THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ HÀ NỘI
VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIẾM
Đặng Mạnh Đoàn,Trần Thị Diệu Hằng, Phan Ban Mai
Viện Khoa học Khí Tượng - Thuỷ Văn và Môi Trường
Mở đầu
Trong những thập kỷ gần đây, Hà Nội đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm
môi trường, trong đó có môi trường không khí. Đặc biệt là, tại các khu công nghiệp,
các trục đường giao thông lớn đều bị ô nhiễm với các cấp độ khác nhau. Đó cũng là hệ
quả của sự gia tăng dân số, gia tăng đột biến của các phương tiện giao thông (ôtô, xe
máy…), cũ
ng như công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển quá nhanh, trong khi
cơ sở hạ tầng còn thấp. Theo các báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm cho thấy:
Nồng độ của các chất ô nhiễm ở các khu công nghiệp, các trục đường giao thông hầu
như đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP) như bụi vượt quá từ 2 - 4 lần và các
chất ô nhiễm như CO
2
, CO, SO
2
, NO
x
,… cũng đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Do
đó việc đưa ra những định hướng nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí
trong giai đoạn hiện nay là cần thiết.
1. Hiện trạng môi trường không khí Hà Nội
Dưới đây là bảng nồng độ các chất đo được tại đường hai chiều khu vực Cầu Mới
do hoạt động giao thông hai ngày 18-19/6/2006 trong điều kiện thời tiết nắng, nóng.
Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
110
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
0 2 4 6 8 1012141618202224
Thêi gian(h)
Nång ®é c¸c chÊt(mg/m
3
)
Nồng độ CO
Nồng độ TSP
Nồng độ NOx
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Môi trường - Viện KHKTTV&M«I TR-ÊNG
Hình 1. Nồng độ các chất ô nhiễm tại khu vực Cầu Mới, Ngã Tư Sở, Hà Nội
Nồng độ SO
gây ra chiếm tới 67%, do đường phố bẩn chiế
m khoảng 30% và còn lại là do các
phương tiện giao thông thải ra [9]. Số liệu thống kê năm 1996 - 1997 thì ô nhiễm TSP
đã xảy ra trầm trọng ở khu công nghiệp Thượng Đình: Cao su Sao Vàng, thuốc lá
Thăng Long, Bóng đèn - Phích nước Rạng Đông với đường kính khu vực ô nhiễm
khoảng 1,7km và nồng độ lớn hơn tiêu chuẩn cho phép 2 - 4 lần [7]; Tại khu công
nghiệp Minh Khai, Mai Động, Vĩnh Tuy với đường kính ô nhiễm khoảng 2,5km, có
nồng độ TSP cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2 - 3 lầ
n [7]. Trong những năm gần đây nồng
độ và bán kính ảnh hưởng của bụi ở khu vực này đã có xu hướng giảm dần. Dưới đây là
bảng biến đổi nồng độ (PM10) trong năm tại khu vực Láng là khu vực ít bị ảnh hưởng
bởi hoạt động sản xuất công nghiệp, mà chủ yếu bởi hoạt động giao thông gây nên.
Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
111
Th¸ng 4/2003
Thêi gian (giê)
0 2 4 6 8 1012141618202224
0
100
200
300
400
500
600
Th¸ng 7/2003
Thêi gian (giê)
0 2 4 6 8 1012141618202224
0
ug/m3
TCVN = 150 µg/m
3
Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Quốc Gia
Hình 2. Nồng độ (PM10) phụ thuộc vào thời gian tại trạm Láng - Hà Nội.
Hình 2, nồng độ bụi đo được tại trạm Láng cho thấy vào mùa khô từ tháng (10 -
3) lớn hơn hẳn so với mùa mưa tháng (4 - 7). Vào giờ cao điểm thì nồng độ bụi tương
đối cao, mà nguyên nhân kể đến là áp lực của hơn 1,55 triệu xe máy và gần 150.000 ô
tô đang lưu hành trên đường. Thêm vào đó là chất lượng các còn đường còn quá kém
cũng như hoạt động xây dựng, sửa chữa cũng làm nồng độ bụi tăng.
• Ô nhiễm môi trường không khí do các khí độc hại
Ngoài nguồn ô nhiễm do bụi, môi trường không khí Hà Nội còn bị ảnh hưởng
bởi các loại khí thải như SO
2
, CO
2
, CO, NO
x
… Đặc biệt, tại các khu vực có khu công
nghiệp sử dụng nhiều nhiên liệu hoá thạch và các trục đường giao thông lớn. Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
112
- Nồng độ COx
Nhìn chung, môi trường không khí ở tại các khu công nghiệp và một số khu dân
cư Hà Nội không bị ô nhiễm bởi CO. Các số liệu quan trắc từ năm 1996 - 2000 cho
thấy trong hầu hết các mẫu đo, nồng độ CO đều thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho
phép. Tuy nhiên, trên các tuyến giao thông, đặc biệt vào giờ cao điểm (7h30’- 8h30’)
4000
6000
8000
10000
ug/m3
0
2000
4000
6000
8000
10000
ug/m3
Th¸ng 7/2003
Thêi gian (giê)
024681012141618202224
0
2000
4000
6000
8000
10000
ug/m3
Th¸ng 10/2003
Thêi gian (giê)
024681012141618202224
0
2000
4000
6000
tại các nút giao thông chính đều
cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Theo tính toán thì tổng lượng khí SO
2
từ các nguồn thải
ở Hà Nội trong năm 1996 là hơn 7.000 tấn, nhưng đến năm 2003 đã tăng thêm 1.000
tấn, đến năm 2006 thì con số này là 9.000 tấn [7].
