i
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC HÌNH xi
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1.TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU. 3
2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 5
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 5
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước. 6
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀU HAI THÂN 7
1.1. Khái niệm 7
1.2. Lịch sử phát triển 7
1.2.1. Các tàu nhiều thân nguyên thủy 7
1.2.2. Chinh phục Thái Bình Dương. 8
1.2.3. Catamaran của người châu Âu và Mỹ 9
1.2.4. Giai đoạn đầu thế kỷ 21 13
1.3. Đặc điểm của tàu hai thân 14
1.4. Phân loại 15
2. TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ TÀU HAI THÂN 15
2.1. Giới thiệu chung 15
2.2. Sơ lược về thiết kế catamaran. 17
2.2.1. Phần vỏ catamaran 17
2.2.2. Thống kê quan hệ giữa các thông số của tàu hai thân Catamaran 19
2.2.3. Một số dạng Catamaran điển hình 20
2.2.3.1. Sêri NPL Southampton 20
- iii -
1.2.2.3. Trọng lượng dự trự lượng chiếm nước 38
1.2.2.4. Trọng lượng thuyền viên, lương thực, thực phẩm, nước sinh hoạt 38
1.2.2.5. Trọng lượng hàng lỏng thay đổi, trọng lượng nước dằn 38
1.2.2.6. Trọng lượng nhiên liệu dầu mỡ, nước cấp 39
1.2.2.7. Phương trình trọng lượng tàu 40
1.3. TÍNH CÁC THÔNG SỐ KÍCH THƯỚC CHÍNH 42
1.4. TÍNH LẠI LƯỢNG CHIẾM NƯỚC THEO CÁC KÍCH THƯỚC CHÍNH 43
1.5. TÍNH LẠI LƯỢNG CHIẾM NƯỚC THEO CÁC TRỌNG LƯỢNG
THÀNH PHẦN 43
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ ĐƯỜNG HÌNH 45
2.1. CÁC THÔNG SỐ ĐẦU VÀO 45
2.2. KẾT QUẢ 45
CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN TÍNH NĂNG 54
3.1. XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ THỦY LỰC 54
3.2. TÍNH VÀ VẼ ĐỒ THỊ BONJEAN 54
3.2.1. Đồ thị bonjean. 54
3.2.2. Phương pháp xây dựng. 54
3.3. ĐỒ THỊ THỦY TĨNH 64
3.3.1. Cơ sở lý thuyết 64
3.3.2. Tính diện tích mặt đường nước S 64
3.3.3. Tính thể tích chiếm nước V 65
3.3.4. Tính trọng lượng tàu D 65
3.3.5. Tính hoành độ trọng tâm diện tích mặt đường nước Xf 65
3.3.6. Tính hoành độ tâm nổi Xc. 65
3.3.7. Tính cao độ tâm nổi Zc 65
3.3.8. Tính các hệ số 66
3.4. TÍNH CÁC YẾU TỐ THỦY TĨNH TÀU THIẾT KẾ 66
CHƯƠNG 4: BỐ TRÍ CHUNG 69
4.1. PHÂN KHOANG 70
- v -
5.4. TÍNH TOÁN KẾT CẤU GIA CƯỜNG 83
5.4.1. Tải trọng thiết kế. 83
5.4.1.1. Tải trọng thiết kế kết cấu đáy. 83
5.4.1.2. Tải trọng thiết kế kết cấu mạn 84
5.4.1.3. Tải trọng thiết kế kết cấu boong. 85
5.4.1.4. Tải trọng thiết kế thượng tầng và lầu 85
5.4.1.5. Tải trọng thiết kế vách kín nước. 86
5.5. TÍNH TOÁN DÀN MẠN 86
5.5.1. Sườn 86
5.5.1.1. Phạm vi áp dụng 86
5.5.1.2. Lựa chọn quy cách sườn 86
5.5.1.3. Khoảng cách sườn 87
5.5.1.4. Kích thước của sườn 87
5.5.2. Nẹp dọc mạn 89
5.5.3. Tính toán dàn đáy. 90
5.5.3.1. Đà ngang đáy. 90
5.5.3.2. Nẹp dọc đáy 91
5.5.4. Tính toán dàn boong của 2 bên thân tàu (trừ phần cầu nối). 92
