- 1 -
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG NGUYỄN THU HẰNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG WEB 2.0 VÀO
CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Truyền dữ liệu và mạng máy tính
Mã số: 60.48.15
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI - 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
- 3 -
MỞ ĐẦU
Nhân loại đang bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức với
công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là hạt nhân cho sự phát triển kinh tế - xã hội. ICT
đã thâm nhập vào hầu hết các ngõ ngách của cuộc sống và đặc biệt là việc xây dựng một
nền hành chính hiện đại, sử dụng hiệu quả các công cụ thông tin và truyền thông nhằm phục
vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc – mọi nơi, thuận tiện và hiệu quả - Chính phủ điện tử
(CPĐT).
Tại các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU), CPĐT đã được đưa vào chương trình
nghị sự với mục tiêu hàng đầu là kế hoạch hành động Châu Âu điện tử (eEurope Action
Plan) và đến nay được gọi là Kế hoạch hành động CPĐT (eGovernmen Action Plan). Với
mục địch cung cấp cho người dân các dịch vụ công một cách tốt nhất, giảm thiểu thời gian
chờ đợi, tăng hiệu quả, năng suất và tăng tính công khai, minh bạch của chính phủ.
Tuy nhiên, các kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với sự đầu tư rất lớn cũng như
mong muốn của Chính phủ. Trong khi, cốt lõi của việc xây dựng CPĐT là việc thi hành cải
cách hành chính lại không phải là đơn giản. Cùng với đó là việc người dân chưa sẵn sang
trong việc sử dụng các dịch vụ hành chính công trên mạng cũng dẫn đến việc hiệu quả thấp
trong việc sử dụng các hệ thống CPĐT vốn được đầu tư rất tốn kém.
Trái ngược với sự phát triển chậm chạp của CPĐT, Web 2.0 đã phát triển với chi phí
thấp nhưng có được sự thành công rực rỡ. Dựa trên tư tưởng căn bản: mỗi một người dùng
là một nhà sản xuất về nội dung (nhật ký trên mạng – Blog, từ điển mở - Wiki, Flickr, …),
những yếu tố cho phép người dùng có thể tạo ra thông tin. Các loại dịch vụ Web 2.0 như
mạng xã hội, blog, các từ điển mở wiki, … đang có một sự phát triển như vũ bão và thực sự
đang làm biến đổi thế giới Internet từng ngày, từng giờ.
Nhìn vào các con số thể hiện sự gia tăng chóng mặt của mạng xã hội – đại diện tiêu
biểu nhất của Web 2.0, người ta có thể cảm nhận được mức độ ảnh hưởng của thế hệ web
này.
1.1.1 Quan điểm của Tim OReily
Theo Tim OReily, chưa có một định nghĩa nào mô tả Web 2.0 một cách chính xác,
tuy nhiên có thể hiển Web 2.0 thông qua các đặc tính sau đây:
- Web là nền tảng.
- Tập hợp trí tuệ cộng đồng.
- Dữ liệu có vai trò then chốt (Data is next Intel inside).
- Phần mềm được cung cấp ở dạng dịch vụ web và được cập nhật không ngừng.
- Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng.
- Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị.
- Giao diện ứng dụng phong phú.
Web là nền tảng - 5 -
Các hệ thống Web 2.0 sử dụng Web như một nền tảng đã đem lại cho người sử dụng
các ứng dụng phong phú, có khả năng chạy trên nhiều thiết bị, đem lại cho các nhà phát
triển phần mềm mô hình lập trình dễ dàng và nhanh chóng đồng thời tạo cơ hội cho các nhà
cung cấp có thể triển khai giải pháp nhanh chóng và linh hoạt. Với Web 2.0, người dùng
Internet, các nhà phát triển ứng dụng, các nhà cung cấp sẽ có những cái nhìn mới về việc sử
dụng và khai thác Internet theo từng khuôn nhìn của họ.
Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng
Các mô hình, tư duy và kỹ thuật lập trình trong Web 2.0 có sự khác biệt rất lớn so với
lập trình thế hệ trước. Lập trình trong Web 2.0 dựa trên nền tảng dịch vụ, sử dụng giao thức
REST Representational State Transfer (là Web API sử dụng HTTP để tương tác với XLM
- Authoring (cập nhật): Khả năng cập nhật liên tục nội dung, không chỉ với số ít
người có quyền cập nhật mà còn qua môi trường làm việc liên cộng tác (interlinked work).
