Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Đoàn Mạnh Hồng
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở
VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI ĐẠI HỌC
THÁI NGUYÊN
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở
VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI ĐẠI HỌC
THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Khoa học máy tính
Mã số : 60.48.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÁY TÍNH NGƯỜI HƯỚNG DẤN KHOA HỌC
TS. BÙI THẾ HỒNG
Mục đích của luận văn này là tìm hiểu, nghiên cứu về phƣơng pháp luận xây
dựng, phát triển và thực thi chính phủ điện tử. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các cơ
sở hạ tầng về pháp lý và công nghệ của Việt Nam, bƣớc đầu đề xuất một lộ trình
xây dựng chính phủ điện tử tại Việt Nam, tiếp theo là phát triển thí điểm một ứng
dụng nhỏ về chính phủ điện tử cho Đại học Thái Nguyên, trong đó đƣa ra những
phân tích và đánh giá cũng nhƣ đề cập đến một số cách làm việc theo xu hƣớng cải
cách hành chính. Do phạm vi của đề tài này rất rộng nên luận văn chỉ tập trung vào
những nghiên cứu thông qua sự tham khảo cách xây dựng Chính phủ điện tử ở một
số quốc gia có nền Công nghệ thông tin phát triển nói chung, cũng nhƣ thí điểm một
số lĩnh vực trong Đại học Thái Nguyên nhằm mô phỏng cách làm việc “một cửa
một dấu” trong Chính phủ điện tử này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Nội dung nghiên cứu của luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng, cụ thể:
Chƣơng 1: Tổng quan và tình hình phát triển chính phủ điện tử trên thế giới và
taị Việt Nam
Chƣơng 2: Đề xuất lộ trình xây dựng và thực hiện Chính phủ điện tử tại Việt Nam
Chƣơng 3: Đề xuất mô hình Chính phủ điện tử tại Đại học Thái Nguyên
Luận văn này đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn nhiệt tình của Tiến sĩ Bùi
Thế Hồng và sự giúp đỡ của các thày giáo, cô giáo đang công tác trong khoa Công
Nghệ Thông Tin – Đại học Thái Nguyên. Do đây là một đề tài nghiên cứu về Chính
phủ điện tử - một lĩnh vực rất rộng mà nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thế còn
gặp nhiều khó khăn từ việc nghiên cứu tới việc phát triển. Với góc độ là một cá
nhân nghiên cứu về lĩnh vực nhƣ vậy nên không thể tránh khỏi những thiếu sót
trong quá trình nghiên cứu, vậy nên tôi rất mong nhận đƣợc những đánh giá cũng
nhƣ những góp ý để khắc phục và phát triển đề tài này, góp phần cải thiện Chính
phủ điện tử của nƣớc ta.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1.1. Chính phủ điện tử là gì?
Do hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về Chính phủ điện tử (E-
Government) nên trong nội dung của nghiên cứu này cần phải có một giải thích
nhất quán về Chính phủ điện tử.
Chính phủ điện tử đơn giản là Chính phủ sử dụng công nghệ thông tin và
truyền thông để tăng cƣờng khả năng truy cập và cung cấp các dịch vụ của Chính
phủ tới các công dân, các doanh nghiệp và các nhân viên Chính phủ. Chính phủ
điện tử cũng góp phần tạo ra các cơ hội sau:
- Giúp tiếp cận dễ dàng hơn với các thông tin của nhà nƣớc.
- Tăng cƣờng các cơ hội trao đổi tƣơng hỗ giữa các cơ quan nhà nƣớc và cộng
đồng.
- Giúp tăng cƣờng tính minh bạch trong các hoạt động của các cơ quan nhà
nƣớc, hạn chế sự kém hiệu quả và bệnh quan liêu giấy tờ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
- Mang lại các cơ hội phát triển cho các đối tƣợng ở các vùng nông thôn và các
vùng kém phát triển khác.
Việc triển khai Chính phủ điện tử giúp sắp xếp hợp lý bộ máy nhà nƣớc, cải
thiện sự liên kết và hợp tác giữa các bộ ngành với nhau và với các tổ chức khác,
cũng nhƣ mối quan hệ với các chủ thể là đối tƣợng phục vụ của các cơ quan nhà
nƣớc. Điều này cũng góp phần thúc đẩy các tiến trình kinh tế, chính trị và xã hội
phát triển hơn.