Nhìn vào đồ thị (Hình 6a) chúng ta thấy sự biến đổi của SO
2
thì không đều giữa
các khu vực trong khi đó thì biến đổi NO
2
thì tương đối đều nhau. Năm 2003 biến đổi
nồng độ SO
2
ở Lý Quốc Sư rất cao >0,6mg/m
3
, còn khu vực Mai Động, Thượng Đình,
Vạn Phúc, Kim Liên - Giải Phóng dao động khoảng 0,03 - 0,06mg/m
3
.
Th¸ng 1/2003
Thêi gian (giê)
024681012141618202224
0
50
100
150
200
250
ug/m3
200
250
TCVN = 300µg/m
3
Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Quốc Gia
Hình 4. Nồng độ SO
2
phụ thuộc vào thời gian tại trạm Láng
Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
114
- Nồng độ NO
2
Kết quả quan trắc của Trung tâm kĩ thuật Môi Trường đô thị thì chất lượng
không khí cho thấy nồng độ trung bình NO
2
tại các khu công nghiệp đều nhỏ hơn tiêu
chuẩn cho phép. Ngoài ra thì số liệu của Trạm quan trắc chất lượng không khí tự động
của Trung tâm kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp cho thấy, trong 6 năm
trở lại đây (từ năm 2000), nồng độ khí NO
2
tăng nhanh hơn, bình quân hàng năm
khoảng 40% - 60% mặc dù sự biến đổi này không rõ ràng (Hình 6b). Tuy nhiên ô
nhiễm cục bộ vẫn xảy ra tại một số khu vực xung quanh các nguồn thải lớn như các cơ
sở công nghiệp tiêu thụ nhiều nhiên liệu hoá thạch. Nồng độ NO
2
tại các cơ sở này dao
động trong khoảng 0.015 - 0,07 mg/m
3
024681012141618202224
0
50
100
150
200
250
ug/m3Th¸ng 10/2003
Thêi gian (giê)
0 2 4 6 8 1012141618202224
0
50
100
150
200
250
ug/m3
TCVN = 100
µg
/m
3
Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Quốc Gia
Hình 5. Nồng độ NO
2
phụ thuộc vào thời gian tại trạm Láng
0
0.01
0.02
0.03
0.04
0.05
0.06
0.07
Thượng Đình Mai Động Lý Quốc Sư Vạn Phúc Kim Liên +
Giải Phóng
2001 2002
2003 2004
mg/m3
b
a
Nguồn: Cục Bảo vệ Môi trường, 2005
Hình 6. Diễn biến nồng độ của SO
2
(a) và NO
2
(b) từ 2001 - 2004
• Xác định nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí.
Chất lượng không khí Hà Nội hiện đang suy giảm một cách nhanh chóng.
Nguyên nhân của sự suy giảm này chủ yếu do 3 nguồn chính: Công nghiệp, giao thông
và xây dựng, sinh hoạt.
- Hoạt động sản xuất công nghiệp
và các hợp chất chứa bụi, chì, khói được thải ra tăng, gây ô nhiễm
Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
116
môi trường không khí tại các trục giao thông chính và các nút giao thông đặc biệt vào
các giờ cao điểm.
Bên cạnh đó, chất lượng các phương tiện giao thông cũng như ý thức người dân
khi tham gia giao thông là nguyên nhân làm tăng nồng độ chất ô nhiễm. Hàng loạt các
yếu tố như: quá cũ, hay quá thời gian sử dụng, hệ thống thải không đạt yêu cầu, lượng
khí thải không đảm bảo tiêu chuẩn thải…Theo con số thống kê tại bốn địa đ
iểm là khu
vực Đuôi Cá, đê sông Hồng, đường Láng - Hòa Lạc và chân cầu Thăng Long có đến
95% số xe tải chở vật liệu xây dựng không bảo đảm yêu cầu vệ sinh như thùng xe
không kín, không có nắp đậy, chở vật liệu quá thùng.
+ Ô nhiễm không khí do xây dựng
Tốc độ đô thị hóa ở Hà Nội diễn ra khá nhanh và mạnh, thành phố như một
“công trường” lớn. Hiện nay trên địa bàn thành phố luôn có hơn 1.000 công trình xây
dựng l
ớn nhỏ được thi công. Trong đó có đến hàng chục dự án cải tạo, xây dựng các
nút giao thông, các khu đô thị mới, quy mô lớn, thời gian thi công kéo dài hàng năm,
gây ô nhiễm bụi cả khu vực rộng lớn. Ngoài ra, mỗi tháng còn có khoảng 10.000 m
2
đường bị đào bới để thi công các công trình hạ tầng kỹ thuật. Thành phố hiện nay có
khoảng hơn 300 điểm tập trung buôn bán vật liệu xây dựng. Mà phần lớn những điểm
buôn bán không có đủ điều kiện kinh doanh bảo đảm vệ sinh môi trường, diện tích nhỏ
hẹp, không có hàng rào che chắn, thường sử dụng vỉa hè làm nơi tập kết vật liệu, vì
vậy luôn phát tán bụi vào môi trường. T
ất cả những nguyên nhân trên khiến cho tình
trạng ô nhiễm bụi ở Hà Nội vẫn ở mức cao.
