Đề tài " Sự di chuyển lao động từ khu vực công sang khu vực tư ở Việt Nam " pot - Pdf 22

z
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 1


ĐỀ TÀI
Sự di chuyển lao động từ
khu vực công sang khu vực
tư ở Việt Nam
Giáo viên h
Giáo viên h
ướng dẫn
ướng dẫn
: Nguyễn Ngọc Tuấn
: Nguyễn Ngọc Tuấn
Sinh viên thực hiện
Sinh viên thực hiện
: Huỳnh Thị Tú Văn
: Huỳnh Thị Tú Văn
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 2
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 3
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn chủ đề
Trong thời đại hiện nay, khi mà hầu hết các nước trên thế giới đang hướng đến

2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của bài tiểu luận nhằm hiểu một cách sâu sắc hơn các vấn
đề cụ thể như sau:
 Cơ sở lý luận chung và thực trạng của thị trường lao động trong nước
 Phân biệt giữa khu vực Nhà nước và khu vực ngoài Nhà nước trong nền
kinh tế.
 Thực trạng dao động cung cầu giữa các khu vực kinh tế, cũng như những
tác động do sự di chuyển từ khu vực Nhà nước sang các khu vực ngoài.
Trên cơ sở đó đưa ra một số ý kiến đóng góp về hạn chế sự di chuyển lao động
từ khu vực công sang khu vực tư, đảm bảo cân đối giữa các khu vực kinh tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là thực trạng tình hình di chuyển lao
động từ khu vực Nhà nước sang các khu vực khác và những tác động do sự dao động trên
đối với nền kinh tế chung.
Phạm vi nghiên cứu: đi sâu vào thực trạng cụ thể tại địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi có sử dụng kiến thức thông qua việc nghiên
cứu các loại tài liệu, nghiên cứu bằng các phương pháp như: phương pháp trao đổi trực
tiếp, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích số liệu.
5. Nguồn số liệu
Nguồn số liệu được thu thập dựa trên :
• Báo cáo thường niên của Bộ Lao Động, Thương Binh-Xã hội về số lao
động di chuyển giữa các khu vực kinh tế.
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 6
• Nguồn ADB do Bộ Tài Chính cung cấp về mức thu nhập giữa các khu vực
kinh tế.
• Các số liệu khác thu thập trên các website có liên quan.

tạo ra những sản phẩm vật chất-tinh thần, những dịch vụ công cộng phục vụ đời sống
nhân dân và lợi ích toàn xã hội .
1.2. Khu vực ngoài Nhà nước (Khu vực tư)
Khu vực ngoài Nhà nước bao gồm tất cả các nhà cung cấp, các công ty, dịch vụ
đã tồn tại ở bên ngoài khu vực Nhà nước. Hiện nay, kinh tế tư nhân được hiểu là một
nhóm các thành phần kinh tế, bao gồm cơ sở sản xuất, hộ nông nhân cá thể và tiểu chủ,
hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ, thương mại ở thành thị; doanh nghiệp tu nhân.
Kinh tế tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, là bộ phận hợp thành
hữu cơ quan trọng của nền kinh tế của các quốc gia và ngày càng tỏ rõ sự năng động
cũng như tính hiệu quả của nó trong nền kinh tế thị trường.
Ba hình thức tham gia của khu vực tư nhân tồn tại đó là : cho lợi nhuận, không
phải cho lợi nhuận và doanh nghiệp xã hội.
Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, khu vực kinh tế tư nhân không thể
tránh khỏi những hạn chế nhất định. Quá trình phát triển đa dạng các thành phần kinh tế
ngày càng được mở rộng thì tất yếu nó sẽ gây ra một số trở ngại nếu như nền kinh tế
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 8
không được kiểm soát một cách chặt chẽ. Tuy nhiên, không thể vì thế mà chúng ta phủ
nhận vai trò không kém phần quan trọng của khu vực kinh tế này.
2. Các tiêu chí phân biệt khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân
Có 3 tiêu chí phân biệt giữa hai khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân:
 Chế độ sở hữu
 Mục đích hoạt động
 Nguồn vốn
 Chế độ quản lý
STT Tiêu chí Khu vực kinh tế Nhà nước Khu vực kinh tế tư nhân
1 Chế độ sở hữu Sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện
Sở hữu tư nhân

