GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
ĐỀ T À I : “XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN
TỬ Ở VIỆT NAM”
GVHD : TS. BÙI VĂN DANH
2
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
MỤC LỤC
1. Giới thiệu đề tài....................................................................................................................6
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài...........................................................................7
3. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................................7
4. Phạm vi nghiên cứu.............................................................................................................7
5. Kết quả nghiên cứu.............................................................................................................8
PHẦN NỘI DUNG..................................................................................................................9
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ.....................................................9
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ............................................9
1.1.1. Sự ra đời Chính phủ điện tử...........................................................................................9
1.1.1.1. Lý do ra đời Chính phủ điện tử.................................................................................10
1.1.1.1.1 Tiết kiệm chi phí cho cả Chính phủ và dân chúng.................................................10
1.1.1.1.2. Áp lực cạnh tranh từ khu vực tư nhân...................................................................11
1.1.1.1.3. Công nghệ thông tin và viễn thông đang cải thiện chất lượng dịch vụ ở khắp mọi
nơi...........................................................................................................................................11
1.1.1.1.4. Tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế.....................................................................12
1.1.1.2. Các nhân tố thúc đẩy sự ra đời Chính phủ điện tử...................................................14
1.1.1.2.1. Toàn cầu hóa..........................................................................................................14
1.1.1.2.2. Thị trường hóa........................................................................................................14
1.1.2. Khái niệm về Chính phủ điện tử..................................................................................15
1.1.2.1 Khái niệm...................................................................................................................15
1.1.2.2. Ba giai đoạn của Chính phủ điện tử.........................................................................16
1.1.2.2.1. Giai đoạn sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông để mở rộng truy cập thông
2.2.3. Phát triển Chính phủ điện tử ở SINGAPORE.............................................................31
2.2.3.1. Chiến lược phát triển chính phủ điện tử của Singapore...........................................31
2.3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT
NAM.......................................................................................................................................34
2.3.1. Những cơ hội tạo ra khi phát triển Chính phủ điện tử................................................34
2.3.2. Những thách thức phải giải quyết trong phát triển Chính phủ điện tử.......................34
2.3.2.1. Những thách thức về kỹ thuật...................................................................................34
2.3.2.2. Khung pháp lý và chính sách công cộng..................................................................35
2.3.2.3. khoảng cách số..........................................................................................................35
2.3.2.4. Ngân sách cho việc triển khai Chính phủ điện tử ....................................................35
2.3.2.5. Các cản trở khác đối với Chính phủ điện tử.............................................................36
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở
VIỆT NAM.............................................................................................................................36
3.1. ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC TIỀN ĐỀ CHO VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở
VIỆT NAM.............................................................................................................................37
3.1.1. Hạ tầng Internet và viễn thông.....................................................................................37
3.1.1.1. Sự phát triển của các doanh nghiệp viễn thông, internet.........................................37
3.1.1.2. Tình hình nối mạng của các doanh nghiệp...............................................................37
3.1.1.3. Phát triển các trang WEB tiếng Việt.........................................................................38
3.1.1.4. ICT trong đời sống hàng ngày..................................................................................38
3.1.1.5. Các điểm Bưu điện - Văn hoá xã..............................................................................39
3.1.2. Nguồn nhân lực cho việc phát triển chính phủ điện tử...............................................40
3.1.3. Nhận thức của người dân và khả năng tiếp cận các dịch vụ điện tử của chính phủ...41
3.1.4. Cơ sở Pháp Lý..............................................................................................................41
3.1.5. Vấn đề bảo mật thông tin.............................................................................................42
3.1.6. Hệ thống thanh toán điện tử.........................................................................................42
3.2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM.......................43
3.2.1. Quá trình tin học hóa quản lý nhà nước.......................................................................43
3.2.1.1. Kết quả đạt được.......................................................................................................43
3.2.1.1.1. Giai đoạn 1996- 2000.............................................................................................43
Thế nhưng, ở nước ta, khái niệm Chính phủ đối với hầu hết mọi người là
một khái niệm hoàn toàn mới mẻ và hết sức lạ lẫm. Hầu như chẳng ai biết đến
Chính phủ điện tử là gì chứ không nói gì đến việc liệu Chính phủ điện tử sẽ mang
lại lợi ích gì cho đất nước. Hiện nay có rất ít, nếu không nói là không có tác giả
trong nước nào đề cập đến vấn đề Chính phủ điện tử. Các nước phát triển trên thế
giới đã đề ra và thực hiện chiến lược Chính phủ điện tử từ nhiều năm trước, vậy mà
nước ta mới bắt đầu triển khai các đề án tin học hóa quản lý Nhà nước. Khởi động
chậm như vậy thì nước ta còn rất lâu mới đuổi kịp các nước khác.