- Hoạt động sinh hoạt và dịch vụ của cộng đồng
việc làm, nhu cầu người dân, hoạt động xây dựng cơ sở vật chất… có xu hướng tăng.
+ Nhận thức của người dân về môi trường và sự phát triển còn yếu.
+ Ô nhiễm không khí xảy ra cục bộ: tại các khu dân cư có cơ sở sản xuất hoạt
động, các cụm dân cư do sinh hoạt cá nhân và khu vực gần các trục giao thông.
+ Nồng độ bụi và các chất ô nhiễm (CO, CO2, SO2, NOx…) vẫn tăng chưa có dấu
hiệu giảm. Đặc biệt là bụi tại các nút giao thông vẫn còn cao gấp 2 - 4 lần so với tiêu
chuẩn cho phép. Mặc dù tại nhiều nút đã được xây dựng cầu vượt nhưng do trong quá
trình th
ực hiện không đồng bộ nên ô nhiễm vẫn chưa có dấu hiệu giảm vẫn còn rất cao.
+ Nhiều bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường không khí như các bệnh liên
quan về đường hô hấp, bệnh ngoài da đặc biệt, tại các khu dân cư nằm trong vùng
công nghiệp hay tuyến giao thông ngày một gia tăng.
2. Đề xuất nhằm giảm thiểu ô nhiễm
Mặc dù, phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn trong việ
c cân
bằng giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Với những thách thức về môi
trường không khí như đã nêu, bài báo này xin nêu ra một số kiến nghị nhằm góp phần
giảm thiểu tình trạng ô nhiễm hiện tại cũng như trong tương lai của thành phố:
- Thứ nhất: Các vấn đề về giao thông đô thị và xây dựng cơ sở hạ tầng.
Phân luồng, trải thảm nhự
a tại các đường có dấu hiệu xuống cấp, đặc biệt là
tuyến đường vành đai và đường vào khu đô thị. Điều tiết phương tiện giao thông,
thông qua việc quy định thời gian lưu thông đối với các phương tiện.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông đô thị như: giao thông công cộng
(xe buýt, tàu điện, tàu điện ngầm…)
Khuyến khích phát triển các phương tiện, loại hình giao thông ít gây ô nhiễm không khí.
Xây dựng các c
ơ chế và chính sách cho việc lựa trọn việc lưu hành các phương
tiện giao thông (thuế môi trường, quy định cấm xe lam, xe 3 bánh…)
thống pháp luật liên quan đến môi trường, bổ sung nhiều tiêu chuẩn liên quan đến môi
trường không khí. Thành lập các đội thanh tra môi trường trực tiếp kiểm tra đánh giá chất
lượng c
ủa các cơ sở sản xuất. Bên cạnh đó kết hợp với tuyên truyền đối với người dân
thông qua băng zôn, khẩu hiệu, truyền thanh, truyền hình và đưa vấn đề bảo vệ môi
trường vào giảng dạy trong các trường học để người dân thấy được sự cần thiết của bảo vệ
môi trường. Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, hợp tác quốc tế về nhi
ều mặt (kỹ thuật,
công nghệ, phương thức quản lý)… Xây dựng các mô hình lan truyền ô nhiễm để ước tính
lượng phát thải trong tương lai từ đó để đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế ô nhiễm.
Tài liệu tham khảo
1. Hoàng Xuân Cơ (2002) - Đánh giá tác động môi trường - Nhà xuất bản Đại học
quốc gia Hà Nội
2. Tiêu chuẩn Việt Nam - Tập 2: Chất lượng không khí, âm học, chất lượng
đất -
Hà Nội năm 1995, 2005
3. Chu Văn thăng (1995). Nghiên cứu vùng ô nhiễm không khí cực đại và tác
động của nó tới sức khoẻ, bệnh tật của dân cư trong vùng tiếp giáp khu công
nghiệp Thượng Đình - Hà Nội
4. Dương Hồng Sơn và nnk (2003). Nghiên cứu quy hoạch môi trường không khí
đồng bằng sông Hồng
5. Hoàng Dương Tùng (2005). Hiện trạng môi trường không khí Việt Nam
6. Hoàng Xuân Cơ (2005). Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm bụi ở
thành phố Hà
Nội và đề xuất các giải pháp khắc phục
7. Báo cáo tổng hợp (2005). Nghiên cứu đề xuất cải thiện môi trường không khí Hà Nội
8. Cục bảo vệ môi trường:
http://www.nea.gov.vn
9. Sở tài nguyên – Môi trường và Nhà đất Hà Nội