nghiên cứu quá trình di chuyển lao động giữa hai khu vực trên. Trong đó, khu vực nông
nghiệp là khu vực lạc hậu, dư thừa lao động, có năng suất biên bằng không còn khu vực
công nghiệp lại thiếu lao động. Vì vậy, khu vực công nghiệp phải lôi kéo lao động từ
nông thôn bằng cách trả mức lương cao hơn mà theo Lewis thì mức tiền lương phải trả
cao hơn khoảng 30% so với mức tiền lương tối thiểu. Việc lao động từ khu vực nông
nghiệp chuyển sang khu vực công nghiệp không làm giảm tổng sản phẩm nông nghiệp.
Mô hình hai khu vực của Lewis cho thấy, mức chênh lệch tiền lương thực tế là
nguyên nhân dẫn đến sự dịch chuyển lao động giữa hai khu vưc và nhu cầu thu hút lao
động lao động của khu vưc công nghiệp là theo khả năng tích lũy vốn của khu vực này.
3.2. Mô hình Haris-Todaro
Đây là mô hình đầu tiên giải thích tại sao tình trạng thất nghiệp lại tồn tại ở các
nước đang phát triển và tại sao người dân từ nông thôn vẫn chuyển tới thành thị dù thất
nghiệp ở thành thị vẫn cao. Giả định chính của mô hình là dân di cư tiềm năng là những
người ra quyết định hợp lẽ và phản ứng theo những động cơ kinh tế. Họ quyết định di cư
do sự khác biêt về tiền lương giữa nông thôn và thành thị. Khả năng tìm được việc làm ở
thành thị cũng liên quan trực tiếp đến tỷ lệ việc làm ở thành thị. Như vậy, vấn đề di cư ra
thành thị có thể mang lại lợi ích cá nhân cho người nhập cư. Nếu mức thu nhập của họ
lớn hơn thu nhập thực tế ở nông thôn thì họ vẫn di cư dù cho ở thành thị đang tồn tại tỷ lệ
thất nghiệp cao. Xác suất tìm được việc ở thành thị tỷ lệ nghịch với tỷ lệ thất nghiệp ở
thành thị. Lý thuyết di dân của Harris- Todaro còn cho rằng khi chênh lệch giữa hai khu
vực này tương đối lớn thì tỷ lệ di dân sẽ vượt quá tốc độ tăng trưởng việc làm ở thành thị.
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 10
3.3. Lý thuyết “mới” về di dân
Katz và Start (1986) giải thích quá trình di dân như là một phương thức để giảm
thiểu rủi ro. Tại các nước đang phát triển có sự chênh lệch lớn ở nông thôn so với thành
thị, đặc biệt là thị trường vốn, do đó người dân muốn di cư ra thành thị để giảm thiểu
những rủi ro do sự yếu kém của nông thôn mang lại.
Hai ông đưa ra khái niệm “sự thua thiệt tương đối” để phân tích hiện tượng di

động:
 Doanh nghiệp: Doanh nghiệp có môi trường làm việc thoải mái, thân
thiện, được sự quan tâm, chú ý nhiều từ cấp trên thì chắc chắn cũng sẽ thu
hút một lượng lao động đến đây.
 Người lao động: vì một số lý do cá nhân, gia đình hoặc sở thích… nên di
chuyển đến nơi khác làm việc.
4.2. Các dòng di chuyển cơ bản trên thị trường lao động trong nước
4.2.1. Dòng di chuyển lao động nông thôn đi xây dựng kinh tế mới
Trước những năm 90, dòng di chuyển dân cư và lao động lớn nhất là dòng di
chuyển theo các chương trình của Chính Phủ đi xây dựng vùng kinh tế mới ở miền núi,
hải đảo, nhằm giảm bớt áp lực dân số và lao động ở các vùng đồng bằng đông dân ít đất.
Di dân và lao động khai hoang phát triển nông nghiệp, hình thành các điểm kinh tế mới,
nhằm khai thác hiệu quả hơn nguồn lao động xã hội và các tiềm năng thiên nhiên của đất
nước, gắn với củng cố và bảo vệ an ninh quốc phòng.
Dòng di chuyển này chịu tác động chủ yếu từ các chính sách, kế hoạch của
Chính Phủ, di chuyển lao động không phải do tác động của quy luật cung cầu lao động
trên thị trường. Vì vậy, hiệu quả chung của di chuyển cung lao động và điều tiết cung-cầu
lao động giữa các vùng, các địa phương còn thấp.
4.2.2. Dòng di chuyển lao động nông thôn đến thành thị
Trước đổi mới (1986), dòng di chuyển lao động nông thôn đến thành thị bị hạn
chế và số lượng không đáng kể. Những năm sau 1986, các chính sách cải cách khu vực
nông nghiệp, xóa bỏ chế độ bao cấp trong phân phối, tiền tệ hóa tiền lương, tốc độ đô thị
hóa được đẩy nhanh, cải cách chế độ hộ khẩu…đã có tác dụng thúc đẩy dòng di chuyển
từ nông thôn nhập cư vào các thành phố làm việc.
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 12
Dòng di chuyển nông thôn đến thành thị mang tính quy luật, do sự chi phối của
quy luật cung cầu lao động trên thị trường lao động. Dòng di chuyển này có xu hướng
phát triển nhanh trong tương lai, đặc biệt ở địa bàn đang đẩy nhanh quá trình đô thị hóa,

