằng điều kiện tối đa hoá lợi nhuận khác với điều kiện sử dụng tối ưu các đầu
vào ở chỗ điều kiện tối đa hoá lợi nhuận áp dụng cho một mức sản lượng còn điều kiện sử
dụng kết hợp đầu vào tối ưu áp dụng cho các mức sản lượng khác nhau.
6. Hiệu suất của quy mô
“Hiệu suất của quy mô” đề cập đến mức độ thay đổi của sản lượng do sự thay đổi
trong lượng các đầu vào sử dụng trong quá trình sản xuất gây ra. Có 3 loại hiệu suất của quy
mô: không đổi, tăng và giảm. Nếu số lượng tất cả các đầu vào sử dụng tăng lên một tỷ lệ nhất
định, sản lượng cũng tăng lên một tỷ lệ đúng bằng thế thì quá trình sản xuất biểu thị hiệu suất
không đổi của quy mô, nếu sản lượng tăng lớn hơn tỷ lệ đó thì quá trình sản xuất có hiệu suất
tăng của quy mô, nếu sản lượng tăng lên một tỷ lệ nhỏ hơn thế thì quá trình sản xuất có hiệu
suất giảm của quy mô. Nghĩa là với hàm sản xuất tổng quát :
Q = f(K, L)
Nhân cả K và L với h và sản lượng tăng lên một tỷ lệ là :
Q = f(hK, hL)
Quá trình sản xuất có hiệu suất không đổi, tăng hoặc giảm của quy mô tuỳ thuộc vào :
= h, > h hay < h
Hiệu suất tăng của quy mô phát sinh do khi quy mô hoạt động tăng, việc chuyên môn
hoá và phân công lao động cao hơn được thực hiện đồng thời có thể sử dụng những máy móc
thiết bị chuyên môn hoá cao hơn và có năng suất cao hơn. Hiệu suất giảm của quy mô, ngược
lại, phát sinh chủ yếu từ thực tế là khi quy mô hoạt động lớn hơn thì việc quản lý doanh
nghiệp và việc phối hợp các hoạt động cũng như các bộ phận khác nhau của doanh nghiệp trở
lên khó khăn hơn. Trong thực tế các lực lượng gây ra hiệu suất tăng của quy mô và hiệu suất
giảm của quy mô thường hoạt động song song, thường thì ở những mức sản lượng thấp các
lực lượng gây ra hiệu suất tăng của quy mô lấn át các lực lượng gây ra hiệu suất giảm của quy
mô, còn ở các mức sản lượng lớn thì xảy ra điều ngược lại.
7. Công nghệ và tính cạnh tranh quốc tế
Đổi mới là yếu tố quan trọng nhất đối với tính cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp cả
ở trong và ngoài nước. Về cơ bản có 2 kiểu đổi mới : đổi mới sản phẩm (đưa ra sản phẩm mới
hoặc sản phẩm cải tiến) và đổi mới quá trình (đưa ra quá trình sản xuất mới hoặc cải tiến quá
Chi phí cố định (FC) là không đổi, ở mức rK
*
(chi phí của việc sử dụng K
*
đơn vị tư bản), tạo
ra đường chi phí cố định trung bình (AFC) dốc xuống. Chi phí biến đổi (VC) tăng dần, độ dốc
lúc đầu giảm (biểu thị chi phí cận biên giảm) và sau đó tăng (biểu thị chi phí cận biên tăng)
tạo ra đường chi phí biến đổi trung bình (AVC) lúc đầu giảm sau đó tăng. Kết hợp chi phí cố
định trung bình và chi phí biến đổi trung bình cho đường tổng chi phí trung bình (ATC) hình
chữ U và cắt đường chi phí cận biên (MC) ở điểm tối thiểu.
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng
37
(a) (b)
Hình 3.5: Các đường chi phí ngắn hạn
2. Các đường chi phí dài hạn
Trong dài hạn doanh nghiệp có thể tự do lựa chọn bất kỳ kết hợp đầu vào nào mà doanh
nghiệp cho rằng có lợi nhất và trong dài hạn doanh nghiệp phải quan tâm đến các quyết định
đầu tư.
Hình 3.6. Đường chi phí dài hạn
Các chi phí trong dài hạn chủ yếu phụ thuộc vào tính kinh tế của quy mô mà các kết hợp nhà
máy và máy móc thiết bị lớn hơn có được.