5.5.4.1. Xà ngang boong. 92
5.5.4.1. Xà dọc boong 93
5.5.5. Tính toán kết cấu gia cường vách kín nước 94
5.5.6. Tính toán kết cấu gia cường thượng tầng. 95
5.6. TÍNH KẾT CẤU CẦU NỐI 96
5.6.1. Các trường hợp chịu lực 97
5.6.1.1. Tàu trên đáy sóng 97
5.6.1.2. Tàu trên đỉnh sóng 97
5.6.1.3. Tàu chịu xoắn 98
5.6.2. Kiểm tra bền cầu nối 99
5.6.2.1. Tải trọng cầu nối. 99
- vii -
8.1.2. Hệ số dòng hút 136
8.1.3. Đường kính chân vịt 136
8.1.4. Hiệu suất thân tàu 137
8.1.5. Hiệu suất xoáy 137
8.1.6. Hệ số dự trữ công suất . 137
8.1.7. Hiệu suất đường trục 137
8.1.8. Hiệu suất hộp số 137
8.1.9. Hiệu suất môi trường 137
8.1.10. Hệ số ảnh hưởng thân tàu 138
8.1.11. Số cánh chân vịt 138
8.1.12. Tỷ số mặt đĩa 138
8.1.13. Chọn máy 139
8.2. THIẾT KẾ CHÂN VỊT ĐỂ SỬ DỤNG HẾT CÔNG SUẤT MÁY 147
8.2.1. Kiểm tra bền theo coâng thức Romson 152
8.2.2. Tính khối lượng và momen quán tính chân vịt 154
8.2.2.1. Tính khối lượng chân vịt 154
8.2.2.2. Momen quán tính 154
8.2.3. Xây dựng bảng vẽ chân vịt 155
8.2.3.1. Kích thước hình học của chân vịt: 155
8.2.3.2. Đặc trưng hình học của cánh chân vịt 156
8.2.3.3. Tính chọn then. 158
CHƯƠNG 9: THIẾT KẾ HỆ TRỤC 159
9.1. CÔNG DỤNG CỦA HỆ TRỤC TÀU VÀ YÊU CẦU KHI THIẾT KẾ HỆ
TRỤC TÀU 159
9.2. PHƯƠNG ÁN BỐ TRÍ HỆ TRỤC 159
9.3. XÁC ĐỊNH KÍCH THƯỚC HỆ TRỤC 160
9.3.1. Bố trí đường tâm trục 160
9.3.2. Các kích thước chính của hệ trục 160
9.3.3. Đường kính trục trung gian 161
- ix -
10.3.2. Pháo hiệu dù đỏ 181
10.3.3. Đèn tín hiệu dự phòng 181
10.4. THIẾT BỊ VÔ TUYẾN ĐIỆN 181
10.5. TRANG BỊ HÀNG HẢI 183
PHẦN IV: QUI TRÌNH CHẾ TẠO MÔ HÌNH 184
1.1. QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ ĐÓNG TÀU COMPOSITE 184
1.2. QUI TRÌNH CÔNG NGHẾ CHẾ TẠO VỎ MÔ HÌNH 184
1.2.1. Công tác chuẩn bị 185
1.2.1.1. Chuẩn bị bản vẽ 185
1.2.1.2. Chuẩn bị nguyên vật liệu 185
1.2.2. Chế tạo khuôn mẫu 186
1.2.2.1. Cắt dưỡng 186
1.2.2.2. Chế tạo khuôn 186
1.2.3. Chế tạo vỏ composite 191
1.2.4. Lắp máy, hệ động lực và bộ điều khiển 192
1.3. QUI TRÌNH SỬ DỤNG MÔ HÌNH 192
1.3.1. Kiểm tra và đổ đầy xăng 192
1.3.2 Kiểm tra pin nguồn của bộ phận điều khiển và tay điều khiển 192
1.3.3 Đóng nguồn bộ điều khiển 193
1.3.4 Kiểm tra bộ điều khiển 193
1.3.5 Khởi động động cơ 193
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 194
1.1 KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 194
1.1.1 Hình ảnh mô hình hoàn thiện 194
1.1.2 Kết quả thử mô hình 195
1.2 KẾT LUẬN 195
1.3 ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 196
TÀI LIỆU THAM KHẢO 197
- x -
Bảng 30: Định mức trang thiết bị: 182
Bảng 31: Trang thiết bị hàng hải 183
- xi -
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình I.1: Tàu Thanh Vân – 05 5
Hình I.2 : Tàu hai thân đóng mới theo thiết kế của nước ngoài 6
Hình II.1: Tàu hai thân nguyên thủy 7
Hình II.2: Catamaran nguyên thủy của New Guinea 9