1.2. Tầm nhìn chính phủ điện tử
Khi đề cập đến Chính phủ điện tử là nói về sự phát triển rộng rãi của
Internet và sự thâm nhập của nó trên thị trƣờng, trong cộng đồng và các tổ chức
công cộng. Ngƣời ta nhận thấy rằng để có đƣợc Chính phủ điện tử không chỉ đơn
thuần là việc áp đặt công nghệ truyền thông thông tin vào các mô hình quản lý nhà
nƣớc hiện tại.
phí giao dịch trong kinh doanh. Bằng cách đƣa các giao dịch của nhà nƣớc lên
trên mạng sẽ tạo ra các cơ hội kinh doanh theo hƣớng đơn giản hoá các thủ tục
hành chính, giảm bớt quan liêu, đảm bảo sự phù hợp về mặt pháp lý và làm
cho các tác nghiệp diễn ra nhanh hơn và dễ dàng hơn thông qua việc điện tử
hoá các công việc vào sổ, lƣu trữ và báo cáo thông kê. Ví dụ, một doanh
nghiệp nhà thầu đề nghị cấp giấy phép xây dựng qua mạng, nếu thực hiện đƣợc
rõ ràng sẽ thuận tiện hơn việc phải tới cơ quan chức năng nhiều lần để đăng ký
và điền vào các biểu mẫu cần thiết.
Sự cung cấp các dịch vụ hành chính công dù là toàn diện hay đơn lẻ cũng tạo
cơ hội cho doanh nghiệp và cơ quan nhà nƣớc phối hợp với nhau sao cho các
dịch vụ kinh doanh và các dịch vụ hành chính công đƣợc triển khai một cách
hài hoà thống nhất. Ví dụ, thông qua cổng giao dịch trực tuyến, chủ doanh
nghiệp không những chỉ tiến hành đăng ký kinh doanh mà còn có thể lựa chọn
để mua bảo hiểm y tế cho ngƣời lao động của doanh nghiệp.
1.3.4. Chính phủ với Công dân (G-to-C)
Nhóm G - C hỗ trợ sự trao đổi tƣơng hỗ giữa công dân với các cơ quan nhà
nƣớc. Điểm mấu chốt của hình thức Chính phủ – Công dân là cung cấp các
dịch vụ hƣớng tới khách hàng và các dịch vụ tổng hợp trên mạng, nơi mà các
thông tin và dịch vụ công có thể đƣợc cung cấp theo chế độ “một cửa”. Điều
này có nghĩa là các công dân khi phải thực hiện một loạt các nghĩa vụ, đặc biệt
là các nghĩa vụ liên quan đến nhiều cơ quan chức năng khác nhau, không cần
thiết phải liên hệ và đi đến từng cơ quan chức năng đó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Chế độ một cửa cũng tạo điều kiện cho công dân tham gia vào các quy trình
làm việc dân chủ và trao đổi thông tin phản hồi, công khai vì họ có thể tiếp cận
các thủ tục và khớp nối các nhu cầu của họ với các quan chức nhà nƣớc.
7
Đối với những quốc gia đã phát triển qua cả ba giai đoạn trên, giai đoạn
tiếp theo sẽ tiến hành mô hình hợp tác. Một số nƣớc đã nhận ra sự cần thiết của
mô hình mà Công ty Oracle đã sử dụng: “Dịch vụ trọn gói của Chính phủ” để thực
thi các dịch vụ điện tử tích hợp với một hạ tầng tập trung. Đó là một sự chuyển đổi
từ mô hình cung cấp dịch vụ đơn lẻ của mỗi cơ quan Nhà nƣớc sang mô hình dịch
vụ trọn gói của Chính phủ. Theo đó các dịch vụ do các cơ quan này cung cấp đã
đƣợc tổng hợp nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của công dân và cần thiết có sự phối
hợp giữa các bộ ngành có liên quan. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
B. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TRÊN
THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
Trên thế giới, một số nƣớc đã nghiên cứu và triển khai Chính phủ điện tử từ
rất sớm, nhƣ Ấn Độ bắt đầu thực thi Chính phủ điện tử thông qua Kế hoạch quốc
gia về IT từ năm 1998. Hàn Quốc là một trong những nƣớc tiến bộ nhất trong lĩnh
vực Chính phủ điện tử. Trong 4 Kế hoạch Quốc gia về Chính phủ điện tử, Hàn
Quốc đã lần lƣợt triển khai một cách nhất quán các kế hoạch tổng thể quốc gia về
Công nghệ thông tin nhờ sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ giai đoạn trƣớc đó.