- Tags (gắn thẻ): nội dung được phân lớp bằng việc gắn thẻ - một động tác rất đơn
giản, chỉ với một từ khóa người dùng tự định nghĩa có thể làm cho việc tìm kiếm đơn giản
hơn.
- Extensions (sự mở rộng): Các thuật toán mạnh sẽ thúc đẩy việc sử dụng Web như
một nền tảng ứng dụng.
- Signals (phát tín hiệu): Sử dụng công nghệ RSS có thể thông báo cho người dùng
những thay đổi về nội dung một cách nhanh chóng.
Phần mềm nền Web – xu thế và các công nghệ nền tảng
AJAX đã thúc đẩy sự phát triển ngày càng lớn mạnh, thậm chí còn lấn sang thị
trường phần mềm desktop của các ứng dụng nền Web như các ứng dụng xử lý văn bản,
bảng tính và trình diễn. Rất nhiều Website cung cấp ứng dụng WYSIWYG (What you see is
what you get) có đầy đủ tính năng của phần mềm desktop.
Các ứng dụng RIA (Rich Internet Application)
Các ứng dụng RIA là các ứng dụng Web có sự khác biệt cơ bản so với phần mềm
desktop là được thi hành qua trình duyệt Web bằng các trình cài thêm (plug-in hay add-on)
hay qua các máy ảo (virtual machines).
1.1.3 Quan điểm của tác giả
Tác động lớn nhất của Web 2.0 chính là xu thế nội dung được tạo bởi cộng đồng
người dùng (user-generated content), sự đóng góp trí tuệ của tập thể, đồng thời, Web 2.0
còn có những tác động đến sự thay đổi về thể chế, về cấu trúc các tổ chức xã hội từ mô hình
tập trung sang phi tập trung hóa một cách sâu rộng.
Sự phát triển của kinh tế, xã hội làm cho người dân có điều kiện về kinh tế để có thể
tiếp cận với máy tính, Internet và các công nghệ cao khác một cách dễ dàng và phổ biến
hơn. Cùng với các yếu tố trên, là sự mở rộng về chính trị, xây dựng một xã hội dân chủ cho - 7 -
phép người dân có thể đóng góp tiếng nói, quan điểm của mình về các vấn đề xã hội cũng
nhà phát triển công nghệ phải chạy theo để mang đến những cộng cụ Web tối ưu hơn. - 8 -
Nhiều người cho rằng không có yếu tố công nghệ, Web 2.0 không thể tồn tại. Điều
này đúng nhưng chưa đủ. Thực tế đã chỉ ra rằng, Web 2.0 sẽ không thể phát triển và tạo ra
làn sóng mạnh mẽ như hiện tại nếu không có sự đóng góp của cộng đồng. Với tầm quan
trọng của trí tuệ tập thể, tinh thần cộng đồng, khả năng chia sẻ và tương tác cao, Web 2.0
đang khiến quan điểm về truyền thông cũng dần thay đổi.
Cùng với đó, quan hệ khách – chủ trong Web 1.0 giữa người dùng và tổ chức sở hữu
Web đã bị phá vỡ một cách tương đối trong Web 2.0. Với Web 1.0, mối tương quan qua lại
giữa “khách” và “chủ” trên 1 mặt phẳng 1 chiều (chỉ giữa khách và chủ) và bó hẹp trong
không gian Website đó. Trong khi Web 2.0 nâng sự tương tác này lên không gian đa chiều,
không chỉ đơn thuần giữa khách và chủ, mà còn giữa khách với khách và chủ với chủ.
Theo nguyên cứu của Graham Cormode và Balachander Krishnamurthy (AT&T), các
Website 2.0 có những đặc tính như:
- Người dùng là thực thể ưu tiên số một trong hệ thống.
- Người dùng trong hệ thống có thể kết nối với nhau một cách dễ dàng.
- Người dùng có thể cung cấp thông tin dưới nhiều định dạng khác nhau: ảnh, video,
text …, có thể đánh thẻ (tagging), góp ý, đánh giá nội dung của người khác. Đồng thời đảm
bảo được quyền riêng tư và quyền chia sẻ thông tin.
- Cung cấp các giao diện API mở, để “bên thứ 3” (người dùng hoặc các nhà lập
trình) có thể mashup (trộn) các ứng dụng hay dữ liệu của Website với các thành phần khác
(ứng dụng hay dữ liệu) làm tăng giá trị của thông tin.
