Bài tiểu luận về quản trị
doanh nghiệp
Kinh tế quản trị DNCN Đại học: Mỏ Địa Chất Hà Nội
Sinh Viên: Nguyễn Ngô Anh Tuấn Lớp : Địa Vật Lý – K53 Page 1
Tiểu luận: Tại sao các doanh nghiệp nhà nước cần phải cổ phần hóa và tư
nhân hóa ? Hãy cho biết tình hình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
những năm gần đây 2005 – 2011 ?
Bài làm:
Công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra từ Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI (1986) đã và đang diễn ra tốt đẹp. Thông qua công cuộc đổi mới
này, vấn đề phát triển một nền Kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành
phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai
trò chủ đạo là một mục tiêu hết sức quan trọng. Thực tế cho thấy, qua hơn 16 năm
phát triển kinh tế theo đường lối này, nền kinh tế nước ta đã bước đầu thu được
nhiều thành tựu rất đáng khích lệ, mang dấu hiệu của một nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường của chúng ta vẫn còn là một nền kinh tế thị
trường ở dạng sơ khai và trước mắt còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thử
thách.
Một trong những khó khăn, bất ổn mà chúng ta cần phải nói tới đó là sự yếu
kém của khu vực kinh tế Nhà nước nói chung, mà nói riêng là là hệ thống các
doanh nghiệp Nhà nước. Có thể nói trong điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi
hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì
các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước đã thực sự bộc lộ những yếu
kém của mình như: công nghệ lạc hậu, tài sản manh mún, cơ chế quản lý cứng
hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
II. Tình hình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước những năm gần
đây 2005 – 2011. Kinh tế quản trị DNCN Đại học: Mỏ Địa Chất Hà Nội
Sinh Viên: Nguyễn Ngô Anh Tuấn Lớp : Địa Vật Lý – K53 Page 3
I. Lý luận chung về cổ phần hóa, tư nhân hóa. Sự cần thiết phải tiến
hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Trước khi đi vào phân tích nội dung cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, ta cần
phải hiểu thế nào là một công ty cổ phần & công ty tư nhân.
1. Khái niệm & đặc điểm của công ty cổ phần:
Khái niệm: là công ty có số vốn điều lệ được chia làm nhiều phần
bằng nhau, được gọi là cổ phần. Có số lượng cổ đông tối thiểu là ba
người và không hạn chế số lượng tối đa.
Đặc điểm:
Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thể
mua một hoặc nhiều cổ phiếu.
Cơ quan quyền lực cao nhất là đại hội đồng quản trị.
Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số tiền cổ phần mình
đã xuất vốn và cổ đông được quyền tự do sang nhượng cổ phần thông
qua việc mua bán các cổ phiếu.
Cổ phiếu được phát hành có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu
của sáng lập viên, của thành viên hội đồng quản trị phải là những cổ
phiếu có ghi tên.
Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng. cổ phiếu có ghi tên
Các công ty cổ phần là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng của
quá trình tái sản xuất còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản đơn giản thành
Kinh tế quản trị DNCN Đại học: Mỏ Địa Chất Hà Nội
Sinh Viên: Nguyễn Ngô Anh Tuấn Lớp : Địa Vật Lý – K53 Page 5
những chức năng của những người sản xuất lien hợp, tức là thành những chức
năng xã hội.
Như vậy sự xuất hiện của các công ty cổ phần theo lý luận của C.Mác là kết
quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất và là bước tiến từ sở hữu tư nhân
lên sở hữu tập thể của các cổ đông.
3.2. Những ưu điểm của cồ phần hóa và sự cần thiết phải tiến hành cổ
phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước :
Thực hiện cổ phần hóa là một nhiệm vụ rất cần thiết và quan trọng trong quá
trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, cổ phần hóa sẽ giải quyết được các vấn đề
sau:
Thứ nhất: Thực hiện cổ phần hóa là để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ
sản xuất và lực lương cách mạng và lực lượng sản xuất. cổ phần hóa góp phần
thực hiện chủ trương đa dạng hóa các hình thức sở hữu. Trước đây chúng ta xây
dựng một cách cứng nhắc chế độ công hữu, thể hiện ở một số lượng quá lớn các
doanh nghiệp Nhà nước mà không nhận thấy quan hệ sản xuất này không phù
hợp với lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu. Vì vậy cổ phần hóa sẽ
giải quyết được mâu thuẫn này, giúp lực lượng sản xuất phát triển.