Singapore là một trong những nƣớc tiến bộ nhất trong lĩnh vực Chính phủ điện tử.
Là một nƣớc nhỏ và hệ thống chính phủ dân cử với chế độ một đảng cầm quyền
hoạt động trong suốt hơn 40 năm qua nên nó có thể thực thi các dự án quốc gia về
công nghệ thông tin một cách thành công và có thể áp dụng mô hình thử nghiệm các
dạng khác nhau của các dự án Chính phủ điện tử ở các cấp nhƣ Chính phủ - Chính
phủ, Chính phủ – Công chức nhà nƣớc, Chính phủ - Công dân.
Tại Việt Nam, mặc dù thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu và tiến hành
trọng các nhân tố về thể chế, pháp luật, quản lý điều hành nguồn nhân lực, tài
chính cần phải đƣợc đề cao không kém nhƣ đối với các khía cạnh về kỹ thuật công
nghệ.
1.2. Tập trung vào đối tượng sử dụng cuối cùng, bắt đầu ở quy mô nhỏ sau đó
phát triển ra diện rộng
Các cấp lãnh đạo của nhà nƣớc và cán bộ quản lý các dự án tham gia công
cuộc Chính phủ điện tử cần tập trung xác định rõ về các nhu cầu của những ngƣời
sử dụng dịch vụ cuối cùng. Cần khởi đầu với các dự án Chính phủ điện tử với quy
mô nhỏ, với điều kiện là các dự án nhỏ này sẽ có giá trị thực sự và có khả năng
phát triển nhân rộng nhanh.
1.3. Những lợi ích hữu hình đạt được từ việc triển khai các dịch vụ có hiệu quả
Những nƣớc đi tiên phong về Chính phủ điện tử đã quan tâm đến việc cung
cấp những dịch vụ đƣợc cải thiện tốt đồng thời chú ý đến cung cấp các kênh phục
vụ thay thế. Nhiều Chính phủ nhận thấy lợi ích của Chính phủ điện tử nằm ở cách
thức mà nó giúp cho Chính phủ cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn và quá trình quản
lý điều hành minh bạch hơn. Ví dụ, các chi phí phải trả cho mỗi giao dịch ở
Canada nhƣ sau: chi phí giao dịch trực tiếp là 44 đô la Ca- na- đa, qua thƣ $ 38, và
giao dịch qua điện thoại là $26. Còn đối với các giao dịch trên mạng thì chi phí
chƣa đến 1 đô la cho mỗi một giao dịch.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
1.4. Tăng cường sự tham gia của các chủ thể vào Chính phủ điện tử
Thực tiễn đã chứng minh, cần tăng cƣờng hỗ trợ sự tham gia vào Chính phủ
điện tử bằng cách sử dụng các cơ chế và phƣơng thức sáng tạo khác nhau.
- Vương quốc Anh: Chính phủ Anh sử dụng các trung gian trong để hỗ trợ thực
thi Chính phủ điện tử. Ví dụ: làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ điện tử
để khuyến khích sử dụng các dịch vụ Chính phủ điện tử.
- Nam Phi: Chính phủ sử dụng hệ thống bƣu điện, ngân hàng, các tổ chức cộng
Sau đây là những đặc trƣng cơ bản trong thực tiễn ứng dụng đƣợc đúc rút
trong quá trình triển khai và thực thi Chính phủ điện tử ở các nƣớc:
2.1. Công khai các thông tin (cấp độ cung cấp thông tin)
Chính phủ đối với công dân:
- Thông tin về chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nƣớc từ
trung ƣơng đến địa phƣơng.
- Địa chỉ, thời gian làm việc viên chức - công chức, điện thoại liên lạc.
- Luật và các văn bản dƣới luật.
- Các thông báo, chú giải của Nhà nƣớc.
- Các thông tin khác.