quan trọng ở bất cứ một quốc gia nào. Nó tạo ra một lượng lớn của cải vật chất phục vụ
cho xã hội đặc biệt là các sản phẩm mang tính chất công cộng và dịch vụ như đường sá,
cơ sở hạ tầng, các công trình giao thông công cộng, giáo dục, y tế… mà ở các thành phần
kinh tế khác không hoặc rất hiếm khi tham gia vào quá trình sản xuất hay tạo ra.
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 14
Đại hội VI (12-1986) gắn vai trò quốc doanh với việc “chiếm tỷ trọng lớn cả
trong sản xuất và lưu thông”; Hội nghị Trung ương 6 Khóa VI (3-1989) vẫn đặt quốc
doanh vào vị trí chủ đạo nhưng “không cần thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành,
nghề”
Cương lĩnh 1991 chỉ nêu gọn “Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế”. Đến Chiến lược 1991 nói rõ hơn “Kinh tế quốc dân được củng cố và phát triển
trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu và đảm
đương những hoạt động mà các thành phần khác không có điều kiện hoặc không muốn
đầu tư kinh doanh…Những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh thì Nhà nước
chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời có chính sách
giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động”.
Quan điểm này một mặt tạo tiền đề cho sự phát triển khu vực kinh tế ngoài nhà
nước, nhất là kinh tế tư nhân; mặt khác không coi vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh
là điều mặc nhiên mà phải gắn với việc “sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản
lý, kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai
trò chủ đạo và chức năng của một công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Các xí nghiệp
quốc doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ kinh doanh, tự trang trãi và tích lũy trong
môi trường hợp tác, cạnh tranh; Nhà nước chỉ tài trợ có hạn cho một số cơ sở thật sự cần
thiết”.
Tuy nhiên, khu vực quốc doanh chưa thật sự đảm nhiệm được vai trò chủ đạo vì
nhìn chung kém hiệu quả hơn các khu vực khác, vẫn còn dựa dẫm, ỷ lại vào các chính
sách ưu đãi của Nhà nước dưới nhiều hình thức và còn bị rang buộc bởi cơ chế “chủ
quản” của cơ quan hành chính.