Thứ hai: Thực hiện cổ phần hóa nhằm xã hội hóa lực lượng sản xuất, thu
hút thêm nguồn lực sản xuất. Khi thực hiện cổ phần hóa, người lao động sẽ gắn
bó, có trách nhiệm với công việc hơn, họ trở thành người chủ thực sự của doanh
nghiệp. Ngoài ra, phương thức quản lý được thay đổi, doanh nghiệp sẽ trở nên
năng động, tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Do một cá nhân làm chủ sở hữu vốn.
Kinh tế quản trị DNCN Đại học: Mỏ Địa Chất Hà Nội
Sinh Viên: Nguyễn Ngô Anh Tuấn Lớp : Địa Vật Lý – K53 Page 7
Doanh nghiệp chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình.
Doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân.
5. Thế nào là tư nhân hóa?
Là quá trình chuyển quyền sở hữu của tài sản hoặc các hoạt động kinh doanh từ
nhà nước sang cho một thực thể do tư nhân sở hữu. Một trong những lí do khiến
hình thức này ra đời đó là do xu hướng kinh doanh hiệu quả của khu vực tư nhân.
Khi đã là chủ sở hữu của doanh nghiệp, các cá nhân thường tìm ra các biện pháp
nhằm tối đa hóa lợi nhuận, khác với chính phủ – nơi không quá quan tâm đến lợi
nhuận của các hoạt động kinh doanh.
6. Tại sao phải tư nhân hóa ?
Khu vực kinh tế tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Nó là một trong hai chủ thể để thực hiện CND-HDH đất nước ( chủ thể thứ
hai là kinh tế nhà nước). Sự phát triển của kinh tế tư nhân cần phải được coi là một
tiền đề không thể thiếu để phát huy các động lực con người trong sự nghiệp CNH
đất nước, kinh tế tư nhân phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nước
ta. Vì vậy mà kinh tế tư nhân trong thời gian tới cần được khuyến khính phát triển.
II. Tình hình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước những năm gần đây
2005 – 2011.
Cổ phần hóa là một phần quan trọng trong cải cách hệ thống doanh nghiệp
Nhà nước của nhiều quốc gia trên thế giới kể từ đầu thập niên 80 của thế kỷ XX ở
Việt Nam, cổ phần hóa DNNN là một quá trình tìm tòi thử nghiệm và từng bước
tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là
một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các
doanh nghiệp nhà nước. Sau 20 năm thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
Kinh tế quản trị DNCN Đại học: Mỏ Địa Chất Hà Nội
Sinh Viên: Nguyễn Ngô Anh Tuấn Lớp : Địa Vật Lý – K53 Page 9
Cơ cấu vốn điều lệ. Tỷ lệ cổ phần do Nhà nước giữ ở các doanh nghiệp đã
cổ phần hóa như sau: nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% ở 33% số doanh nghiệp;
dưới 50% số vốn ở 37% số doanh nghiệp và không giữ lại tỷ lệ % vốn nào ở gần
30% số doanh nghiệp. Xem xét cụ thể hơn có thể thấy: số vốn nhà nước đã được cổ
phần hóa chỉ mới chiếm 12%, và ngay trong số vốn này, Nhà nước vẫn nắm
khoảng 40%, vì thế số vốn mà Nhà nước cổ phần hóa được bán ra ngoài mới chiếm
một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 3,6%). Với cơ cấu vốn nhà nước đã cổ phần hóa như trên
có thể thấy bức tranh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay và
hiểu rõ hơn khái niệm cổ phần "chi phối" của nhà nước.