Do vậy, nghiên cứu về Chính phủ điện tử là vấn đề rất cần thiết đối với nước
ta. Và đó là đề tài tiểu luận của nhóm chúng tôi.
6
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những nội dung cơ bản về Chính phủ điện tử với mục đích đem
lại cái nhìn tổng quát, khách quan nhất về Chính phủ điện tử. Từ đó, sẽ đi sâu
nghiên cứu về chiến lược và tổng hợp một số dữ liệu về thực trạng phát triển Chính
phủ điện tử ở một số nước tiêu biểu, cụ thể là ba nước Mỹ, Australia và Singapore,
qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm về phát triển Chính phủ điện tử và đi đến
việc tìm hiểu và đánh giá các tiền đề cho việc xây dựng Chính phủ ở Việt Nam, từ
đó định hướng và một số kiến nghị nhắm phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm đề tài tiểu luận xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam,
chúng tôi đã dùng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp trừu tượng khoa học: gạt bỏ những hiện tượng bên ngoài,
những cái ngẫu nhiên, thoáng qua, không ổn định để đi vào cái chung, cái tất yếu,
ổn định, bản chất, tạo nên hệ thống có tính khái quát.
Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân chia cái toàn thể, phức tạp thành
những yếu tố cấu thành đơn giản hơn, nhận thức được một cách sâu sắc từng góc
cạnh của nguồn nhân lực. Tổng hợp nhằm thống nhất lại các bộ phận, các yếu tố
nhằm nhận thức sự vật hiện tượng trong tính tổng thể, tổng hợp các tài liệu từ sách
nhau ở trung ương. Mỗi bộ như vậy đều có các cơ quan chức năng riêng. Việc phát
hiện một cơ quan làm không đúng chức năng, nhiệm vụ của mình có thể là khó
khăn. Tệ hơn, ngay cả các vấn đề đơn giản như cấp giấy phép kinh doanh cho một
doanh nghiệp, bán một số lớn các cơ quan khác nhau đòi hỏi một số biểu mẫu khác
nhau. Điều này là quá thừa và không cần thiết. Hơn nữa, thủ tục giải quyết vấn đề
về quản lý thường quá rườm rà, gây khó khăn cho người dân khi có nhu cầu.
Một trong các lý do cơ bản làm cho khu vực công kém hiệu quả, quan liêu là
những việc xảy ra ở trên. Hệ thống tổ chức hàng dọc hay ngang của các cơ quan có
quá nhiều ban ngành tạo ra sự phức tạp cho cán bộ nhân viên trong lúc thừa hành
9
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
nhiệm vụ. Để giải quyết tình trạng trên, Chính phủ các nước trên thế giới đã tìm ra
giải pháp áp dụng Internet và các thành tựu khác của khoa học công nghệ để cải
thiện hoạt động của bộ máy nhà nước.
Khả năng áp dụng Internet để cung cấp thông tin Chính phủ tới mọi người ở
mọi nơi mà không cần bất cứ khâu trung gian nào sẽ ảnh hưởng rất lớn tới bản thân
các quan chức Chính phủ. Các doanh nghiệp nhỏ có thể thu thập các quy tắc và các
văn bản pháp luật dễ dàng hơn mà không cần phải thông qua luật sư. Ngay cả người
dân cũng có thể nộp thuế từ nhà riêng vừa đỡ tốn thời gian tiền bạc và hiệu quả.
Mặt khác, việc mọi người có thể chủ động hơn khi truy cập các thông tin và sử dụng
các dịch vụ của Chính phủ cũng góp phần hạn chế hiện tượng lạm dụng quyền lực
của các quan chức nhà nước, bảo vệ quyền lợi cá nhân cho công dân và đảm bảo an
toàn và bảo mật các thông tin quan trọng của Chính phủ.