cần một chút bất ổn trong hai yếu tố này có thể dẫn đến tình trạng khủng hoảng hàng hóa
(dư cung hoặc dư cầu) từ đó làm cho giá cả của hàng hóa có thể tăng vọt hoặc giảm một
cách đáng kể. Để giúp bình ổn tình trạng đó, khu vực công chính là một bộ phận quan
trọng. Thông qua đặc quyền của mình trong quá trình sản xuất, khu vực công của nhà
nước sẽ quyết định sản xuất bao nhiêu cho phù hợp với cầu của thị trường.
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 16
Chẳng hạn trong tình trạng cầu tăng vọt làm cho sản phẩm cung ứng trên thị
trường không đủ, giá cả hàng hóa tăng lên các doanh nghiệp trong khu vực này sẽ tăng
thêm khối lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Bên cạnh đó, khu vực công còn ổn định thị trường thông qua một số các công cụ
khác như quy định giá trần, giá sàn nhằm giúp bình ổn giá cả các sản phẩm tránh tình
trạng tăng đột ngột gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc tình trạng giá giảm nhiều làm
cho các công ty sản xuất thua lỗ. Một biện phát không kém phần hiệu quả đó là áp dụng
chế độ độc quyền ở một số các mặt hàng hết sức cần thiết như điện, nước.
1.2.3. Kiềm chế lạm phát
Lạm phát hiện nay đang là một vấn đề đau đầu của hầu hết các quốc gia. Lạm
phát có nhiều mức độ khác nhau. Đây là tình trạng khối lượng tiền trên thị trường dư thừa
trong khi khối lượng hàng hóa vẫn giữ nguyên hậu quả là giá cả hàng hóa tăng nhanh.
Đứng trước tình trạng đó, các doanh nghiệp trong khu vực công sẽ là bộ phận chủ lực
trong việc cung ứng thêm sản phẩm ra thị trường, giúp ổn định giá cả.
Song song với việc làm đó, khu vực tài chính, ngân hàng của khu vực công sẽ là
những bộ phận chủ chốt trong việc điều tiết lạm phát bằng cách sử dụng các công cụ như
lãi suất, các công cụ thị trường tự do như bán cổ phiếu ra…để giảm bớt lượng tiền cung
ứng trên thị trường. Theo quy luật, khi tình trạng lạm phát tăng càng cao thì rõ ràng nguy
cơ xảy ra tình trạng suy thoái, khủng hoảng kinh tế cũng sẽ dễ dàng hơn. Như vậy, nếu
như các doanh nghiệp, bộ phận trong khu vực công không làm tốt nhiệm vụ, chức năng
của mình và không có những biện pháp kịp thời để giải quyết thì nền kinh tế sẽ dễ dàng
đi vào tình trạng suy thoái mà hậu quả nặng hơn là có thể gây ra các cuộc khủng hoảng

Nam, có một thực trạng là các DNNN hiện sử dụng một tỷ lệ lớn các nguồn lực nhưng
lại tạo ra quá ít việc làm và có mức tăng năng suất lao động thấp. Đầu tư, phát triển sản
xuất của các DNNN thiếu hiệu quả do không gắn với thị trường và thiếu chiến lược đầu
tư hợp lý. Các DNNN đầu tư mua thiết bị, máy móc, công nghệ, lạc hậu hàng chục năm
so với các nước phát triển nhưng trầm trọng hơn nếu các DNNN được đầu tư dàn trải và
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 18
sai định hướng. Chúng ta chạy theo sự đầu tư dàn trải vào các ngành, các lĩnh vực trong
khi ngân sách nhà nước khá hạn chế.
1.3.3. Vấn đề sử dụng nhân lực và chính sách tiền lương
Tại một số nước hiện nay, nhất là ở các nước đang trong tình trạng ở các giai
đoạn đầu của quá trình thực hiện nền kinh tế theo chế độ đa dạng hóa các thành phần
kinh tế thì sự yếu kém của các DNNN một phần là do không thu hút được lực lượng lao
động có chuyên môn cao. Một thực tế là ngày nay lực lượng chất xám trong đó có nhiều
sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, có xu hướng bị thu hút về khối doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, nơi có tiền lương và thu nhập cao hơn. Về bản chất đây là hiện tượng bình
thường của kinh tế thị trường, các DNNN với tiền lương thấp hơn đương nhiên khó lòng
thu hút được đội ngũ lao động có chất lượng cao. Kết quả là các DNNN vốn dĩ yếu kém
càng ngày càng mất đi sức mạnh cạnh tranh về chất lượng đội ngũ lao động của mình.
Thực tế cũng cho thấy, các DNNN chỉ có thể thực sự có vai trò chủ đạo khi nó là
một mô hình kinh doanh năng động, có hiệu quả, có sức cạnh tranh cao và gương mẫu đi
đầu trong nhiệm vụ cạnh tranh và hội nhập quốc tế đầy khó khăn ngày nay. Vì vậy, đổi
mới DNNN phải là thực hiện những giải pháp khắc phục những thiếu sót cơ bản kể trên
chứ không thể chỉ đổi mới thông qua các giải pháp mang tính tổ chức, tình thế.
1.4. Tác động của khu vực kinh tế Nhà nước đến quá trình phát triển kinh tế của
đất nước
Ở Việt nam, trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, bộ phận kinh tế nhà nước (khu vực công) vẫn là bộ phận chủ lực
và không thể thiếu được. Cụ thể, Tính đến 31/12/2005, cả nước có 3067 công ty nhà nước