Chính phủ đối với doanh nghiệp
- Thông tin kinh doanh
- Địa chỉ, thời gian làm việc, điện thoại liên lạc
- Luật và các văn bản dƣới luật
Chính phủ đối với công chức
- Các thông tin cơ bản (Intranet tĩnh)
- Kho lƣu trữ/Knowlwdge management(Mạng LAN)
2.2. Tương tác (cấp độ tương tác)
Chính phủ đối với công dân
- Tải các mẫu từ các website
- Nộp hồ sơ, các loại đơn và giấy tờ khác
- Hỗ trợ điền các thông tin vào biểu mẫu
- Thƣ điện tử
- Newsletters
- Thảo luận theo nhóm lấy ý kiến về chính sách của Chính phủ
- Điều tra trực tuyến
- Web cá nhân
- Các thông báo
Cần xác định một khuôn khổ Chính phủ điện tử để hỗ trợ cho việc triển
khai Chính phủ điện tử. Điều này giúp tạo ra một môi trƣờng để thực thi một cách
hiệu quả các dự án Chính phủ điện tử. Chính phủ có thể nâng cao năng lực quản lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
và đảm bảo cho các chƣơng trình và dự án về chính phủ điện tử đƣợc thực thi. Ví
dụ các nƣớc nhƣ Mỹ, Vƣơng quốc Anh, Singapore và Hồng Kông. Các thành tố
then chốt của Chính phủ điện tử có thể bao gồm:
3.1. Quản lý chính sách
- Các chính sách hỗ trợ Chính phủ điện tử (hỗ trợ về mặt quản lý và thủ tục
hành chính trong việc ứng dụng công nghệ thông tin)
- Cơ cấu tổ chức (sắp xếp việc sử dụng công nghệ thông tin với các chiến lƣợc
và mục tiêu của Chính phủ)
- Các vai trò và các trách nhiệm (các vai trò và trách nhiệm đã điều chỉnh và
mới của các cơ quan chức năng nhằm hỗ trợ các cải cách và bƣớc tiến của
Chính phủ điện tử)
- Nhân lực (bố trí lại và đào tạo lại nguồn nhân lực)
- Hoạch định ngân sách
3.2. Quản lý mua sắm
- Giảm công việc chồng chéo và giảm chi phí
- Làm rõ các điều kiện và cơ chế thực hiện
- Xúc tiến ứng dụng công nghệ thông tin
3.3. Kiến trúc và quản lý Công nghệ thông tin
- Xác định Kiến trúc công nghệ diện rộng, tạo khuôn khổ chung cho việc triển
khai ICT và quản lý chính sách ICT
- So sánh, đối chiếu và học tập các từ thông lệ quốc tế tốt về chính phủ điện tử.
3.4. Cải cách hành chính
Bộ ngành, tỉnh, thành phố phát triển các ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin
nội bộ bằng ngân sách của mình.
4.1.2. Các cổng thông tin và trang web Chính phủ
Hiện nay, đã có một số cổng thông tin Chính phủ ở Việt nam bao gồm cổng
thông tin của T. p Hà Nội, tỉnh Lào Cai, T. p Hồ Chí Minh, tỉnh Quảng Ninh....
Rất nhiều các Bộ, Ngành, Tỉnh, Thành phố đã xây dựng các trang Web. Phần lớn
các trang web này không phải là cổng thông tin, chúng đƣợc tổ chức và quản lý
một cách tập trung trong cơ cấu hành chính. Do các trang web đƣợc các cơ quan
này tự xây dựng nội dung nên chúng đã không tích hợp một cách đồng bộ với quy
trình làm việc của các cơ quan Nhà nƣớc khác. Một số trang web sau khi xây dựng
đã không đƣợc cập nhật thông tin thƣờng xuyên hoặc thông tin quá nghèo nàn,
cũng không ít trang web đã trở thành "web chết".
Gần đây, Chính phủ đã khai trƣơng cổng thông tin điện tử Chính phủ
(www.chinhphu.vn) cổng thông tin này đã cung cấp rất nhiều các thông tin bổ ích
cho ngƣời dân.
4.1.3. Cơ sở hạ tầng tại các khu vực nông thôn
Một trong những thách thức lớn nhất đối với Chính phủ điện tử là việc phát
triển hạ tầng thông tin truyền thông, đặc biệt là ở các vùng nông thôn.
Các cơ hội Chính phủ điện tử chủ yếu thuộc về các thị xã và một số huyện
đƣợc kết nối mạng. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD) và các nhà
tài trợ nhƣ Chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) trợ giúp chƣơng trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
xoá đói giảm nghèo đối với các xã tại khu vực nông thôn. Trọng tâm là cung cấp
các dịch vụ và thông tin cho các làng xã, huyện thị điểm thuộc khu vực nông thôn.