1.1.4.3 Cách thức Web 2.0 đưa thông tin đến người dùng
Web 2.0 mở ra nhiều cơ hội để đưa thông tin đến người dùng, từ việc xuất bản qua
web đến việc xuất bản qua RSS, email hay SMS… và ngược lại có nhiều cách để đưa thông
tin lên Web như rất nhiều ứng dụng sử dụng các hàm API công cộng chỉ được viết ra để đưa
thông tin lên Facebook (qua email, SMS …) hay có thể mashup từ nhiều nguồn tin khác
nhau … Điều này hoàn toàn không khả thi với Web 1.0.
Bằng cách cho phép các tên dữ liệu, cấu trúc thứ bậc được phép, ý nghĩa của các
phần tử và thuộc tính có tính chất mở và có thể được định nghĩa bởi một giản đồ tùy biến
được, XML cung cấp một cơ sở cú pháp cho việc tạo lập các ngôn ngữ đánh dấu dựa trên
XML theo yêu cầu. Cú pháp chung của các ngôn ngữ đó là cố định – các tài liệu phải tuân
theo các quy tắc chung của XML, bảo đảm rằng tất cả các phần mềm hiểu XML ít ra cũng
phải có khả năng đọc (phân tích cú pháp – parse) và hiểu bố cục tương đối của thông tin
trong các tài liệu đó.
1.2.2 RSS
RSS được viết tắt bởi Really Simple Syndication là một định dạng nội dung Web
được tổng hợp và đọc bởi các công cụ đặc thù dựa trên chuẩn XML. RSS được dùng để
thông báo cho người dùng các thông tin mới trên các Website thông qua việc chia sẻ thông - 10 -
tin. Thông tin này được cung cấp dưới dạng một tập tin XML được gọi là một RSS feed,
webfeed, RSS stream hay RSS channel.
1.2.3 Ajax
Có thể nói, đóng vai trò then chốt trong thế hệ thứ hai của Web là tổ hợp công nghệ
AJAX. Các ứng dụng Ajax đang phát triển nhanh chóng và được ứng dụng rất nhiều trên
các trang web nhằm tăng tính thân thiện và tiện lợi hơn cho các Website.
AJAX là gì?
AJAX, viết tắt từ Asynchronous JavaScript and XML (JavaScript và XML không
đồng bộ), là bộ công cụ cho phép tăng tốc độ ứng dụng web bằng cách cắt nhỏ dữ liệu và
chỉ hiển thị những gì cần thiết, thay vì tải đi tải lại toàn bộ trang web. AJAX không phải một
công nghệ đơn lẻ mà là sự kết hợp một nhóm công nghệ với nhau. Trong đó, HTML và CSS
đóng vai hiển thị dữ liệu, mô hình DOM trình bày thông tin động, đối tượng
XMLHttpRequest trao đổi dữ liệu không đồng bộ với máy chủ web, còn XML là định dạng
chủ yếu cho dữ liệu truyền.
AJAX hoạt động như thế nào?
1.2.4 RIA (Rich Internet Application)
RIA là ứng dụng nền Web nhưng có những đặc điểm tiêu biểu của các ứng dụng
desktop. RIA được thực hiện bởi các chuẩn hay các phần mềm mở rộng (plug-ins) của trình
duyệt hoặc được thực hiện trên các máy ảo. Các nền tảng RIA thường được nhắc đến như
Curl, Adobe Flash/Adobe Flex/AIR, Java/JavaFX…
Các phần mềm RIA có thể có rất nhiều ứng dụng khác nhau như: Ứng dụng văn
phòng hay bản đồ.
1.2.5 Mush up
Mashup cho phép người dùng thể hiện khả năng sáng tạo bất tận bằng cách “nối” hai
hay nhiều ứng dụng Web lại với nhau.
Một số công cụ tạo mashup (mashup editor)
Microsoft Popfly dành cho người không chuyên. Dựa trên nền tảng Silverlight, mọi
người có thể lập các dịch vụ online tương đối phức tạp nhưng lại không cần am hiểu về
HTML, XTML, CSS, AJAX Tất cả những gì họ phải làm là kéo - thả nội dung từ nguồn
này sang nguồn kia. Bởi thế, Steve Ballmer, Giám đốc điều hành Microsoft, mô tả Popfly là
công cụ của người bình dân chứ không nhất thiết phải dành cho "những cái đầu chứa mã lập
trình". Popfly miễn phí và tương thích Internet Explorer và Firefox.