1.1.1.1. Lý do ra đời Chính phủ điện tử
Có 4 lý do chính khiến Chính phủ các nước chuyển đổi sang Chính phủ điện
tử:
1.1.1.1.1 Tiết kiệm chi phí cho cả Chính phủ và dân chúng
Trên thế giới hầu hết các Chính phủ đều nằm trong tình trạng chịu gánh nặng
về chi phí. Mặc dù ở nhiều nước, khoản thu từ thuế tăng lên cùng với tốc độ tăng
của nền kinh tế, đặc biệt là ở các nước công nghiệp, các khoản chi tiêu của Chính
1.1.1.1.3. Công nghệ thông tin và viễn thông đang cải thiện chất lượng dịch vụ ở
khắp mọi nơi
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, Chính phủ
cũng nhận thấy áp dụng khoa học công nghệ là một biện pháp hữu hiệu để cải thiện
chất lượng dịch vụ. Nếu một sinh viên đại học có thể đăng ký lớp cho mình qua
mạng từ nhà hay từ ký túc xá thì tại sao Chính phủ lại không thể cho phép công dân
của mình nộp thuế theo cách tương tự như vậy? Khi công nghệ góp phần cải thiện
11
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
chất lượng dịch vụ Chính phủ theo hướng tích cực cả về tính kinh tế lẫn tính kỹ
thuật thì Chính phủ không còn sự lựa chọn nào khác là phải đi theo chiều hướng
chung đó. Sử dụng công nghệ hiện đại, thoạt tiên các viên chức Chính phủ cần phải
giải quyết với nhiều loại giao dịch phong phú hơn với công dân và do đó phải có
kiến thức sâu rộng hơn về công nghệ.
Các tổ chức Chính phủ cũng sẽ chịu nhiều ảnh hưởng. Trước kia, nếu một
công dân muốn xin giấy phép lái xe, đăng ký xe hay muốn nộp thuế, anh ta sẽ phải
đến ba cơ quan Nhà nước khác nhau. Chỉ để thực hiện một dịch vụ rất đơn giản mà
phải di đến rất nhiều nơi và thực hiện nhiều thủ tục rườm rà. Để giải quyết tình
trạng này, Chính phủ cần phải rút gọn lại bộ máy hành chính của mình. Như vậy thì
một công dân thất nghiệp khi muốn hướng tới trợ cấp thất nghiệp, bồi thường hay
trợ cấp về y tế có thể ngồi ở nhà và yêu cầu qua điện thoại hay một máy tính cá
nhân thay vì cứ phải đi đến 4, 5 cơ quan khác nhau của Chính phủ để yêu cầu.
1.1.1.1.4. Tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế
Các Chính phủ dân chủ tự do trên thế giới thấy rằng Chính phủ cũng là một
thành viên quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Chính phủ ngày
nay nhận thức rõ ràng Chính phủ cần thực hiện thêm chức năng tạo điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số - một động lực phát triển kinh tế của
thế kỷ 21. Vai trò mới này của Chính phủ yêu cầu phải có nhiều công cụ quản lý
hơn ngoài các công cụ truyền thống.
Cơ sở hạ tầng vật chất cũ như hệ thống đường bộ, đường sắt, hệ thống phân
Đứ
c
Chỉ đặt ra một số mục tiêu cấp bộ
Ail
en
Cung cấp hầu hết các loại dịch vụ Chính phủ qua trên
mạng vào cuối năm 2001
Ý Chỉ đặt ra một số mục tiêu cấp bộ
Nh
ật Bản
Tất cả các thủ tục như đăng ký, xin cấp giấy phép và
các thủ tục khác sẽ được cung cấp trên mạng Internet vào
năm tài chính 2003
Sin
gapore
Thực hiện các dịch vụ thanh toán điện tử vào năm
2001
UK
100% dịch vụ công sẽ được thực hiện bằng điện vào
năm 2005
Mỹ
Phổ cập truy cập dịch vụ và thông tin Chính phủ qua
mạng vào năm 2003
Nguồn: Central Internet Unit (2000)
13
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
1.1.1.2. Các nhân tố thúc đẩy sự ra đời Chính phủ điện tử
1.1.1.2.1. Toàn cầu hóa
Trong điều kiện toàn cầu hóa diễn ra ngày diễn ra ngày càng mạnh mẽ như
hiện nay, các quốc gia trở nên gắn bó với nhau về kinh tế, văn hóa và xã hội. Sự phụ
tin thì mới có khả năng đáp ứng được yêu cầu của công dân và doanh nghiệp.
Qua một số phân tích ở trên chúng ta đã hiểu phần nào lý do khiến Chính
phủ điện tử lại là mơ ước chung của Chính phủ các nước trên thế giới. Tuy nhiên,
để trả lời câu hỏi Chính phủ điện tử là gì thì mỗi nước lại có một khái niệm khác
nhau. Vì vậy, đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về Chính phủ điện tử.