Tiếp cận đƣợc với các thông tin phù hợp sẽ tạo ra các cơ hội chuyển đổi kinh tế và
cải thiện đời sống cho các hộ nông thôn. Điều này sẽ giúp cải tiến kỹ thuật canh
tác, đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, giảm thiểu lãng phí, tăng tính hiệu quả của lƣu
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ
- Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của các lãnh đạo
- Khả năng đóng góp của khối doanh nghiệp
- Môi trƣờng chính sách và thể chế
- Môi trƣờng văn hoá và xã hội
- Hỗ trợ các dịch vụ điện tử
4.2. Những thách thức và những vấn đề đặt ra đối với Chính phủ điện tử tại
Việt Nam
4.2.1. Sự lãnh đạo và phối hợp trong thực thi Chính phủ điện tử
Cần có một quan điểm chính trị mạnh mẽ cùng với sự lãnh đạo vững vàng
để tạo ra một bộ máy chính quyền nhằm hỗ trợ các cơ quan chức năng và tạo
nguồn lực và nguồn tài chính cho việc thực thi Chính phủ điện tử. Vì vậy, cần có
sự phối hợp đồng bộ để các dự án về Chính phủ điện tử có khả năng thành công.
Việc triển khai Chính phủ điện tử ở nƣớc ta sẽ gặp phải những khó khăn
lớn. Đó là, các lãnh đạo của nƣớc ta chƣa có kinh nghiệm về việc triển khai Chính
phủ điện tử và GDP của nƣớc ta còn tƣơng đối thấp. Vì vậy, việc triển khai Chính
phủ điện tử phải đƣợc thực hiện trên các quy mô nhỏ, phù hợp với từng địa
phƣơng, sau đó rút kinh nghiệm và nhân rộng ra mô hình lớn hơn để có thể đem
lại hiệu quả, tránh lãng phí tiền của và công sức. Chúng ta cần tránh việc chống
chéo trong quản lý, thẩm định đầu tƣ CNTT. Hiện số lƣợng đơn vị triển khai lớn
nhƣng lặp nhiều.
Những thách thức là không hề nhỏ. Theo một điều tra mới nhất (công bố
tháng 3/2009) của Tổng cục Thống kê, cả nƣớc hiện mới chỉ có 17,2% số lao động
biết sử dụng máy tính, chủ yếu là các ngành nghề có liên quan chẳng hạn nhƣ
ngành thông tin truyền thông, tài chính ứng dụng… Các chuyên gia khẳng định tỉ
lệ 17,2% là con số cực kỳ khiêm tốn cho thấy trình độ ứng dụng công nghệ thông
tin tại Việt Nam vẫn còn khá thấp, và điều này sẽ ảnh hƣởng rất lớn tới việc triển
khai Chính phủ điện tử hiện nay và sau này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Việt Nam, tuy nhiên có hai luật cần quan tâm nhiều đó là Luật công nghệ thông tin
và Luật giao dịch điện tử, cụ thể:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
a) Luật giao dịch điện tử: qui định về giao dịch điện tử trong hoạt động của
các cơ quan nhà nƣớc; trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thƣơng mại và các lĩnh
vực khác do pháp luật quy định.
b) Luật công nghệ thông tin là cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong các cơ quan Nhà nƣớc cũng nhƣ khu vực tƣ nhân. Luật Công nghệ
thông tin quy định về hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; các
biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; quyền và nghĩa vụ
của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công
nghệ thông tin.
4.2.4. Xây dựng các năng lực về Chính phủ điện tử
Ở bất cứ một quốc gia nào, khi thực thi Chính phủ điện tử cũng cần xây
dựng một bộ máy làm việc có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin. Trƣớc hết
là các nhà lãnh đạo cần hiểu rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của Chính phủ điện
tử, từ đó mới có thể hoạch định đƣợc chiến lƣợc phát triển một cách hiệu quả. Các
cán bộ công chức cũng cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về Chính
phủ điện tử và thành thạo việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc hàng
ngày của mình.
Để triển khai có hiệu quả Chính phủ điện tử, trƣớc hết cần phải tạo dựng và
phát triển các năng lực, khả năng về Chính phủ điện tử cho các cấp mà bắt đầu từ
nhà lãnh đạo cấp cao – là những ngƣời cầm lái chủ chốt của công cuộc đổi mới.