Bốn nội dung mashup chính
- Bản đồ: Chẳng hạn người dùng lập bản đồ về bất động sản, cửa hàng quà tặng,
trường học tại một địa phương qua Google Maps.
- Video - ảnh: Ví dụ như dùng giao diện lập trình ứng dụng API của Flickr để tạo
mashup chia sẻ ảnh trên những site khác. - 12 -
- Tìm kiếm - mua sắm: Là việc tích hợp search engine để tra cứu thông tin về du
lịch, nhà hàng
- Tin tức: Tiêu biểu nhất là Digg.com - dịch vụ hỗ trợ người sử dụng tập hợp tin tức
về công nghệ, văn hóa từ hàng loạt website khác nhau.
1.3.4 Podcast
Podcast là việc xuất bản các file âm thanh lên web để khách hàng có thể download về
máy hay các phương tiện cá nhân khách như iPod … Podcast đi liền với RSS làm cho người
dùng có thể luôn biết các file cập nhật mới một cách thuận tiện. Rất nhiều các cơ quan chính
phủ hiện nay dùng Podcast (song song với các công cụ khác như văn bản …) để đưa đến
công chúng những thông điệp đa phương tiện làm cho việc truyền thông rất hiệu quả.
1.4 Xu thế ứng dụng Web 2.0 vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Sự thông dụng của Web 2.0 đi cùng với việc gia tăng các ứng dụng blog, wiki, mạng
xã hội đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của các ứng dụng 2.0 trong rất nhiều lĩnh vực đời
sống kinh tế - xã hội như: thư viện 2.0, doanh nghiệp 2.0, PR 2.0, học tập 2.0 (Learning
2.0), du lịch 2.0 và chính phủ 2.0.
Chương 2. SỰ CẦN THIẾT, TÍNH KHẢ THI VÀ ƯU VIỆT
CỦA VIỆC ỨNG DỤNG WEB 2.0 VÀO CPĐT - GOVERNMENT 2.0
2.1 Sự cần thiết
Theo quan điểm của McKinsey, hiệu quả chưa cao của việc xây dựng CPĐT nói
chung và của các cổng thông tin điện tử nói riêng là do 3 nguyên nhân chính: sự không đồng
bộ và hiệu quả của các hoạt động trong bộ máy chính quyền; thiếu mô hình hóa các hoạt
động của bộ máy; chưa sẵn sàng cho phép người dân tham gia các hoạt động của chính
quyền.
Web 2.0 có rất nhiều tiềm năng và cơ hội mới trong việc ứng dụng vào CPĐT. Từ
việc tạo một không gian số để công dân có thể tham gia đóng góp một cách tích cực vào
công việc của chính phủ cho đến việc giám sát thi hành pháp luật, từ việc thúc đẩy sự hợp
tác liên ngành đến việc quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực, …
2.2 Tính khả thi và ưu việt
Công nghệ thay đổi mối quan hệ giữa chính phủ và công dân:
- Tổ chức lại chính quyền xung quanh những nhu cầu của người dân.
- Giảm chi phí.
- Xây dựng u-Gov (Chính phủ mọi lúc, mọi nơi).
này là làm tăng năng lực cấp bằng sáng chế cho cơ quan chuyên môn trong bối cảnh các đơn
xin cấp ngày càng nhiều, các lĩnh vực chuyên môn sâu, hẹp liên quan ngày càng mở rộng,
trong khi năng lực của cơ quan chuyên môn luôn có giới hạn, không theo kịp yêu cầu khách
quan.
2.2.2 Ứng dụng Web 2.0 trong cộng tác liên ngành
Việc phân cấp tổ chức các cơ quan của chính phủ theo các cấp, ngành khác nhau đã
tạo ra “Hiệu ứng tháp – Silo Effect” – hiệu ứng của việc phân mảng, giảm hiệu lực – hiệu
quả trong các hoạt động của Chính phủ vì việc chia sẻ thông tin là rất khó khăn. - 15 -
- Tại các doanh nghiệp, Wiki đã được sử dụng một cách rất hiệu quả và ngày nay
cũng đã được các chính phủ sử dụng như một công cụ để nâng cao hiệu lực cộng tác liên
ngành.