Có thể dựng được các đường chi phí dài hạn từ một tập hợp các đường chi phí ngắn hạn. Vì
mỗi đường chi phí ngắn hạn biểu thị cách thức thay đổi của chi phí khi doanh nghiệp có một
mức cố định đầu vào tư bản (hoặc bị hạn chế ở một kết hợp nhà máy và thiết bị đã cho), nên
dài hạn có thể coi là thời hạn mà doanh nghiệp lựa chọn tự đặt mình trên đường chi phí ngắn
hạn nào. Như vậy đường chi phí trung bình dài hạn được tạo bởi các đoạn của các đường chi
FC
VC
, SAC
2
, SAC
3
là các đường chi phí trung bình ngắn hạn của mỗi kết
hợp nhà máy và máy móc thiết bị trong một ngành mà ở đó chỉ có 3 kết hợp nhà máy và máy
móc thiết bị. Nếu doanh nghiệp định sản xuất mức sản lượng Q
1
thì nó có thể chọn giữa
SAC
1
và SAC
2
, doanh nghiệp sẽ chọn SAC
1
vì chi phí đơn vị thấp hơn (OA). Như vậy điểm
D trên SAC
1
cũng là một điểm trên đường chi phí trung bình dài hạn LAC. Cần lưu ý rằng,
trong trường hợp này chúng ta đã giả định các yếu tố sản xuất có thể chia nhỏ đến vô cùng, vì
th
ế lượng tư bản sử dụng có thể tăng thêm những phần rất nhỏ, tạo ra vô số các kết hợp nhà
máy, máy móc thi
ết bị. Trong trường hợp đó có vô số các đường chi phí trung bình ngắn hạn
và đường chi phí trung bình dài hạn sẽ trở thành đường trơn và liên tục. Mỗi điểm trên đường
chi phí trung bình dài hạn tương ứng với một điểm trên đường chi phí trung bình ngắn hạn.
Đường chi phí trung b
ình dài hạn là đường bao của các đường chi phí trung bình ngắn hạn.
3. Mối quan hệ giữa các chi phí ngắn hạn và dài hạn
Chúng ta có thể coi chi phí ngắn hạn gắn với quá trình sản xuất có một nhà máy. Nếu
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng
39
Hình 3.8: Quan hệ giữa chi phí ngắn hạn và dài hạn
Thứ hai, ở hình 3.7, vì độ dốc của hai đường tổng chi phí bằng nhau ở điểm A tại sản lượng
Q
1
do đó các đường chi phí ngắn hạn và dài hạn phải bằng nhau ở mức sản lượng này. Bên
trái điểm A, đường tổng chi phí trung bình dài hạn có độ dốc lớn hơn đường tổng chi phí
trung bình ngắn hạn và ở bên phải thì ngược lại. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng đường chi
phí cận biên ngắn hạn cắt đường chi phí cận biên dài hạn ở phía bên dưới và bên trái sản
lượng Q
1
như biểu thị ở hình 3.8.
4. Các hàm chi phí tuyến tính và phân tích hoà vốn
4.1. Các hàm chi phí tuyến tính
Các hàm chi phí nghiên cứu trên đây đều là các hàm phi tuyến suy ra từ các nguyên lý
kinh tế cơ bản hiện thân trong hàm sản xuất và các khái niệm kinh tế như nguyên lý hiệu suất
giảm dần. Nhiều nhà kinh tế cho rằng đây là các dạng thích hợp nhất của các đường chi phí.
Nhưng các phương pháp ra quyết định trong kinh doanh, bao gồm cả những phương pháp
được các nhà kế toán sử dụng là lấy các đường chi phí biến đổi trung bình tuyến tính. Cơ sở lý
thuyết cho các hàm này là không chắc chắn nhưng chúng lại thường được sử dụng trong xác
định chi phí để phân tích hoà vốn. Các đường FC, VC, TC là những đường thẳng, AVC =
const, do đó MC = AVC, ATC = AVC + AFC nên các đường AFC và ATC đều dốc xuống.
Tất nhiên khi sử dụng các nhà quản lý và kế toán biết những hạn chế của các hàm chi phí
tuyến tính này do đó chỉ áp dụng cho một số các đường chi phí chứ không phải cho tất cả.
Chi phí
a/ Phương pháp đồ thị :
V
ẽ các đường tổng chi phí (TC) và đường tổng doanh thu (TR) trên cùng một đồ thị.
