Bộ công an
Viện khoa học hình sự
Báo cáo tổng kết Đề tài nhánh kc.10-13.03
Nghiên cứu xây dựng qui trình phát hiện một số
chất độc có khả năng gây nhiễm độc hàng loạt
trong các mẫu môi trờng trên các thiết bị
phân tích tại phòng thí nghiệm
Chủ nhiệm ĐTN: TSKH. Nguyễn Minh Khởi thuộc đề tài cấp nhà nớc. M số kc 10.13
xác định nguyên nhân, xây dựng biện pháp dự phòng
và xử trí nhiễm độc hàng loạt
5. Vũ Công Sáu, Ths - Viện KHHS.
6. Nguyễn Đình Hải, CN - Viện KHHS.
7.
Phạm Thị Chung, Ths - Trung tâm phân tích thí nghiệm Địa chất.
Các qui trình đợc áp dụng vào thực tiễn của công tác giám định kỹ
thuật Hình sự tại Phòng Giám định Hoá pháp lý, Viện Khoa học Hình sự, phục
vụ thiết thực trong các vụ án có liên quan đến độc chất, để tìm ra nguyên nhân
gây độc. Các kết quả thu đợc có độ chính xác cao, đáp ứng đợc yêu cầu của
công tác điều tra phá án, cũng nh trong công tác phòng chống, ngăn ngừa các
nguy cơ nhiễm độc hàng loạt có thể xảy ra. Kết quả của đề tài có tính khoa học
và thực tiễn cao.
3
Mục lục
tr.
Đặt vấn đề 7
1. Chơng I: Chất độc B 9
1.1. Sơ lợc các nghiên cứu về chất độc B 9
1.1.1. Vài nét sơ lợc về chất độc B 9
1.1.2. Một số phơng pháp hay dùng để phân tích, xác định chất độc B 12
1.2. Phơng pháp, phơng tiện nghiên cứu 18
1.2.1. Hóa chất, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 18
1.2.2. Phơng pháp nghiên cứu 19
1.3. Thực nghiệm 19
1.3.1. Pha dung dịch chuẩn 19
1.3.2. Khảo sát độ lặp lại, khoảng tuyến tính, và giới hạn phát hiện 19
1.3.3. Xây dựng qui trình xác định chất độc B trong mẫu đất 21
1.3.4. Xây dựng qui trình phân tích chất độc B trong mẫu không khí 21
1.3.5. Điều kiện phân tích chất độc B trên GC-MS 22
1.4. Kết quả và bàn luận 23
1.4.1. Đặc điểm định tính của chất độc B bằng phổ khối 23
1.4.2. Khảo sát độ lặp lại, độ tuyến tính và giới hạn phát hiện chất độc B
2.5. Kết luận 60
3. Chơng III: Xyanua 62
3.1. Sơ lợc các nghiên cứu về xyanua 62
3.1.1. Vài nét sơ lợc về xyanua 62
3.1.2. Một số phơng pháp hay dùng để phân tích, xác định xyanua 64
3.2. Phơng pháp và phơng tiện nghiên cứu 73
3.2.1. Hóa chất, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm. 73
3.2.2. Phơng pháp nghiên cứu 74
3.3. Thực nghiệm 74
3.3.1. Pha dung dịch chuẩn 74
3.3.2. Xây dựng qui trình xác định xyanua trong mẫu nớc 74
3.3.3.
áp dụng qui trình tiến hành phân tích xác định xyanua trong một
số mẫu thực tế
75
3.4 Kết quả và bàn luận 76
3.4.1. Khảo sát sự ảnh hởng của nồng độ và thể tích thuốc thử
ninhydrin
76
3.4.2. Khảo sát sự ảnh hởng của nồng độ và thể tích dung dịch Na
2
CO
3
77
3.4.3. Khảo sát sự ảnh hởng của nồng độ dung dịch NaOH 78
3.4.4. Khảo sát khoảng tuyến tuyến, xây dựng đờng chuẩn ngoại suy
định lợng xyanua và xác định độ chính xác của phơng pháp
4.4.3.