1.1.2. Khái niệm về Chính phủ điện tử
1.1.2.1 Khái niệm
Với một thuật ngữ mới như Chính phủ điện tử thì khó có thể đưa ra một khái
niệm đúng đắn, rõ ràng và thỏa mãn tất cả các đối tượng. Thật sai lầm khi cho rằng
cho rằng Chính phủ điện tử là mạng máy tính trang bị cho các cơ quan Chính phủ
và việc sử dụng mạng này của các quan chức Chính phủ từ cấp cao nhất đến các
chuyên viên để thực hiện các công việc của mình. Chính phủ điện tử tuyệt nhiên
không phải là điện toán hóa các cơ quan Chính phủ. Điện toán hóa các cơ quan
Chính phủ là việc cần làm trong tiến trình tạo dựng từng bước Chính phủ điện tử,
nhưng đó chỉ là biện pháp chứ không phải là mục tiêu. Thoạt nhìn, Chính phủ điện
tử giống như việc áp dụng các phương pháp kinh doanh điện tử vào các dịch vụ do
Chính phủ cung cấp như thông tin Chính phủ, cấp giấy phép lái xe… Tuy nhiên
nhiều tác giả và nhiều nhà kinh tế học lại đưa ra các khái niệm khác nhau về Chính
phủ điện tử.
Theo Sally Katzen, phó giám đốc điều hành cơ quan quản lý ngân sách thời
tổng thống B.Clinton thì “Chính phủ điện tử là việc mọi công dân và doanh nghiệp
có thể truy cập thông tin và sử dụng dịch vụ Chính phủ 24/24 giờ, 7 ngày mỗi tuần.
Chính phủ điện tử chủ yếu dựa vào các cơ quan Chính phủ sử dụng Internet và các
15
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
công nghệ tiên tiến khác để nhận và cung cấp thông tin, dịch vụ dễ dàng hơn, nhanh
hơn, hiệu quả hơn và rẻ hơn”. (Nguồn; http://www.whitehouse.gov)
Cách hiểu này đã được nêu trong nhiều chiến lược về Chính phủ điện tử của
các quốc gia, có thể coi đây là khái niệm đúng nhất về Chính phủ điện tử.
Dưới thời tổng thống G.Bush hiện nay còn xuất hiện một khái niệm rộng hơn
-Bắt đầu bằng việc phổ biến thông tin trực tuyến;
-Truyền đạt thông tin có ích tới công chúng hàng ngày, chú ý tới ngôn ngữ
địa phương;
-Luôn cập nhật thông tin trên trang Web của Chính phủ;
-Tập trung vào những nội dung phục vụ phát triển kinh tế, chống tham
nhũng, thu hút đầu tư nước ngoài…
1.1.2.2.2. Giai đoạn tăng cường sự tham gia của người dân vào Chính phủ
Như đã nói ở trên, các trang Web phổ biến thông tin Chính phủ chỉ là bước
đầu của Chính phủ điện tử. Chính phủ điện tử phải có khả năng lôi kéo, thu hút dân
chúng tham gia vào các hoạt động của Chính phủ, kết hợp với các nhà hoạch định
chính sách ở mọi cấp của Chính phủ. Củng cố tăng cường sự tham gia này sẽ tạo
dựng được lòng tin từ phía công chúng vào Chính phủ.
Những điểm cần lưu ý khi xây dựng trang Web tương tác giữa Chính phủ và
dân chúng:
-Phải cho công chúng thấy kết quả của việc họ tham gia vào các hoạt động
của Chính phủ;
-Phân tích, lý giải những vấn đề chính sách phức tạp một cách dễ hiểu;
-Thuyết phục công chúng tham gia;
-Sử dụng các phương tiện truyền thống để phổ biến kiến thức về Internet.
Khi thực hiện giai đoạn này, các Chính phủ cần chú ý lập ra những diễn đàn
giữa Chính phủ và công dân. Những diễn đàn như vậy sẽ tạo ra những cuộc thảo
17
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
luận trực tuyến trong đó mọi người có thể tham gia trao đổi ý kiến về những vấn đề
chính sách của chính phủ.
1.1.2.2.3. Giai đoạn cung cấp rộng rãi các dịch vụ của Chính phủ qua mạng
Chính phủ có thể bắt đầu bằng việc cho phép người dân thực hiện giao dịch
qua mạng. Chính phủ chịu áp lực từ phía khu vực tư nhân khi khu vực này bắt đầu
thực hiện giao dịch kinh doanh trên mạng. Thêm vào đó, khả năng sử dụng giao
dịch qua mạng làm giảm chi phí, tăng năng suất cũng là một nguyên nhân quan
ở bất cứ đâu.