5.400
5.266
5.438
4.773
4.273
3.808
3.067
0
1.000
2.000
3.000
4.000
5.000
6.000
7.000
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Số lượng doanh nghiệp Nhà nước qua các năm
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 20
2007: 835 USD. Năm 2008, GDP bình quân theo đầu người đã đạt trên 1.000 USD. Với
mức thu nhập này, Việt Nam vượt qua ngưỡng nước thu nhập thấp
(2)

Vai trò của bộ phận kinh tế Nhà nước ta đối với kinh tế càng bộc lộ rõ nét trong
việc ban hành, thực thi các chính sách khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế gần đây.
Trên cơ sở tiên định những diễn biến xấu có thể xảy ra, Nhà nước đã đưa ra 8 nhóm giải
pháp cấp bách, và bằng việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp đó, các công ty
công cùng với Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, chỉ số giá tiêu
dùng không ngừng giảm: tháng 9-2008 tăng 0,18%, tháng 10 giảm 0,19%, tháng 11 giảm
0,76%, tháng 12 giảm 0,68%. Kinh tế vĩ mô ổn định: thu chi ngân sách được cân đối;

nhưng nhiều công ty than niêm yết báo cáo có mức lợi nhuận lên đến 100% vốn điều lệ.
Trong khi Chính phủ kêu gọi các doanh nghiệp bình ổn giá, nỗ lực kìm chế lạm
phát … thì chính giá bán hàng và sản phẩm dịch vụ của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà
nước lại “tiên phong” thông báo tăng giá.
Rõ ràng đây là những bất cập cần đáng lưu ý của khu vực kinh tế nhà nước của
Việt Nam chúng ta mà chúng ta cần phải xem xét lại.
2. Ảnh hưởng của khu vực tư nhân đến phát triển kinh tế đất nước
2.1. Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân
Ngày nay, khu vực kinh tế tư nhân, trong đó có các hộ kinh doanh thương mại,
các công ty tư nhân đã có vị trí, tiếng nói trong hệ thống doanh nghiệp, doanh nhân Việt
Nam. Theo thống kê, hiện có khoảng 3 triệu hộ sản xuất kinh doanh, hơn 23.000 công ty
tư nhân so với vài ba ngàn tổ hợp công ty tư nhân cách đây gần 20 năm về trước, từ thành
phần kinh tể nhỏ bé đóng góp vào GDP không đáng kể ngày nay khu vực này đóng góp
trên 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Trên con đường đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực kinh tế tư nhân
Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước
thông qua khả năng tạo việc làm, thiết lập mạng lưới phân phối rộng khắp, thúc đẩy sự
sáng tạo và cạnh tranh của nền kinh tế, năng động, linh hoạt, biết tận dụng cơ hội đóng
góp vào sự phát triển của đất nước.
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 22
Khu vực kinh tế tư nhân nói chung trong đó có các doanh nghiệp thương mại nói
riêng rất linh hoạt trong sản xuất, dịch vụ kinh doanh, đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu của
thị trường, góp phần rất quan trọng bảo đảm cung cầu hàng hóa trên thị trường làm cho
thị trường đa dạng hơn, phong phú hơn. Các chủ doanh nghiệp tư nhân đa phần là trẻ, có
trình độ, có kiến thức, tiếp cận với thị trường nhanh, tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm
nghề nghiệp để lập nghiệp tốt, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã thành đạt trong kinh doanh,
trong hoạt động sản xuất nhập khẩu, và đã mạnh dạn có ý kiến đóng góp cho các cơ quan
hoạch định chính sách liên quan đến lĩnh vực dịch vụ thương mại như luật thương mại