Xác định lượng bán phải đạt được để tránh thua lỗ, hay tính cận bi
ên an toàn tồn tại giữa điểm
hoà vốn và lượng bán thực tế hoặc lượng bán dự kiến của doanh nghiệp.
Cận biên an toàn = Doanh thu bán hàng thực tế - Doanh thu bán hàng hoà vốn Đôi khi các nhà
kế toán dùng tỷ số cận biên an toàn :
Cận biên an toàn
Tỷ số cận biên an toàn =
Lượng bán thực tế
Hình 3.9. Phân tích hoà vốn : phương pháp đồ thị
b/ Phương pháp phương trình
Kết quả thu được từ phương pháp phương trình cũng đúng như thế.
Lợi nhuận = Doanh thu bán hàng - Chi phí biến đổi - Chi phí cố định
Dung lượng hoà vốn là ở điểm : Lợi nhuận bằng 0
0 = P.Q - AVC.Q - FC
do đó : FC
Dung lượng hoà vốn =
P - AVC
Mẫu số của vế trái của phương trình trên là “đóng góp trên một đơn vị sản phẩm” hay
“đóng góp cận biên”.
Q
Q
1
$
TC
TR
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng
dựng nhà máy, thay đổi thiết kế, cải tiến việc lắp ghép các nguyên liệu thành sản phẩm hoặc
chế biến. Kết quả cuối cùng của ảnh hưởng rút kinh nghiệm là chi phí giảm theo dung lượng
sản phẩm tính đến thời điểm hiện tại.
Chi phí cũng có thể bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ hoặc mối quan hệ qua lại giữa các
hoạt động khác nhau được thực hiện trong phạm vi doanh nghiệp. Một trong các mối quan hệ
đó được các nhà kinh tế gọi là tính kinh tế của phạm vi – xuất hiện khi doanh nghiệp sản xuất
nhiều sản phẩm kết hợp sẽ rẻ hơn là sản xuất riêng. Tính kinh tế phạm vi thường xảy ra khi
chế biến các sản phẩm khác nhau có chung đầu vào hoặc việc phân phối và xúc tiến diễn ra
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng
42
đồng thời. Mối quan hệ hoặc mối quan hệ qua lại không chỉ giới hạn ở chỗ dẫn đến tính kinh
tế của phạm vi. Có thể chi phí giảm do việc phối hợp các hoạt động khác trong phạm vi doanh
nghiệp, như quảng cáo và bán trực tiếp, hoặc sản xuất và bảo tồn. Có thể tăng mức độ liên kết
dọc trong phạm vi doanh nghiệp, tiến gần đến khách hàng cuối cùng (liên kết xuôi) hoặc đến
nguồn cung (liên kết ngược). Nói cách khác, bằng việc phối hợp với những người cung ứng
và các kênh phân phối chứ không phải thực hiện các hoạt động này trong phạm vi doanh
nghiệp, thì sẽ có lợi hơn.
Chi phí cũng có thể bị ảnh hưởng bởi trình tự thời gian trong chu kỳ kinh doanh hoặc
trình tự thời gian theo các hành động khác của doanh nghiệp. Việc mua các thiết bị có thể
chịu ảnh hưởng lớn của mức cầu và việc sử dụng công suất trong các ngành cung ứng, mua có
lợi nhất là khi những người cung thiếu đơn đặt hàng và bị vượt công suất. Có thể có lợi thế đi
trước khi là người đầu tiên tiến hành hoạt động, đặc biệt là khi có ảnh hưởng rút kinh nghiệm
đáng kể, như thế người đi trước sẽ bắt đầu được lợi trước người vào sau. Ngược lại, trong một
số tình huống có thể có lợi thế đi sau, như trong tình huống công nghệ đang phát triển nhanh:
những người đi trước có thể đã đầu tư nhiều vào công nghệ mà bây giờ đã trở thành lạc hậu.
Chi phí cũng có thể bị ảnh hưởng của vị trí địa lý khi giá đầu vào, chế độ thuế và các
chính sách của chính phủ thay đổi theo địa điểm và bởi các yếu tố pháp lý như: hiệp hội, thuế
quan và các quy tắc về tỷ lệ nội địa hoá.
Cuối cùng, chi phí còn phụ thuộc vào các chính sách tự chủ của doanh nghiệp như bản
Trong đó b là hệ số quy mô ước tính khoảng 0,6 nghĩa là 100% tăng trong sản lượng
có thể chỉ chịu 60% tăng trong chi phí.