Từ những đặc điểm trên ta thấy rằng Chính phủ điện tử có nhiều điểm khác
so với Chính phủ truyền thống. Với Chính phủ truyền thống, quá trình quản lý hành
chính trong nội bộ các cơ quan nhà nước diễn ra thủ công, tốn nhiều công sức, thời
gian và tiền bạc. Dân chúng không thể liên lạc với Chính phủ ngoài giờ hành chính,
không thể ở bất cứ nơi nào ngoài trụ sở của các cơ quan nhà nước. Người dân
không thể đăng ký lấy giấy phép kinh doanh, làm khai sinh cho con mình hay đóng
thuế trước bạ 24/24 giờ, 7/7 ngày và ở bất cứ đâu. Chính phủ điện tử có thể khắc
phục được những hạn chế này của Chính phủ truyền thống.
Ngoài ra, sự khác biệt chủ yếu giữa Chính phủ điện tử và Chính phủ truyền
thống là sự khác biệt về tốc độ xử lý giữa các thủ tục hành chính được tự động hóa
so với các thủ tục hành chính được xử lý thủ công. Việc tự động hóa thủ tục nhanh
hơn, gọn hơn, đơn giản hơn rất nhiều. Không những thế, thông tin được cung cấp
cho người dân còn đầy đủ, chính xác và dễ dàng hơn, người dân cũng đỡ mất nhiều
chi phí để thu nhập các thông tin này.
Nói tóm lại Chính phủ điện tử là một Chính phủ hiện đại hơn nhiều so với
Chính phủ truyền thống. Chính phủ điện tử là mục tiêu mà các cơ quan Chính phủ
các cấp sẽ tiến dần từng bước tới và có lẽ không bao giờ có thể nói rằng Chính phủ
điện tử đã được xây dựng xong.
19
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
1.2. CÁC HÌNH THỨC CUNG CẤP CHÍNH TRONG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
Đối tượng sử dụng dịch vụ Chính phủ bao gồm cơ quan Chính phủ các cấp,
doanh nghiệp, công dân và các nhân viên Chính phủ. Bốn đối tượng chính trên
tương ứng với 4 hình thức cung cấp dịch vụ chính:
1.2.1 Hình thức cung cấp dịch vụ từ Chính phủ đến Chính phủ - G2G
(Government to Government)
Nhiều dịch vụ công dân và các bản báo cáo quan trọng rất cần sự liên kết
giữa chính quyền các cấp. Mục đích của hình thức cung cấp dịch vụ từ Chính phủ
đến Chính phủ (G2G) này là để tạo lập và củng cố mối quan hệ giữa chính quyền
Chính phủ trên mạng, tìm kiếm các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, thực hiện các
giao dịch hoặc nộp thuế ngay trên mạng. Chính phủ điện tử có thể khiến cho các cá
nhân truy cập thông tin và dịch vụ liên quan đến mình qua một cửa duy nhất. Các
thông tin được cung cấp của Chính phủ điện tử luôn đảm bảo đáp ứng mọi nhu cầu
của từng cá nhân riêng lẻ.
Nói chung, Chính phủ điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho cá nhân cũng
như các doanh nghiệp, cụ thể bao gồm các lợi ích sau:
Cung cấp đầy đủ thông tin cho mọi đối tượng;
Đơn giản hóa các thủ tục hành chính;
Đảm bảo việc xử lý các thủ tục hành chính một cách công khai, công bằng,
tin cậy, ổn định và kịp thời;
Tiết kiệm thời gian và tiền bạc;
Tăng tính thuận tiện khi sử dụng các dịch vụ của Chính phủ;
21
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
1.3.2. Lợi ích trong quản lý hành chính nhà nước
Chính phủ điện tử góp phần làm trong sáng bộ máy nhà nước, hạn chế và
loài trừ hiện tượng tham nhũng. Bảng dưới đây thể hiện các loại thông tin có thể đạt
được tính minh bạch thông qua Chính phủ điện tử, làm nản lòng các quan chức
quan liêu tham nhũng trong Chính phủ.