Tiếp sau là các nhà lãnh đạo cấp dƣới - đội ngũ những ngƣời thực thi quan trọng
để điều hành các nhân viên thuộc quyền. Sau cùng sẽ là việc đào tạo bồi dƣỡng
các kỹ năng cần thiết cho nhân viên để họ làm tốt các công việc đƣợc giao. Thực
tế cần có các chƣơng trình điều phối nhằm phát triển các năng lực và khả năng của
hiện một số các dịch vụ phổ biến trong mô hình chế độ một cửa và sau đó ngƣời sử
dụng có thể tƣơng tác với các cơ quan chức năng thông qua các cổng thông tin điện tử
này. Các trang Web, cổng thông tin điện tử phải dễ dàng sử dụng, tra cứu các thông tin
thiết thực dành cho công dân và dành cho doanh nghiệp.
Sau đây là những vấn đề cần cân nhắc khi lập kế hoạch cung cấp thông tin
và dịch vụ trực tuyến:
- Mô hình cung cấp dịch vụ có thể triển khai áp dụng đều khắp tại các tỉnh,
thành trên cả nƣớc
- Khuôn khổ cho công tác thông tin truyền thông
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
Chƣơng 2. ĐỀ XUẤT LỘ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN
CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
Lộ trình xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam đã đi qua đƣợc những chặng
đƣờng nhất định. Khởi đầu là quá trình tin học hóa theo Nghị định 43/CP của
Chính phủ với những bƣớc sơ khai là trang bị máy tính và nối mạng, đào tạo cán
bộ và công chức sử dụng máy tính. Rồi đến Đề án 112, Nghị định 64/CP với
nhiệm vụ tin học hóa quản lí hành chính, xây dựng nền tảng CPĐT và cung cấp
dịch vụ hành chính công. Tuy nhiên, kết quả mà chúng ta nhìn thấy vẫn còn rất
khiêm tốn. Chƣơng này sẽ trình bày một đề xuất nhỏ về xây dựng lộ trình Chính
phủ điện tử tại Việt Nam.
1. ỨNG DỤNG CNTT VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Thực tế tại các nƣớc trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy, ứng dụng công
nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính công đƣợc coi là việc làm mở màn
cho lộ trình xây dựng Chính phủ điện tử và hai vấn đề này phải đƣợc thực hiện
cho ngƣời dân đƣợc.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính là một nhiệm vụ trọng tâm Chính phủ đặt
ra, với mục tiêu là loại bỏ bớt các thủ tục hành chính rƣờm rà với ngƣời dân.
Thống kê sơ bộ, hiện, chúng ta có khoảng 6.000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi
chức năng quản lí của Bộ, cơ quan ngang Bộ đƣợc thực hiện tại 4 cấp chính quyền
(Bộ, tỉnh, huyện, xã), có 63 phiên bản thủ tục hành chính đƣợc thực hiện tại 63
tỉnh thành phố trực thuộc Trung ƣơng với trên 400.000 biểu mẫu thủ tực hành
chính; có khoảng 20.000 văn bản pháp luật quy định thủ tực hành chính, mẫu đơn,
tờ khai…Với con số “khổng lồ” nhƣ thế, chúng ta cần phải rà soát, công khai, xây
dựng đƣợc cơ sở dữ liệu chung, tiến tới cung cấp trực tuyến cho ngƣời dân.
Vấn đề quan trọng ở đây là các cơ quan công quyền sẽ phải thay đổi thói
quen làm việc dựa trên công văn, tài liệu giấy tờ chuyển sang phong cách làm việc
dựa trên các văn bản điện tử và hệ thống thông tin trợ giúp. Quá trình số hóa thông
tin phải đƣợc đẩy mạnh. Cải tiến quy trình thủ tục hành chính, chuẩn hóa nghiệp
vụ, cung cấp thông tin trực tuyến cho cán bộ, ngƣời dân.
2. QUẢN LÝ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
Để lộ trình triển khai Chính phủ điện tử tại Việt Nam đƣợc sớm đi tới đích
và đạt hiệu quả cao, bên cạnh việc đầu tƣ về hạ tầng kỹ thuật và công nghệ, cải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
cách thủ tục hành chính công cũng nhƣ đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ năng lực thực
thi thì vấn đề quản lý trong quá trình triển khai là hết sức quan trọng, quản lý tốt
giúp cho việc triển khai đƣợc đồng bộ hơn, tiết kiệm đƣợc các chi phí không cần
thiết và đặc biệt là chống tham nhũng trong quá trình thực hiện. Nội dung chính
của phần này đƣợc đề cập đến những vấn đề sau:
- Những lĩnh vực trọng tâm của quản lý Chính phủ điện tử
- Chỉ ra những thách thức trong quản lý Chính phủ điện tử