Cơ cấu cổ đông. Cổ đông trong các doanh nghiệp đã cổ phần hóa là cán
bộ, công nhân viên nắm 29,6% cổ phần; cổ đông là người ngoài doanh nghiệp nắm
24,1% cổ phần; cổ đông là Nhà nước nắm 46,3% cổ phần. Nét đáng chú ý về cơ
cấu cổ đông là các nhà đầu tư chiến lược trong nước khó mua được lượng cổ phần
đủ lớn để có thể tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, còn nhà đầu tư nước
ngoài có tiềm năng về vốn, công nghệ, có năng lực quản lý kinh doanh cũng chỉ
được mua số lượng cổ phần hạn chế. Điều này làm cho các doanh nghiệp đã cổ
phần hóa rất khó hoạt động có hiệu quả, nhất là trước sức ép cạnh tranh ở cấp độ
quốc tế, khi nước ta đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Phân tích một số bài viết nghiên cứu về quá trình cổ phần hóa trên báo chí, chẳng
hạn bài "Cổ phần hóa - quỹ đạo nào để bảo toàn, phát triển thị trường vốn?" đăng
trên báo Tài chính; qua những thông tin từ Ban Chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp, có
thể nhận thấy việc đánh giá về hiệu quả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có
những ý kiến không giống nhau. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, sau khi cổ phần hóa, có tới 90% doanh nghiệp hoạt động có hiệu
quả, góp phần tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động, huy
động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách nhà nước,
Sinh Viên: Nguyễn Ngô Anh Tuấn Lớp : Địa Vật Lý – K53 Page 11
Bên cạnh đó, mở rộng đối tượng nhà đầu tư chiến lược, không chỉ có các
nhà đầu tư trong nước, mà bao gồm cả nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời xoá bỏ cơ
chế ưu đãi giảm 20% giá bán cổ phần so với giá đấu bình quân. Nhà đầu tư chiến
lược được mua cổ phần theo giá không thấp hơn giá đấu giá thành công bình
quân
Bổ sung thêm phương thức mới về bán cổ phần lần đầu: bảo lãnh phát hành
và thoả thuận trực tiếp. Nếu áp dụng phương thức đấu giá công khai, doanh nghiệp
có khối lượng cổ phần bán ra dưới 10 tỷ đồng thì được đấu giá tại các tổ chức tài
chính trung gian. Ngược lại, nếu khối lượng cổ phần bán ra trên 10 tỷ đồng thì nhất
thiết phải đấu giá tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng
khoán… Những doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị
trường chứng khoán theo quy định của pháp luật có liên quan về chứng khoán phải
thực hiện niêm yết, đăng ký giao dịch ngay trên Sở Giao dịch chứng khoán/Trung
tâm giao dịch chứng khoán trong quá trình cổ phần hoá…
Ngày 18/07/2011, Chính phủ ban hành Nghị định 59/2011/NĐ-CP về
chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị
định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007. Theo đó: Đối tượng được cổ phần hóa bị
thu hẹp. Thay vì quy định 6 đối tượng như trước đây, theo Nghị định mới ban
hành, có 3 đối tượng được cổ phần hóa (CPH). Các đối tượng được CPH gồm:
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên do Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế; Tổng công ty nhà
nước (kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước);
Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là
DN thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương;
Kinh tế quản trị DNCN Đại học: Mỏ Địa Chất Hà Nội
công và những bài học kinh nghiệm có được trong tiến trình Cổ phần hóa vừa qua
đã khẳng định Cổ phần hóa là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta
trong giai đoạn hiện nay, hiệu quả mà cổ phần hóa đem lại là không thể phủ nhận
và hoàn toàn có thể tăng trong tương lai.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, còn có rất nhiều vướng
mắc, hạn chế và thất bại. Nhưng tin chắc rằng, với quyết tâm của Đảng, Chính phủ,
cộng với sự nỗ lực của toàn dân ta thì việc khắc phục những bất cập hoàn toàn có
thể làm được trong thời gian tới, nghĩa là chương trình cổ phần hóa hoàn toàn có
thể thành công, góp phần vào những thắng lợi chung của sự phát triển kinh tế đất
nước.
Lời cảm ơn: Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Ths Đào Anh Tuấn đã truyền
cho em những kiến thức quý báu, cho em những hiểu biết cơ bản về Kinh tế quản
trị doanh nghiệp công nghiệp và đặc biệt đã giao cho em bài tiểu luận này giúp em
có cơ hội tìm hiểu và hiểu rõ hơn về vấn đề cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước
và tình hình cổ phần hóa hiện nay.
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Ngô Anh Tuấn