Hình II.3: Trimaran của người Philippine cổ 9
Hình II.4: Trimaran của Miller 10
Hình II.5: Catamaran quân sự Demologos 10
Hình II.6: Catamaran Castaila 11
Hình II.7: Catamaran Calais - Dover 12
Hình II.8 : Catamaran khách cao tốc Express 12
Sơ đồ II.1: Tần suất xuất hiện của Catamaran theo chiều dài L 19
Sơ đồ II.2: Tần suất xuất hiện của tỉ soosL/B (chiều dài trên chiều rộng toàn bộ) 19
Sơ đồ II.3: Tần suất xuất hiện của tỉ sốL/H (H là chiều cao mạn) 19
Hình II. 10: Mô hình sơ đồ thân vỏ và các ký hiệu 20
Hình III.2.1: Lưới 3D nửa thân tàu thiết kế trong Autoship 46
Hình III.2.2: Lưới 3D toàn bộ thân tàu thiết kế bằng Autoship 47
Hình III.2.3: Mô hình 3D thân tàu trên Autoship 48
Bảng III.3.3: Hull Form Coefficients (with appendages) 67
Hình III.5.1: Sơ đồ phân khoang của tàu thiết kế. 77
Hình III.5.2: Phân bố gia tốc thẳng đứng 85
Hình III.5.3 Quy cách của sườn. 86
Hình III.5.4: Ký hiệu b, d 88
Hình III.5.5: Tàu trên đáy sóng 97
Hình III.5.6: Tàu trên đỉnh sóng 97
Hình III.5.7: Tàu chịu xoắn 98
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, ngành đóng tàu nước ta đang phát triển mạnh mẽ.
Nhiều nhà máy, cụm công nghiệp đóng tàu được đầu tư xây dựng trên khắp các tỉnh
thành ven biển, nhiều dự án mới, hợp đồng mới liên tiếp được ký kết, tỉ lệ nội địa
hóa của ngành đóng tàu ngày một nâng cao.
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của ngành đóng tàu nước ta còn thấp, công
nghệ còn lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, chủ yếu dựa vào lợi thế giá nhân công
rẻ. Điều này khiến ngành đóng tàu nước ta phát triển chưa bền vững.
Để cải thiện năng lực cạnh tranh của ngành đóng tàu, một trong những điều
kiện quyết định hàng đầu là phải đào tạo được đội ngũ kỹ sư giỏi, có khả năng đáp
ứng mọi yêu cầu công việc.
Một trong những kĩ năng còn hạn chế của các kỹ sư đóng tàu Việt Nam là
khả năng thiết kế tàu, hầu hết các bản thiết kế của các tàu lớn đều được mua từ nước
ngoài. Chính vì vậy, việc đào tạo kỹ sư thiết kế tàu là vấn đề cần quan tâm ở các
trường có đào tạo ngành đóng tàu. Có như vậy, con tàu Việt Nam mới vươn được ra
khơi xa, ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam mới có điều kiện bắt kịp, đón đầu
ngành công nghiệp tàu thủy của các nước tiên tiến trên thế giới .
Đồ án tốt nghiệp giúp sinh viên hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức chuyên
ngành đã được học. Mặt khác, nó còn trang bị cho sinh viên khả năng tư duy, tính
toán, thiết kế và công nghệ đóng tàu, nó trang bị cho sinh viên những kỹ năng cần
thiết để làm cơ sở cho việc thiết kế những con tàu thương mại sau này.
Sau thời gian bốn tháng làm việc với tinh thần khẩn trương nghiêm túc, với
sự hướng dẫn tận tình của thầy Huỳnh Văn Nhu, nhóm em đã hoàn thành đề tài tốt
nghiệp “Nghiên cứu thiết kế và chế tạo thử nghiệm mô hình tàu hai thân bằng
vật liệu composite”.