Nghiên cứu tình huống
Intellipedia là một ứng dụng nội bộ được xây dựng trên nền Wiki để các cơ quan tình
báo của Hoa Kỳ có thể chia sẻ thông tin, cộng tác trực tiếp trong việc đưa ra những báo cáo
dựa trên những phân tích từ nhiều nguồn khác nhau, không phân biệt cơ cấu tổ chức (chia sẻ
thông tin ngang hàng).
2.2.3 Ứng dụng Web 2.0 trong quản lý tri thức
Theo OECD, chính phủ có thể được xem như là một điển hình về tổ chức sâu về tri
thức. Quản lý tri thức là một yếu tố quyết định trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của
chính phủ. Trong khi các hệ thống quản lý tri thức truyền thông được ứng dụng cho các tri
thức có cấu trúc, thì các ứng dụng Web 2.0 lại cho phép việc chia sẻ thông tin một cách
không chính thức giữa những nhân viên với nhau.
Nghiên cứu tình huống
Allen và Overy là một công ty luật quốc tế nổi tiếng được thành lập vào năm 1930
với 4500 nhân viên và có văn phòng tại 19 nước trên thế giới. Để tối ưu hóa việc truyền tải
luồng thông tin giữa các văn phòng của công ty, họ đã triển khai một hệ thống quản lý tri
Các ứng dụng Web 2.0 làm tăng tính minh bạch xã hội do việc người dân có thể tổng
hợp, phân tích và giám sát các hành động của Chính phủ. Mặc dù thông tin công cộng
thường là công khai, tuy nhiên tính minh bạch thông tin hay bị gián đoạn do các tác động
“định hướng lại” thông tin theo nhiều cách khác nhau.
Nghiên cứu tình huống
E-petitions là một sáng kiến được triển khai bởi Văn phòng Thủ tướng Anh, nó cho
phép người dân có thể đưa ra những kiến nghị trực tiếp tới Thủ tướng, đồng thời có thể xem
và biểu quyết những kiến nghị của người khác.
Tính huống nghiên cứu E-petitions
Thách thức Xây dựng được mối liên kết tốt hơn giữa Thủ tướng và công dân.
Ngữ cảnh Website chính thức của Chính phủ Anh
Chức năng Người dân có thể đưa ra những khuyến nghị, xem và bình chọn các
khuyến nghị của người dân khác. Người dân cũng có thể biết những
khuyến nghị của mình có bị từ chối hay không và vì sao.
Vai trò của
người dùng
Người dân có thể đưa ra các khuyến nghị và có thể bình chọn các khuyến
nghị của người khác.
Tính mới Trước đây, mặc dù người dân có thể gửi những khuyến nghị của mình
đến Thủ tướng, nhưng không thể xem hay bình chọn những khuyến nghị
của người khác.
Tính sở hữu Đặt tại website của Thủ tướng Anh, nhưng được quản lý bởi một tổ chức
phi lợi nhuận.
Về đảm bảo
chất lượng
Có sự quản lý tập trung, biên tập trước khi đăng tải, nhưng hầu hết các
khuyến nghị đều được liệt kê. - 17 -
sự là họ có nguy cơ bị lây nhiễm mã độc rất lớn từ những kết quả ấy. - 18 -
Chương 3. KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG WEB 2.0 VÀO
XÂY DỰNG CPĐT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ ĐỀ
XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG TẠI
VIỆT NAM
3.1 Kinh nghiệm của Singapore
Chính phủ Singapore đã nhận thức được việc sử dụng CNTT&TT để phục vụ người
dân tốt hơn không chỉ cung cấp thông tin nhiều hơn, mà còn là việc cung cấp các yếu tố cần
thiết, toàn diện hơn để khuyến khích sự tham gia của người dân vào các công việc của
Chính phủ. Kênh thông tin di động là một trong những phương tiện như thế và các cơ quan
của chính phủ cũng được khuyến khích sử dụng các mạng xã hội như một công cụ để truyền
thông tin tới người dân – những khách hàng của họ.
Ứng dụng mạng xã hội (social media) trong công tác tập hợp ý kiến công dân:
Vào tháng 10/2006, Singapore đã thiết lập một cơ quan Chính phủ có tên là REACH
để kết nối, tập hợp ý kiến và tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào các hoạt động của
Chính phủ.