Nguồn gốc thứ hai của tính kinh tế của quy mô là các đầu vào không thể chia được
nhỏ được. Nếu một số thiết bị hoặc một số hoạt động có một quy mô tối thiểu và không thể
chia thành các đơn vị nhỏ hơn thì hoạt động ở mức thấp hơn công suất sẽ gặp phải chi phí
cao. Nếu nhiều quá trình, mỗi quá trình lại gặp phải vấn đề không chia nhỏ được các đầu vào,
mà có quan h
ệ dọc với nhau thì ảnh hưởng này sẽ bị khuyếch đại lên vì việc sản xuất hiệu quả
đòi hỏi phải cân đối chúng với nhau. Khả năng không chia nhỏ được không chỉ hạn chế ở các
mặt sản xuất - kỹ thuật mà cả ở điều hành và quản lý.
Nguồn gốc thứ ba của tính kinh tế của quy mô là chuyên môn hoá và phân công lao
động. Từ thế kỷ 18 Adam Smith đã quan sát thấy chuyên môn hoá cao của lao động và máy
móc thiết bị dẫn đến cải thiện hiệu quả sản xuất vì họ thấy nhiệm vụ sát hơn, ở những mức
sản lượng nhỏ doanh nghiệp không thể đạt được mức độ chuyên môn hoá như ở các mức sản
lượng lớn vì không thể sử dụng một cách hiệu quả và đầy đủ công nhân và máy móc thiết bị.
Thứ tư, có tính kinh tế của quy mô ngẫu nhiên, gắn liền với mức tồn kho cụ thể và máy móc
thiết bị dự phòng cho trường hợp bất trắc. Nếu doanh nghiệp có quá trình sản xuất mà dễ đổ
vỡ sẽ mất rất nhiều chi phí thì nó sẽ cần đến một tập hợp máy móc thiết bị dự phòng. Nhưng
nếu lắp đặt hệ thống sản xuất thứ hai, làm tăng gấp đôi sản lượng thì sẽ không cần thiết phải
có máy móc thiết bị dự phòng nữa, nếu xác suất đổ vỡ cả hai hệ thống cùng một lúc là thấp ở
mức có thể chấp nhận được.
2. Nguồn gốc của tính phi kinh tế của quy mô
Tính phi kinh tế của qui mô (bất lợi kinh tế theo qui mô) được hiểu là chi phí trung
bình dài hạn sẽ tăng khi doanh nghiệp tăng sản lượng. Rất khó mà xác định được một cách
chắc chắn rằng liệu doanh nghiệp có gặp phải tính phi kinh tế của quy mô khi mức sản lượng
của nó mở rộng hơn một mức nhất định nào đó. Nếu chỉ chú ý đến các yếu tố kỹ thuật thì có
rất ít lý do để giả định rằng có tính phi kinh tế cuả quy mô. Có thể sau một mức sản lượng nào
đó sẽ không có tính kinh tế của quy mô nữa, lúc đó đường chi phí trung bình dài hạn sẽ nằm
ngang nhưng không có yếu tố nào trong số các yếu tố dẫn đến tính kinh tế của quy mô lại hoạt
KINH TẾ QUẢN LÝ
MES
Q
C
KINH TẾ QUẢN LÝ
Chương 3 – Sản xuất – Chi phí: Lý thuyết và ước lượng
45
tính phi kinh tế của quy mô sau mức sản lượng A. Hình 3.10(b) biểu thị tính kinh tế của quy
mô không bao giờ bị cạn kiệt nên đường chi phí trung bình dài hạn luôn luôn dốc xuống. Hình
3.10(c) là dạng thường được sử dụng, biểu thị một đường dốc xuống đến điểm gọi là “quy mô
tối thiểu có hiệu quả” (MES), sau điểm đó tính kinh tế của quy mô không tồn tại nữa.
Vì lý thuyết không phân biệt được ba dạng khác nhau này của đường chi phí trung bình dài
hạn nên cần phải quay lại thực tế để cố gắng giải quyết vấn đề này. Thực chất việc ước lượng
tính kinh tế của qui mô là xác định đường chi phí trung bình dài hạn. Có ba cách để tìm ra
hình dạng của hàm chi phí dài hạn. Đó là :
Ước lượng thống kê
Phương pháp kỹ thuật
Kỹ thuật sống sót
1. Ước lượng thống kê về tính kinh tế của quy mô
Ước lượng thống kê sử dụng những quan sát về chi phí để sản xuất ra một sản phẩm
trong các doanh nghiệp hoạt động ở các mức sản lượng khác nhau và dùng các phương pháp
thống kê để làm cho các phương trình phù hợp với số liệu. Thoạt nhìn đây là một phương
pháp rõ ràng nhất để xử lý số liệu thực tế nhằm tìm ra diễn biến cuả chi phí trên thực tế.