Loại thông tin Lợi ích Ví dụ
-Các quy tắc và thủ tục
về dịch vụ
Tên các quan chức
Chính phủ
-Thông tin về công
dân
-Tiêu chuẩn hóa các
thủ tục cung cấp dịch
vụ
hóa…
Theo dõi các
hành động đút lót, hối
lộ, mua chuộc
Hải quan trực
tuyến, OPEN ở Seoul,
Hàn Quốc
OPEN: Online Procedures Enhancement for Civil Applications
22
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
Nguồn: “Administrative Corruption: How Does E-Government Help?”,
Professor Subhash bhatnagar, Indian Institute of Management, Ahmedabad, India.
Ngoài ra, bộ máy nhà nước có thể được tinh giảm nhờ áp dụng công nghệ
thông tin, giúp tiết kiệm ngân sách dành cho chi phí quản lý, tiết kiệm thời gian và
nâng cao hiệu quả trong các hoạt động của các cơ quan Chính phủ
1.3.3. Tạo mối quan hệ giữa Chính phủ với Chính phủ, giữa Chính phủ
với Doanh nghiệp và giữa Chính phủ với Công dân
Tương tự như thương mại điện tử cho phép các nghiệp giao thương với nhau
một cách có hiệu quả hơn (B2B) và tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận gần hơn
với doanh nghiệp (B2C), Chính phủ điện tử cũng hướng tới việc tạo ra mối quan hệ
tương hỗ Chính phủ - Công dân (G2C), Chính phủ - doanh nghiệp (G2B), và quan
hệ giữa chính các cơ quan công quyền (G2G) ngày càng thân thiện hơn, thuận lợi
hơn và công khai hơn. Các mối quan hệ này có thể được duy trì thường xuyên, liên
tục nhờ có các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, đỡ tốn thời gian.
Trong dài hạn, các dịch vụ điện tử có thể giúp giảm chi phí cung cấp dịch vụ
của Chính phủ. Người dân cũng ngày càng có xu hướng sử dụng nhiều dịch vụ điện
tử của Chính phủ vì họ không cần phải đến, viết thư hoặc gọi điện thoại tới một cơ
quan Chính phủ để yêu cầu thực hiện một dịch vụ cụ thể. Với ngày càng nhiều dịch
vụ được cung cấp trực tuyến, Chính phủ điện tử sẽ là một cuộc cách mạng trong
mối quan hệ giữa Chính phủ và công dân.
tuyến là không thể sử dụng thẻ tín dụng và chữ ký số tròg các giao dịch tài
chính.Trong khi đó các trang Web tư việc này rất phổ biến
24
GVHD: TS Bùi Văn Danh LỚP: 210702701
Về thông tin cá nhân và tính an toàn bao mật:đây là nỗi băn khoăn lo lắng
của mọi công dân về CPĐT.Chỉ khi đảm bảo được an toan thông tin cá nhân thì mới
có thể trấn an được dân chúng và khuyến khích được mọi người sử dụng nhiều dịch
vụ trên mạng.Tuy vậy chỉ một số ít các trang Web chú ý tới điều này.Đa số đều năm
trong các lĩnh vực mà chính phủ coi là quan trọng.CPĐT sẽ không được triển khai
một cách nhanh chóng trừ phi dân chúng cam thấy an toàn khi sử dụng thông tin và
dịch vụ trên mạng
Bảng: Tỷ lệ trang Web có độ an toàn thông tin các nhân cao ở cá nước
Singapore Canada Mỹ Úc New Zealand Anh Nhật Bản Đài Loan
90% 65% 62% 39% 30% 21% 15%
12
%
Dự báo triển vọng phát triển Chính phủ điện tử trong tương lai
Xu hướng phát triển CPĐT đang trở thành một tất yếu khách quan.Có nhiều
lý do khiến các nước không thể bỏ qua cơ hội phát triển CPĐT.Lý do quan trọng
nhất là
những lợi ích mà CPĐT đem lại.Không thể phủ nhận một điều rằng CPĐT
đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cuat bộ máy nhà nước vốn cồng kềnh,
quan liêu và trì trệ với một khối lượng công việc khổng lồ.Ứng dụng công nghệ
thông tin viễn thông vào hoạt động của chính phủ là chìa khí của mọi thành công
mà chính phủ các nước công nghiệp phát triển đã đạt được.Đó chính là những bước
khởi đầu trong chiến lược phát triển CPĐT mà hầu hết các nước trên thế giới đang
theo đuổi
Hiện nay, Singapore, Mỹ, Canada và Australia là bốn nước đứng đầu trên thế
giới về phát triển CPĐT.Singapore.Tình hình phát triển CPĐT ở các nước kém phát
triển đang cách một khoảng rất xa so với các nước đi trước.Tuy nhiên, khi CPĐT