áp dụng qui trình tiến hành phân tích As trong một số mẫu thực
tế
110
4.5. Kết luận 112
5. Chơng V: Thuốc bảo vệ thực vật 113
5.1. Sơ lợc các nghiên cứu về thuốc bảo vệ thực vật 113
5.1.1 Sơ lợc về thuốc bảo vệ thực vật 113
5.1.2. Một số thuốc hay gặp và có khả năng gây nhiễm độc hàng loạt ở
Việt Nam
115
5.1.3. Một số phơng pháp phân tích hay dùng xác định d lợng các
thuốc BVTV hiện nay
117
5.2. Phơng pháp và phơng tiện nghiên cứu 119
5.2.1. Hóa chất, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 119
5.2.2. Phơng pháp nghiên cứu 121
5.3. Thực nghiệm 121
6
5.3.1. Pha dung dịch chuẩn 121
5.3.2. Xây dựng qui trình xác định một số thuốc bảo vệ thực vật trong
mẫu nớc
121
5.3.3. Điều kiện phân tích đa d lợng các HCBVTV trên GC-MS 122
5.4. Kết quả và bàn luận 123
7
Đặt vấn đề
Nhiễm độc hàng loạt có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên,
nhng các hóa chất độc, các độc tố trong động, thực vật, các sản phẩm thực
phẩm, nguồn nớc bị nhiễm các loại hóa chất độc là một trong những nguyên
nhân chính gây nên các vụ nhiễm độc hàng loạt đó.
Thực tiễn cho thấy hàng năm chúng ta gặp số lợng vụ nhiễm độc hàng
loạt khá nhiều, nhiều vụ đã gây những hậu quả hết sức nghiêm trọng, làm số
ngời tử vong và phải cấp cứu khá lớn. Đứng trớc các vụ nhiễm độc lớn đó đã
làm nhiều khâu, nhiều cấp hết sức hoang mang và rất khó chủ động trong xử trí,
cấp cứu nạn nhân, ngăn chặn các thiệt hại và khắc phục những hậu quả của nó.
Đây là một trong những nhiệm vụ hết sức nặng nề và phức tạp bởi một trong
những nguyên nhân quan trọng là rất nhiều tính mạng của các nạn nhân đang và
tiếp tục bị đe dọa. Vậy làm gì để giảm thiểu các nguy hại đó của nhiễm độc
hàng loạt, rất nhiều giải pháp phải tiến hành đồng bộ, khẩn trơng nhng có
một vấn đề cần hết sức lu ý đó là việc xác định các nguyên nhân gây nên các
vụ nhiễm độc hàng loạt đó để từ đó có thể đa ra đợc các biện pháp hữu hiệu
trong điều trị, phòng ngừa, ngăn chặn và làm giảm thiểu các tác hại của các vụ
ngộ độc đó.
Trong thực tiễn giám định các vụ án liên quan đến độc chất trong thời
gian qua tại Phòng giám định Hoá Pháp lý, Viện Khoa học Hình sự, hàng năm
chúng tôi phải tiến hành giám định hàng trăm vụ án liên quan đến độc chất.
Năm 2002, đã tiến hành giám định 286 vụ án có liên quan đến các chất độc,
năm 2003 giám định 245 vụ án có liên quan đến độc chất và năm 2004 tính đến
tháng 9 đã có 134 vụ án có liên quan đến độc chất. Trong các vụ án đó tổng số
mẫu vật đã lên tới con số rất lớn. Có nhiều vụ án việc xác định nguyên nhân gây
nên nhiễm độc khá thuận lợi nhng cũng không ít trong số đó không tìm đợc
nguyên nhân làm cho công tác điều tra phá án hết sức khó khăn. Nguyên nhân
gây nhiễm độc rất đa dạng và rất khó định hớng, do vậy trong quá trình điều
mẫu nớc bằng phơng pháp sắc ký khí khối phổ.
-
á
p dụng các qui trình vào thực tế phân tích giám định trong các vụ án
có liên quan đến các loại chất độc này.
9
Chơng I. chất độc b.