3.2 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
3.2.1 Ứng dụng của Wiki và Youtube trong đầu thầu
3.2.2 Ứng dụng Wiki và Blog trong điều tra số liệu
3.2.3 Bảo vệ môi trường
Các công nghệ và dịch vụ Web 2.0 đang được Chính phủ Hoa Kỳ ứng dụng
Công nghệ Ví dụ Cơ hội/tiềm năng ứng dụng trong Chính
phủ
Blog 33 cơ quan của chính phủ
có blog tiêu biểu như:
USA.gov, Webcontent.gov,
Mashup Các website của Chính phủ
trộn các dữ liệu của các
trang Google Earth và
Google Map
Làm cho dữ liệu do Chính phủ cung cấp trở
lên hữu dụng và trực quan hơn. Đồng thời,
làm tiền đề cho việc chia sẻ dữ liệu của
chính phủ cho người dân và doanh nghiệp
cũng như chia sẻ dữ liệu liên ngành
3.3 Hiện trạng phát triển CPĐT tại Việt Nam
3.3.1 Đánh giá của Liên Hiệp Quốc về chỉ số sẵn sàng cho CPĐT năm 2011
(E-government readliness index)
Trong báo cáo năm 2011 của Liên Hiệp Quốc về CPĐT, Việt Nam có chỉ số sẵn sàng
cho CPĐT (E-government readliness index) là 0.4558, xếp hạng thứ 83/190 (tăng so với
năm 2010 là 0.3640 với xếp hạng 90).
Chỉ số đánh giá Web dựa trên 3 yếu tố:
- Có trang Web chính thức của chính phủ.
- Mức độ dịch vụ cung cấp trên các trang Web chính phủ (theo 3 mức cao dần: cung
cấp thong tin; có giao tiếp; có giao dịch).
- Các trang Web trong 5 lĩnh vực then chốt: giáo dục, y tế, lao động/nhân sự, dịch vụ
phúc lợi xã hội và dịch vụ tài chính.
Ngoài ra Liên Hiệp Quốc cũng đưa ra những đánh giá về chỉ số tham gia điện tử (e-
participation), chỉ số này nhằm đánh giá mức độ đối thoại và tương tác giữa người dân và
chính phủ. - 20 -
3.3.2 Báo cáo mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT&TT Việt
Nam năm 2011 (Vietnam ICT Index 2011)
- 21 -
Một dịch vụ hành chính công được coi là đạt mức 4 nếu như dịch vụ hành chính công
đó đạt được các tiêu chí mức 3 và việc thanh toán chi phí được thực hiện trực tuyến, gửi và
nhận kết quả qua đường bưu điện hoặc qua mạng.
3.3.4 Cải cách thủ tục hành chính – Đề án 30
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 phê
duyệt Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý của nhà nước giai
đoạn 2007-2010 (được gọi tắt là Đề án 30) và Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04/01/2008
ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án 30, đưa ra một hệ thống giải pháp tổng thể, công khai,
minh bạch nhằm thống kế, rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Mục tiêu của Đề án 30:
- Hoàn thành và công khai trên Internet cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính,
mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính
và toàn bộ các văn bản pháp luật có liên quan trên cơ sở đã được đơn giản hóa theo các tiêu
chí về tính hợp pháp, sự cần thiết và tính hợp lý của thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ
khai hành chính và yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính.
- Nghị định về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định
hành chính.
- Nghị định về kiểm soát thủ tục hành chính để kiểm soát thủ tục hành chính ở các
cấp chính quyền trong phạm vi toàn quốc và duy trì kết quả thực hiện Đề án 30 sau khi kết
thúc đề án vào cuối năm 2010.
- Văn bản của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền để sửa đổi, bãi bỏ, hủy
bỏ hoặc đơn giản hóa các thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, yêu cầu
hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính không hợp pháp, không cần thiết và không
hợp lý.
Đề án 30 bao gồm 3 giai đoạn.
3.3.5 Khuyến khích người dân tham gia vào các công việc của Chính phủ
Rất nhiều các quan chức của Chính phủ đã “đăng đàn” trả lời các chất vấn của nhân
dân trực tuyến qua mạng. Có thể nói việc sử dụng Internet như một công cụ để Chính phủ
chuyên trách, các thông tin về thủ tục hành chính của Phường cũng được tra cứu một cách
dễ dàng, đặc biệt là việc thu thuế nhà đất qua mạng, đăng ký kết hôn và khai sinh trên môi
trường Internet.