cụ thể về những ảnh hưởng tích cực cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với
quá trình phát triển kinh tế.
2.2. Ảnh hưởng tích cực của khu vực kinh tế tư nhân
2.2.1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tình trạng độc quyền, góp phần bình
ổn thị trường, kiềm chế lạm phát
Song song với khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân cũng đã đóng
góp không ít vào tỉ trọng GDP của các nước hiện nay (đóng góp trên 48% tổng sản phẩm
quốc nội năm 2010). Với cơ cấu kinh tế năng động, lực lượng lao động dồi dào, khu vực
tư đã góp phần làm ra một lượng lớn của cải cho xã hội, số lượng hàng hóa, mặt hàng trở
nên phong phú và đa dạng hơn. Bên cạnh đó, với sự ra đời lớn mạnh của mình, các công
ty, doanh nghiệp tư nhân đã cạnh tranh khốc liệt đối với các doanh nghiệp công cũng như
cạnh tranh với nhau trong nội bộ khu vực tư. Chính điều đó đã là động lực rất lớn thúc
đẩy các doanh nghiệp không ngừng nâng cao cải tiến kỹ thuật, công nghệ, đổi mới trang
thiết bị cũng như nghiên cứu, chế tạo ra các sản phẩm mới…Và từ đó, đời sống xã hội
không ngừng được đổi mới và nâng cao.
Nếu trong công cuộc cạnh tranh khốc liệt đó, doanh nghiệp nào không chịu chạy
theo cho phù hợp với xu thế của thị trường thì tất nhiên, doanh nghiệp đó sẽ bị bỏ lại xa
phía sau. Cái kết cục xấu nhất cho sự trì trệ này chính là tình trạng phá sản của hàng loạt
các doanh nghiệp. Hơn thế, trong quá trình cạnh tranh với các doanh nghiệp công, các
công ty tư nhân đã góp phần giải quyết bớt tình trạng độc quyền ở một số loại mặt hàng
mà các công ty nhà nước đang nắm giữ. Trên cơ sở đó, sẽ làm cho giá cả hàng hóa của
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
GVBM:Nguyễn Ngọc Tuấn
Trang 24
một số loại mặt hàng được giảm bớt, tránh tình trạng tăng giá quá cao của các công ty
độc quyền.
2.2.2. Giải quyết tình trạng thất nghiệp
Trong nền kinh tế hiện nay, khi mà trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát
triển, đòi hỏi một lực lượng lao động ngày càng có chuyên môn kỹ thuật cao hơn, cơ cấu
lao động trên thế giới ngày càng biến đổi mạnh. Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường hoạt

phân phối với nhau, hay mô hình franchise, hệ thống các công ty xuyên quốc gia cũng đã
góp phần rất lớn trong việc gia tăng thu nhập cũng như của cải của người nghèo.
Có thể dễ dàng lý giải cho điều này vì với một hệ thống phân phối lớn và sâu tới
nhiều khu vực khắp nơi, các loại mô hình này có thể dễ dàng biết được nhu cầu, của cải
cũng như khả năng của người nghèo và từ đó có thể đáp ứng cho họ dễ hơn, từ đó quá
trình gắn kết giữa kinh doanh và người nghèo cũng thuận tiện hơn. Bên cạnh đó, các
công ty này còn có các chiến lược bổ sung (complementary strategies), góp phần trong
việc gia tăng thu nhập đầu người, cải thiện đời sống của người dân thông qua các chương
trình huấn luyện, xây dựng các đơn vị chức năng của công ty trong các tổ chức phi chính
phủ, chính phủ, các tổ chức kinh doanh ở địa phương. Các công ty này, thông qua việc
đầu tư cho xã hội, các tổ chức gây quỹ cho các hoạt động này cũng đã góp phần rất lớn
trong việc cải thiện đời sống của dân nghèo, tăng thu nhập đầu người.
2.3. Ảnh hưởng tiêu cực của khu vực kinh tế tư nhân
2.3.1. Vấn đề khó khăn trong cải tiến do thiếu vốn
Hiện nay kinh tế tư nhân (KTTN) đang gặp phải một cản trở rất lớn đến sự phát
triển sản xuất kinh doanh và là hiện tượng phổ biến đối với toàn bộ các doanh nghiệp
thuộc khu vực KTTN đó là tình trạng thiếu vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất. Quy mô
của doanh nghiệp hầu hết là nhỏ, một số ít có quy mô vừa, số có quy mô lớn rất ít. Thực
tế những năm gần đây. Chỉ tiêu hiệu quả của doanh nghiệp tư nhân rất thấp, tỷ suất lợi
nhuận/ vốn rất thấp quá xa so với lãi suất ngân hàng, đặc biệt là của khu vực hộ cá thể
còn thấp hơn nữa, chủ yếu là gia công (nếu sản xuất) hoặc đại lý (nếu bán hàng) nên lấy
công làm lãi là chính. Điều này chứng tỏ khả năng tích tụ và huy động vốn của KTTN
trong toàn xã hội còn thấp. Hầu hết, lượng vốn tự có của các doanh nghiệp chỉ đáp ứng từ
SV: Huỳnh Thị Tú Vân THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

Trích đoạn Thách thức 1 Ngoài nước Giải pháp cho tình trạng di chuyển lao động từ khu vực Nhà nước sang khu vực Tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status