1.1 Sơ lợc các nghiên cứu về chất độc b.
1.1.1. Vài nét sơ lợc về chất độc B.
Chất độc B là một chất độc thuộc nhóm các chất độc thần kinh (hay còn
gọi là các chất độc lân hữu cơ - do trong cấu trúc của nó có nguyên tố phốt
pho). Chất độc B đợc sản xuất lần đầu tiên có lẽ vào năm 1938 do Shrader và
các cộng sự, ở Mỹ ngời ta gọi nó là các chất độc B (cùng với các chất độc
tabun và soman). Có thể nói tabun là chất độc đầu tiên của nhòm này đợc sản
xuất năm 1936. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, chất độc B đợc sản xuất
khoảng 0,5 tấn và ở qui mô pilot. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 quân đội
Mỹ đã dùng chất độc B nh một vũ khí chiến lợc để tấn công quân phát xít
Đức, sau chiến tranh ngời Đức phải thừa nhận rằng chính chất độc B là vũ khí
rất nguy hiểm khiến cho ngời Đức thất bại. Do vậy, ngay sau chiến tranh thế
giới lần thứ hai, các nghiên cứu đã tập trung chủ yếu vào tìm hiểu cơ chế gây
độc của chất này nhằm tìm ra các chất và các phơng pháp phòng độc có hiệu
quả đối với các vũ khí hóa học mới dạng này. Kết quả của các nghiên cứu
không những họ đã tìm đợc các phơng án phòng độc đối với chất độc B mà
còn tổng hợp đợc nhiều loại vũ khí hóa học mới, rất nguy hiểm, có độc tính
cao.
Trong cuộc chiến tranh Iran-Irắc (1984-1988) ngời ta cho rằng quân đội
CH
3
- CH - O O
P
CH
3
F
Trọng lợng phân tử : 140,09
Chất độc B cũng nh các chất độc nhóm này có độc tính rất cao đối với
các động vật thuộc máu nóng nhất là đối với các động vật có hệ thần kinh trung
ơng phát triển. Ngời ta đã nghiên cứu độc tính của chất độc B nhận thấy khi
uống nớc chứa 0,022 mg/kg chất độc B thấy xuất hiện triệu chứng nhiễm độc
nhẹ. Nếu sau 8 h uống thêm 0,088 mg/kg chất độc sẽ thấy xuất hiện những triệu
chứng nhiễm độc rõ rệt. Cho tới nay, liều chất độc B 0,14 mg/kg qua đờng tiêu
hóa đợc coi là liều chết. Trong trờng hợp tiêm bắp, liều chất độc B
0,006mg/kg đã gây trạng thái nhiễm độc rõ rệt, liều gây chết đã đợc xác định
là 0,03 mg/kg. Liều gây chết qua niêm mạc mắt của chất độc B có thể gây chết
50 % số bệnh nhân khi bị rơi một giọt chất độc B có trọng lợng là 3 mg vào
mắt. Nếu chất độc B rơi trên da thì liều gây chết đợc xác định là 30-50 mg/kg.
Khi bị nhiễm độc qua đờng hô hấp thì liều gây chết của chất độc B lệ thuộc
không những vào nồng độ chất độc, thời gian chất độc tác động, vào cờng độ
hô hấp, liều gây chết của nó qua đờng hô hấp khoảng 75-100 mg, nó có thể
gây chết ngời sau 15 phút [10].
Những nguy cơ gây độc của chất độc B tơng đối cao do nó tồn tại ở các
kho bí mật hoặc vấn đề các phòng thí nghiệm tổng hợp bất hợp pháp, buôn bán
trôi nổi cho các nhóm khủng bố. Về mặt tổng hợp chất độc B tơng đối dễ tổng
hợp do vậy rất nguy hiểm vì bọn khủng bố có thể lợi dụng, tổng hợp trong
những phòng thí nghiệm với một số trang thiết bị tơng đối đơn giản.
lợng men ở huyết thanh và hồng cầu thì lợng men giảm chỉ đạt 50-70% so
với bình thờng.