Ưu điểm
- Trong nhiều trường hợp, các trang web chứa rất nhiều nội dung thông thường
trong trang. Nếu sử dụng các phương pháp truyền thống, những nội dụng đó sẽ phải nạp lại
toàn bộ với từng yêu cầu. Tuy nhiên, nếu sử dụng các ứng dụng Web 2.0, một ứng dụng
web có thể chỉ yêu cầu cho các nội dung cần thiết phải cập nhật, do đó giảm lượng lớn băng
thông và thời gian nạp trang. - 23 -
- Việc dùng các yêu cầu không đồng bộ (asynchronous request) cho phép giao diện
người dùng của ứng dụng hiển thị trên trình duyệt giúp người dùng trải nghiệm sự tương tác
cao, với nhiều phần riêng lẻ.
- Việc sử dụng các ứng dụng Web 2.0 có thể làm giảm các kết nối đến server, do các
mã kịch bản (script) và các style sheet chỉ phải yêu cầu một lần.
3.5.2 Môi trường thể chế - chính sách
3.5.2.1 Ban hành Luật Tiếp cận thông tin và khuyến khích người dân tham gia
vào các công việc của Chính phủ - hình thành một Chính phủ mở
3.5.2.2 Về quản lý Blog
3.5.2.3 Thành lập Tổ công tác xây dựng Government 2.0
3.5.3 Xây dựng lộ trình ứng dụng Web 2.0
- Xác định một cách rõ rang cơ hội và thách thức do Web 2.0 mang lại.
- Xây dựng môi trường thể chế sẵn sàng cho việc tập hợp và sử dụng trí tuệ cộng
đồng trong quá trình ra quyết định của Chính phủ.
- Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng xu thế CNTT&TT ngày càng phát
triển mạnh mẽ.
- Đẩy mạnh giáo dục, ý thức cộng đồng trong bối cảnh Blog, mạng xã hội đang trở
án đầu tư theo các giải pháp SaS để khuyến khích các cơ quan Nhà nước tận dụng tối đa
những ưu thế vượt trội của Web 2.0 nhằm tiết kiêmk tối đa nguồn lực tài chính và thiết bị,
nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay.
Tổ chức thực hiện:
- Thành lập 03 Trung tâm dữ liệu mạng (IDC) quy mô quốc gia tại 3 miền: Bắc,
Trung, Nam nhằm hỗ trợ các chính quyền địa phương triển khai và lưu trữ bộ cơ sở dữ liệu
dùng chung.
- Thiết lập cơ chế tài chính đặc thù để đầu tư hạ tầng cũng như chi phí hợp lý để cho
các địa phương có thể thuê dung lượng tại các Trung tâ, dữ liệu quốc gia này.
3.5.7 Vấn đề An toàn - bảo mật dữ liệu
Cần nhận thức đúng đắn những cơ hội, ưu điểm cũng như những rủi ro, thách thức
của các công cụ Web 2.0 như: Truy cập bất hợp pháp (hack), phát tán virus, đăng tải những
thông tin vi phạm pháp luật, vi phạm quyền tự do cá nhân … Các cơ quan chức năng liên
quan đến vấn đề an ninh thông tin như Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam
(VNCert) cần thường ký đưa ra những cảnh báo về những rủi ro, về bảo mật tới các cơ quan
nhà nước cũng như doanh nghiệp và người dân trong môi trường mạng ngày càng có nhiều
tương tác qua lại, điển hình như Web 2.0 như ngày nay.
Đồng thời các chuẩn an toàn, bảo mật dành riêng cho các cổng thông tin điện tử của
các cơ quan chính phủ vẫn chưa được ban hành. Do vậy, cần nhanh chóng xây dựng, nghiên
cứu và ban hành các bộ chuẩn hay đặc tả về vấn đề này. - 25 -
KẾT LUẬN
Thật sự, Web 2.0 không phải là cái gì đó hoàn toàn mới mà là sự phát triển từ web
hiện tại. Nó vẫn là web như chúng ta dùng lâu nay, chỉ có điều giờ đây chúng ta làm việc
với web theo cách khác. Các website không còn là những "ốc đảo" mà trở thành những
nguồn thông tin và chức năng, hình thành nên môi trường điện toán phục vụ các ứng dụng
web và người dùng.