Nhưng nó lại có rất nhiều nhược điểm. Trước hết các số liệu sẵn có về chi phí là số liệu kế
toán phản ánh chi phí kế toán chứ không phải chi phí cơ hội. Những khác nhau trong phân bổ
chi phí gián tiếp cho các sản phẩm khác nhau hoặc các bộ phận khác nhau của công ty sẽ ảnh
hưởng đến cách thức đo chi phí, việc sử dụng các thời kỳ hạch toán khác nhau và các phương
pháp tính khấu hao khác nhau cũng ảnh hưởng đến cách đo chi phí. Ngay cả khi các chi phí
này có thể được điều chỉnh để đi đến được một ước lượng có cơ sở chung về chi phí cơ hội thì
vẫn có khoảng cách giữa cái quan sát được và cái cần tìm. Mục đích cơ bản là tìm ra dạng của
Phân tích thống kê về chi phí như trên cũng còn gặp khó khăn khác nữa, chẳng hạn
đường chi phí đang tìm đề cập đến những mức sản lượng khác nhau của cùng một loại sản
phẩm nhưng trong thực tế các doanh nghiệp ít khi sản xuất sản phẩm giống nhau. Các doanh
nghiệp khác nhau đưa ra các nhà máy của mình trong các khoảng thời gian khác nhau, vì thế
dựa vào trình độ công nghệ khác nhau và các doanh nghiệp khác nhau có thể trả các mức giá
khác nhau cho các đầu vào do sự không hoàn hảo của thị trường đầu vào. Tất cả các yếu tố đó
làm giảm tính hữu ích của phương pháp thống kê trong việc ước lượng tính kinh tế của quy
mô và nó cho thấy việc phân biệt giữa các lý thuyết khác nhau khó như thế nào.
Vấn đề khác nữa là có sự nghi ngờ về tính phi kinh tế của quy mô. Nếu có tính phi
kinh tế của quy mô thì người ta hy vọng rằng bằng chứng thực tế phải cho thấy là sau một
mức sản lượng nhất định chi phí phải tăng. Nhưng để tìm ra bằng chứng như thế doanh
nghiệp phải xây dựng các kết hợp nhà máy và máy móc thiết bị nhỏ hơn và hiệu quả hơn về
chi phí. Tại sao doanh nghiệp phải làm thế? Điều đó chỉ có thể xảy ra khi doanh nghiệp mắc
phải sai lầm, ít nhất là trong cạnh tranh hoàn hảo, doanh nghiệp không bao giờ chủ ý tạo ra
kết hợp nhà máy và máy móc thiết bị như thế.
SAC
1
LAC
C
B
A
Q
1
Q
2
AC
1
Phương pháp thứ ba để ước lượng tính kinh tế của quy mô là phương pháp điều tra
các doanh nghiệp sống sót do Stigler (1958) đưa ra. Phương pháp này giả định rằng các lực
lượng thị trường hoạt động hiệu quả nên loại doanh nghiệp nào có quy mô hiệu quả nhất sẽ có
thị phần ngày càng tăng còn các doanh nghiệp thuộc loại có quy mô không hiệu quả sẽ có thị
phần ngày càng giảm.
Các doanh nghiệp trong ngành sẽ được chia ra thành các loại quy mô khác nhau để quan
sát tỷ trọng thị trường của mỗi loại rồi ước lượng dạng của đường chi phí trung bình dài hạn.
Phương pháp này có nhược điểm là nó đưa ra quá nhiều giả định: tất cả các doanh
nghiệp phải theo đuổi mục đích giống nhau, hoạt động trong các môi trường tương tự, giá đầu
vào và công nghệ phải không thay đổi theo thời gian và các lực lượng thị trường phải hoạt
động hiệu quả không bị cản trở bởi các hành động cấu kết hoặc các hàng rào gia nhập. Các
điều kiện này chẳng bao giờ đúng trong khoảng thời gian đủ dài để những khác nhau trong thị
phần của các loại quy mô khác nhau thể hiện được. Vì thế phương pháp này ít được sử dụng.