- Nhiễm độc thể vừa: Triệu chứng tiến triển nhanh, trên nền các dấu hiệu
nhiễm độc thể nhẹ, phát sinh những rối loạn nặng về hô hấp, tuần hoàn, hệ thần
12
kinh trung ơng. Cảm giác khó thở ngày một rõ nh đau tức ngực, tức thở nặng,
ho. Bệnh nhân cảm thấy sợ hãi, nhức đầu, xuất hiện cơn co thắt phế quản - Đây
là dấu hiệu điển hình của nhiễm độc thể vừa của chất độc B. Bệnh nhân cảm
thấy hng phấn, mất thăng bằng cảm xúc, đổ mồ hôi, tím tái, đồng tử co hẹp
không phản xạ với ánh sáng. Nớc rãi chảy, thở nhanh, khó và rung từng nhóm
cơ. Lợng men chỉ đạt 30-50% so với bình thờng.
- Nhiễm độc nặng: Triệu chứng xuất hiện nhanh, hệ thần kinh trung
ơng bị tổn thơng nặng, các chức năng quan trọng của sự sống bị rối loạn
nghiêm trọng. Các triệu chứng nh chảy rãi, co thắt phế quản, vã mồ hôi, buồn
nôn, nôn, kích động mạnh, trạng thái sợ hãi, mệt mỏi. Rung cơ sau đó xảy ra co
giật, bệnh nhân mất ý thức da tím tái. Nặng các cơn co giật xảy ra nhiều và kéo
dài, tiếp theo sẽ dẫn đến liệt. Hôn mê sâu, mất tri thức, mất phản xạ, đái ỉa vô
thức. Thở ít, không đều, xẹp mạch dẫn đến tử vong do trụy hô hấp và trụy tim
mạch. Lợng men chỉ còn 20-30% so với bình thờng [10].
Chất độc B là một chất độc đợc dùng làm vũ khí hóa học nên nó đợc
quản lí rất nghiêm ngặt theo công ớc của Liên hợp Quốc về Cấm sử dụng Vũ
khí hóa học.
1.1.2. Một số phơng pháp hay dùng để phân tích, xác định chất độc B.
Để xác định chất độc B trong thực tế có rất nhiều phơng pháp từ
phơng pháp men, phơng đo quang, phơng pháp sinh học, phơng pháp phân
tích miễn dịch, phơng pháp điện di mao quản, phơng pháp sắc kí nhng có lẽ
hiện nay phơng pháp sắc kí hay đợc dùng hơn cả để xác định nó trong các
loại mẫu nh mẫu môi trờng, mẫu sinh học hoặc các chất chuyển hóa của nó.
a. Phơng pháp sắc kí khí
tích đợc một số lợng lớn mẫu nớc tiểu của các nạn nhân trong vụ khủng bố
tại đờng xe điện ngầm tại Tokyo [64]. Một ứng dụng quan trọng nữa của
phơng pháp sắc kí khí đó là dùng để phân tích và tách các đồng phân. Một vài
phơng pháp đã cho phép trong phân tích tách và phân biệt đợc các đồng phân
của chất độc B với các chất độc nhóm chất độc thần kinh này nh soman,
tanbun trong nghiên cứu. Điều đó rất có ý nghĩa trong thực tiễn để truy nguyên
nguồn của chất độc [46].
Stankov và cộng sự đã dùng phơng pháp sắc kí khí nghiên cứu xác định
vi lợng của chất độc B, soman và VX trong mẫu nớc, với detector FPD và cột
nhồi với 5% chất hấp phụ là polynitrinsiloxan. Mẫu chất độc B đợc chiết từ
nớc bằng hỗn hợp dung môi ethylacetat và n-hexan, trớc đó mẫu nớc phải
14
đợc bão hòa bằng amoni sunphat hoặc natri chlorua. Phơng pháp này đã cho
phép xác định chất độc B trong nớc với giới hạn phát hiện là 3.10
-5
mg/l [89].