- 2 -
NỘI DUNG THỰC HIỆN
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
Trong những năm gần đây, ngành đóng tàu nước ta đang có những bước phát
triển mạnh mẽ. Chúng ta đã đóng được những con tàu có tải trọng lớn được bạn
hàng trong nước và quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, loại tàu chúng ta đóng chủ yếu
vẫn là tàu hàng khô, tàu hàng rời, tàu dầu cỡ nhỏ… Đây là những loại tàu có giá trị
kinh tế không cao. Thông thường giá thành của một chiếc tàu hàng thường chỉ từ
vài đến vài chục triệu đô la, trong khi đó giá thành của một du thuyền du lịch có thể
có giá vài trăm triệu đến cả tỉ đô la.
Thị trường du thuyền du lịch những năm trở lại đây liên tục phát triển, nhiều
du thuyền sang trọng đã được ra đời, đặc biệt là các du thuyền cá nhân phục vụ cho
giới doanh nhân, giới thượng lưu. Trong các loại du thuyền cá nhân thì du thuyền
hai thân vẫn được đặt hàng nhiều nhất do có nhiều ưu điểm như tính ổn định cao, độ
lắc êm và tốc độ vượt trội so với tàu một thân cùng kích cỡ. Tàu có sức cản thân tàu
nhỏ, độ an toàn cao, ít lắc, mặt boong khai thác rộng và có chi phí sử dụng thấp nhất
trong các loại tàu cao tốc. Tàu hai thân còn là loại tàu có hình dáng đẹp xét về mỹ
thuật và cảnh quan du lịch.
Hiện nay, các nước Bắc Âu, Anh, Pháp, Mỹ, Úc…đang là những nước có thế
mạnh về đóng du thuyền. Vì lý do về môi trường, sức khỏe người dân, giá trị
thương mại…mà những nước này đã và đang chuyển từ đóng tàu hàng sang đóng
các loại tàu có giá trị thương mại cao như du thuyền.
Thực tế này đặt ra cho ngành đóng tàu nước ta một câu hỏi: tại sao chúng ta
không đóng các loại tàu có giá trị thương mại cao như du thuyền cá nhân? Vẫn biết
rằng đóng du thuyền thì đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao hơn nhưng với sự quan tâm và
đầu tư thích đáng chúng ta hoàn toàn có thể đóng được loại tàu này. Song song với
việc đóng các loại tàu vận tải thông thường, chúng ta nên đầu tư phát triển đóng các
- 4 -
loại tàu có giá trị cao như tàu du lịch. Đây là một hướng đi mới đầy khả quan cho
ngành đóng tàu nước ta bởi lẽ với sự phát triển của ngành du lịch, nhu cầu vui chơi,
trang bị cho sinh viên những kỹ năng mà một kỹ sư cần phải có.
-Rèn luyện khả năng làm việc nhóm.
-Trang bị cho sinh viên nhiều kiến thức thực tế bổ ích cần thiết cho công việc
sau này.
-Đề tài có ý nghĩa thực tế, có tính ứng dụng cao.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam hiện nay đã có một số cơ sở nghiên cứu và chế tạo tàu hai thân
bằng vật liệu hợp kim nhôm và composite.
Viện Nghiên cứu Chế tạo Tàu thủy –Trường Đại học Nha Trang
(UNINSHIP) là một trong những cơ sở đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu và chế tạo
thành công tàu hai thân bằng vật liệu composite. Hình I.1: Tàu Thanh Vân – 05 Ngoài ra một số cơ sở khoa học khác cũng đang có những đề tài nghiên cứu
về tàu hai thân như đại học Bách Khoa Hà Nội, khoa Kỹ Thuật Giao Thông – đại
học Bách Khoa Tp. Hồ Chí Minh….