Harvey và cộng sự đã sử dụng phơng pháp vi chiết pha rắn (SPME) để
làm giàu mẫu chất độc B trớc khi phân tích bằng sắc kí khí. Các tác giả đã
dùng sợi silica có đờng kính ngoài là 200
à
m, đợc phủ một lớp polyimide
dày 9 àm, sợi dài khoảng 15 cm và rộng 1,0 cm. Chất độc B đợc tách khỏi
mẫu và làm giàu trên sợi bằng cách đặt sợi ngập vào dung dịch, dùng máy
khuấy đều với tốc độ khoảng 180 v/ph, trong thời gian khoảng 20 phút. Sau khi
chất độc B đã đợc làm giàu trên sợi đợc giải hấp bằng nhiệt và bơm thẳng vào
máy sắc kí bằng bộ phận ghép nối giữa injector và SPME. Tốc tộ dòng khí giải
hấp khoảng 100 ml/ph, nhiệt độ khoảng 150
o
C, trong thời gian 4 phút. Sắc kí
[53]. Dagostino và Provost đã sử dụng kỹ thuật GC-EI-MS nghiên cứu quá
trình thủy phân của một số chất nhóm cơ photpho, sử dụng dung môi
dichloromethane để chiết, các chuyển hóa đó đã đợc phát hiện. Việc nghiên
cứu xác định các chất chuyển hóa rất có
nghĩa trong thực tiễn để đánh giá sự
tác động của nó đối với môi trờng và góp phần truy nguyên nguồn chất độc
đang bị rò rỉ ra bên ngoài, tìm các biện pháp khắc phục kịp thời. Nhìn chung
phơng pháp GC-MS cho phép xác định các chất độc nhóm lân hữu cơ ở giới
hạn tơng đối thấp khoảng ng trong các mẫu có thành phần nền phức tạp.
Dagostino đã nghiên cứu gắn hai lần MS đã cho phép có thể phát hiện từ 30-70
pg các chất độc nhóm này, trong đó chất độc B định lợng ở số khối từ 99-79
m/z [53].
Phơng pháp GC-MS đã đợc dùng phân tích các mẫu thực tế thu tại
làng ngời Kurd ở phía bắc Irắc, giáp biên giới Iran khi quân đội dùng để đàn
áp ngời Kurd. Từ các mẫu nh đất, mảnh bom, tấm thảm đã tìm thấy 21 chất
khác nhau. Phơng pháp này đợc dùng để phân tích các mẫu huyết thanh của
các nạn nhân trong vụ khủng bố bằng chất độc B tại đờng hầm tàu điện ngầm
ở Tokyo phát hiện thấy nồng độ chất độc B trong các mẫu huyết thanh của nạn
nhân từ 0,2-4,1 ng/ml [63].
Black và các cộng sự đã sử dụng phơng pháp GC-MS và GC-MS-MS
phân tích các chất độc chiến tranh bằng kỹ thuật SIM (chọn lọc ion), xác định
các chất trong các mẫu nh đất, mẫu quần áo, mảnh kim loại. Kết quả nghiên
cứu cho thấy trong 6 mẫu đất nghiên cứu tác giả đã tìm thấy chất độc B và các
sản phẩn chuyển hóa của chúng và phù hợp với các kết quả tìm thấy ở các mẫu
kim loại do vậy có thể khẳng định nguồn gốc của chất độc B phóng thích ra môi
trờng từ các mảnh kim loại có thể là mảnh bom, đạn đợc dùng từ trớc. Với
kỹ thuật này cho phép phát hiện nồng độ của các chất này trong mẫu môi
tr
ờng tơng đối thấp từ ppm-ppb [16].
chất độc B với giới hạn phát hiện tới 10 pg. Kỹ thuật sau cột cũng là một hớng
nghiên cứu đợc nhiều quan tâm để tăng độ nhạy của phơng pháp và có độ
chọn lọc cao hơn trong nghiên cứu [45].
d. Phơng pháp sắc kí lỏng khối phổ.