- 6 -
Hiện nay, một số cơ sở sản xuất trong nước như Công ty Cổ phần Công nghệ
Hải Long (Hải Phòng), Công ty Viễn Đông (Hà Nội)… đã sản xuất một số loại tàu
hai thân phục vụ du lịch và tuần tra. Tuy nhiên, các công ty này đều sử dụng thiết kế
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀU HAI THÂN
1.1. Khái niệm
Tàu nhiều thân (multi hull ships) là tên gọi chung của các tàu: tàu hai thân
giống nhau (catamaran); tàu hai thân không giống nhau (proa); tàu hai thân (ba
thân) có diện tích mặt đường nước nhỏ (SWATH – Small Waterplane Area Twin
(Tri) Hull ); tàu ba thân giống nhau (trimaran); tàu có thân phụ (Ship With
Outrigger); tàu bốn thân (Four Hull Ship); và thậm chí năm thân (Penta Hull Ship).
1.2. Lịch sử phát triển.
1.2.1. Các tàu nhiều thân nguyên thủy.
Tàu nhiều thân được đề cập lần đầu tiên vào thời cổ đại. Người La Mã đã
xây dựng một hạm đội lên đến 400 chiếc tàu hai thân. Hình II.1 giới thiệu mẫu tàu
chiến hai thân của người La Mã cổ đại. Hình II.1: Tàu hai thân nguyên thủy
- 8 -
1.2.2. Chinh phục Thái Bình Dương.
Tàu biển đầu tiên vượt Thái Bình Dương là các catamaran được chế tạo bởi
các công cụ bằng đá. Giao thông thủy đã bắt đầu sử dụng các thân cây rỗng như là
tàu một thân. Để tăng tính ổn định, một thân cây nhỏ được lắp ở bên hông như một
Hình II.2: Catamaran nguyên Hình II.3: Trimaran của người
thủy của New Guinea Philippine cổ
1.2.3. Catamaran của người châu Âu và Mỹ.
Vào thế kỷ 17, sau 2000 năm quên lãng, catamaran đã trở lại châu Âu. Bá
tước W. Petti của nước Anh đã chế tạo mẫu catamaran Simon & Iude (khoảng năm
1660) nhằm chứng minh tính ưu việt của catamaran so với tàu một thân truyền
thống. Được tái tạo năm 1669, catamaran có chiều dài 10m, chiều rộng mỗi thân
1,2m, có thể đạt được vận tốc 15-20 hl/h với tính năng hàng hải thỏa đáng. Bá tước
W. Petti cũng chế tạo 3 catamaran chạy buồm Invention II, Experiment và St.
Michael and Archangel.
100 năm sau, P.Miller của Scotland đã chú ý đến tàu nhiều thân. Trong thời
gian từ 1786-1789 ông đã chế tạo catamaran Experiment dài 34m, chiều rộng một
thân 4m, với 5 cột buồm và 4 bánh guồng giữa các thân. Ông cũng chế tạo 2
trimaran (hình II. 4). Một trong số chúng đã đi đến Stockholm và St.Petersburg.
- 10 -
độ chỉ có 11hl/h, thấp hơn nhiều so với tàu một thân. Thời điểm đó, sự cạnh tranh
về giao thông cao tốc yêu cầu phải hiện đại hóa nó, và sau đó nó bị thải hồi.
Hình II.6: Catamaran Castaila
Ba năm sau, vào năm 1877, tàu hai thân lớn nhất thế kỷ 19, phà Calais –
Dover được đóng mới. Tốc độ chạy thử trên biển với lượng chiếm nước 2000 tấn và
công suất 4000 mã lực là 14hl/h. - 12 -
tiên tiến đang được phát triển ở nhiều nước.
Catamaran dạng cắt sóng Sea-Cat đã lập kỷ lục mới về tốc độ trong hành
trình qua Đại Tây Dương. Sự phát triển của catamaran cắt sóng bắt đầu ở cuối thế
kỷ 20 không khác nhiều so với catamaran của đất mẹ châu Đại Dương.
Việc đóng mới tàu nhiều thân rất phát triển ở Úc. Vào năm 1988, xưởng
đóng tàu Astral Ship gần Perth bắt đầu đóng catamaran. Ngay sau đó họ nhận được
nhiều đơn đặt hàng từ Trung Quốc, Hồng Kông, Singapor, Indonesia, Anh… Các
tàu có chiều dài đến 76m, sức chở 400 người và 70 xe hơi, tốc độ lên đến 40hl/h,
cũng như các tàu nhỏ đã rất phổ biến. Hình II.9 Mẫu tự hành có thân phụ