Hiện nay phơng pháp này đợc phát triển rất nhanh đặc biệt là kỹ thuật
ghép nối hai lần khối phổ. Phơng pháp này cho phép mở rộng việc phân tích
đối với các chất độc chiến tranh, đặc biệt đối với các sản phẩm chuyển hóa của
chúng trong những mẫu có thành phần nền phức tạp. Từ những năm 1980, rất
nhiều kỹ thuật LC-MS đợc nghiên cứu nhng liên quan đến các chất độc chiến
tranh thì kỹ thuật TS-MS (ion hóa bằng phun nhiệt) đợc ứng dụng nhiều hơn
cả ngay từ những năm đầu 1990. Một số tác giả nghiên cứu và nhận thấy tính
u việt của kỹ thuật này khi phân tích các chất độc chiến tranh.
17
Kỹ thuật TS-MS rất tiện dụng, đơn giản đã đợc các tác giả ứng dụng
phân tích xác định chất độc B và các chất nhóm độc thần kinh cũng nh các sản
phẩm phân hủy của chúng. Nhiều nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật TS-MS-MS để
xác định các chất phân hủy của nhóm cơ photpho trong các mẫu nớc. Các phổ
ion thu đợc cho các dữ liệu để xác định các chất, ngoài ra tỷ lệ các tín hiệu
nhiễu cũng đợc tăng lên. Nhìn chung kỹ thuật ghép hai lần khối phổ đợc sử
dụng để tăng độ chính xác khi xác định một chất chuyển hóa trên nền mẫu có
thành phần phức tạp [45].
Có một số kỹ thuật ion hóa khác cũng đợc ứng dụng để xác định các
sản phẩm chuyển hóa nh ES-MS-MS với ion âm tỏ ra có hiệu quả hơn ion
dơng. Black và Read đã dùng kỹ thuật LC-APCI-MS để phân tích các sản
phẩm thủy phân của các chất độc thần kinh và của sulfur mustard cũng nh
yperit nitro. Đặc biệt việc ứng dụng LC-MS trong phân tích các sản phẩm phân
hủy của các chất độc thần kinh trong các mẫu sinh học [53]. Noort và cộng sự
đã dùng kỹ thuật micro-LC-ES-MS-MS để kiểm tra IMPA - một sản phẩm thủy
- Giấy thử pH
- Bộ pipetman từ 10àl - 5 ml.
-
ố
ng ly tâm 50 ml, 15 ml thuỷ tinh hoặc polypropylen có nắp đậy
- Máy lắc ống nghiệm Minishaker M1 IKAR
- Lọ đựng mẫu cho GC
- Bình định mức 10 ml, 25 ml và 100 ml
- Các dụng cụ phụ trợ khác
- Hệ thống GC-MS:
- Máy GC: HP Agilent-GC 6890N
- Cột HP-5MS , kích thớc 0,25 mmx30 mx 0,25
à
m
- Khối phổ HP Agilent - MS 5973
b. Hoá chất
Các hoá chất đều là loại hoá chất tinh khiết phân tích.
- Metanol
- Ethanol
- Ethylacetat
- n-hexan
- n-butanol
- Isopopanol
- Aceton
- Ether ethylic
19
- Dichloroethan
à
l dung dịch 10 ppm vào hệ thống sắc kí, lặp lại 5 lần,
theo dõi thời gian lu và diện tích pic.
b. Khảo sát khoảng tuyến tính, xây dựng đờng chuẩn định lợng chất độc B
bằng GC-MS.
20
+ Khảo sát khoảng tuyến tính:
Khảo sát với các dung dịch có nồng độ từ 10ppb-100ppm, theo dõi số đo
diện tích.
+ Xây dựng đờng chuẩn định lợng.
Đờng chuẩn định lợng chất độc B bằng GC-MS đợc xây dựng trên cơ
sở các dung dịch có nồng độ nằm trong khoảng tuyến tính của phơng pháp.
c. Khảo sát giới hạn phát hiện.
Giới hạn phát hiện là tại nồng độ đó chiều cao của pic gấp 3 độ nhiễu
đờng nền.
d. Cách tính kết quả định lợng.
+ Hàm lợng của chất độc B trong mẫu đất đợc tính theo công thức:
A
m
C
c
X = x x V
0
A
c
m
m
X = x x V
0
A
c
V
mTrong đó:
- X: Nồng độ chất độc B trong mẫu không khí phân tích, tính bằng ppm.
- A
m
: Diện tích pic mẫu, tính bằng mm
2
.
- A
c
: Diện tích pic chuẩn, tính bằng mm
2
.
- C
c
: Nồng độ dung dịch chuẩn, tính bằng ng/l.
- V
m
: Thể tích không khí dùng phân tích, tính bằng l.
- V
0
+. Rửa giải.
Dùng 20 ml n-hexan:aceton (4:1), phần dịch rửa đợc hứng vào một ống
nghiệm. Sau đó bay hơi dung môi tới khô bằng cất dới áp suất giảm và dòng
khí nitơ nhẹ. Thêm chính xác 1ml n-hexan tráng đều từ trên xuống dới, rồi
định lợng bằng máy GC-MS.
d. Khảo sát hiệu suất thu hồi của phơng pháp.
Các mẫu đất dùng khảo sát hiệu suất thu hồi của phơng pháp cũng đợc
tiến hành tơng tự nh trên.
1.3.4. Xây dựng qui trình phân tích chất độc B trong mẫu không khí.
a. Chuẩn bị mẫu: Bơm 100
à
l dung dịch chất độc B có nồng độ 100 ppm vào
trong thiết bị thủy tinh có dung tích khoảng 2500 ml
b. Chuẩn bị cột chiết và chiết.
Dùng cột C18 loại 200 mg để chiết, cột đợc hoạt hóa bằng 5 ml hỗn
hợp methanol, tiếp theo là 10 ml n-hexan.
22
Nối cột đã đợc hoạt hóa với thiết bị thủy tinh có chứa hơi của chất độc
B và gắn với bơm chân không qua bộ manifold có thể giảm áp, điều chỉnh cho
tốc độ dòng vừa phải. Cho bơm chạy trong khoảng thời gian 30-40 phút (có thể
hơ nhẹ đáy bình cho tốc độ bay hơi đợc tốt hơn).
c. Rửa giải.
Dùng 20 ml n-hexan:aceton (4:1), phần dịch rửa đợc hứng vào bình.
Sau đó dung môi đợc cất dới áp suất giảm và cô tới khô dới dòng khí nitơ
nhẹ. Thêm chính xác 1ml n-hexan tráng đều từ trên xuống dới, rồi định lợng
bằng máy GC-MS.
d. Khảo sát hiệu suất thu hồi của phơng pháp.
Các mẫu khí dùng khảo sát hiệu suất thu hồi của phơng pháp cũng đợc
tiến hành tơng tự nh trên.
3 Đờng kính cột 0,25 mm
4 Nhiệt độ injector 200
0
C
Tăng nhiệt độ
(
0
C/phút)
Nhiệt độ
(
0
C)
Thời gian giữ
(Phút)
40 1
5 90 0
25 250 1
5 Nhiệt độ cột
Tổng thời gian 184 phút
6 Nhiệt độ Detector 280
0
C
7
áp suất cột
7,2 Kpa
8 Tốc độ dòng 1,2 ml/phút
9 Chế độ bơm Splitless
1.4. Kết quả và bàn luận.
% Số đo S S
td
%
1 5,276 3.142.758
2 5,199 3.143.274
3 5,260 3.143.314
4 5,257 3.143.726
5 5.166 4,2
3.143.286
t
TB
5,232 Số đo S
TB
3.143.272 3,8
Kết quả trên cho thấy phơng pháp có độ lặp lại khá cao (sai số 4,2 %)
và độ chính xác của phơng pháp có thể chấp nhận đợc (khoảng 3,8%).
b. Khảo sát khoảng tuyến tính và xây dựng đờng chuẩn.
Khảo sát độ tuyến tính của phơng pháp định lợng chất độc B bằng
GC-MS đợc tiến hành với các dung dịch có nồng độ từ 10ppb-100ppm, thiết bị
MS đợc đặt theo chế độ SIM, ion mảnh định lợng của chất độc B với số khối
là 99 m/z, theo dõi số đo diện tích. Kết quả đợc trình bày ở bảng sau:
Bảng 3: Kết quả khảo sát khoảng tuyến tính của phơng pháp định lợng
chất độc B.