Bộ quốc phòng
học viện quân y
Báo cáo tổng kết Đề tài nhánh kc.10-13.04
Nghiên cứu xây dựng quy trình phát hiện một số
chất độc có khả năng gây nhiễm độc hàng loạt
trong các mẫu sinh học trên các thiết bị
phân tích tại phòng thí nghiệm Chủ nhiệm ĐTN: PGS. TSKH. Nguyễn Bằng Quyền
thuộc đề tài cấp nhà nớc. M số kc 10.13
xác định nguyên nhân, xây dựng biện pháp dự phòng
và xử trí nhiễm độc hàng loạt
phục vụ cho chẩn đoán điều trị nhiễm độc PGS. TS. Nguyễn Bằng Quyền Hà nội - 2004 Tài liệu là kết quả thực hiện nhánh nghiên cứu của Đề tài cấp
Nhà nớc KC10.13
2Lời mở đầu
Nớc ta là một nớc nông nghiệp đang phát triển, từng bớc hiện đại
hoá và công nghiệp hoá. Cùng với sự phát triển về kinh tế là sự bất ổn của tình
hình chính trị khu vực và toàn cầu, nguy cơ xẩy ra những vụ NĐHL là không thể
dự đoán trớc.
Việc xử trí nhiễm độc và NĐHL đòi hỏi nhiều biện pháp khác nhau, từ
chuyển. Các chất hoá học này có thể là sản phẩm hoàn chỉnh nhng cũng có thể
là các tiền chất sử dụng trong công nghiệp hoá chất. Do đó, những tai nạn hoặc sự
cố trong quá trình sản xuất, bảo quản và vận chuyển hoá chất có thể xẩy ra bất
ngờ gây tổn hại về sinh mạng, môi trờng và tài sản. Mức độ nguy hiểm của các
loại hoá chất khi bị rò rỉ phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
- Phạm vi tác dụng.
- Độc tính.
- Lợng hoá chất sản xuất, bảo quản và vận chuyển.
- Độ bền vững ở ngoại cảnh.
Số lợng nạn nhân trong một vụ tai nạn hoá chất phụ thuộc vào nhiều yếu
tố: tính chất của loại hoá chất, phạm vi lan toả của khu vực ô nhiễm, thời điểm
nạn nhân có mặt tại nơi xẩy ra tai nạn, thời gian tiếp xúc dài hay ngắn và phơng
pháp xử trí điều trị.
Trong các dạng hoá chất có thể gây nguy hiểm trong các vụ tai nạn, chất
dạng khí nguy hiểm hơn cả, trong đó có các chất nh: clo, sulfua dioxid, oxid
cacbon, amoniac, acid clohydric, oxid nitơ Các loại khí này có độc tính tong
đối cao khi bị rõ rỉ hoặc phát tán, gây nhiễm độc qua đờng hô hấp nên dễ xẩy
NĐHL, khối lợng sản xuất, dự trữ và vận chuyển lớn.
+ Do khủng bố
Các thế lực khủng bố tìm mọi cách để gây hiệu quả sát thơng về sinh
mạng dân thờng và cơ sở vật chất lớn nhất. Do vậy, các phơng tiện sử dụng để
khủng bố có thể gồm các loại sau đây:
- Chất nổ.
- Chất độc hoá học.
- Tác nhân sinh học. 4
- Chất phóng xạ.
Trong những năm gần đây, đã xẩy ra những vụ khủng bố bằng chất độc
-
Có thể gây sát thơng hàng loạt, gây hoang mang, sợ hãi trong dân
chúng. 5
-
Có thể sử dụng bằng nhiều phơng pháp và nhiều dạng khác nhau,
làm cho đối phơng bất ngờ, khó đối phó: gây ô nhiễm nguồn nớc,
không khí, lơng thực thực phẩm bằng chất độc dạng lỏng, dạng hơi,
dạng khí dung, dạng bột
-
Chất độc có khả năng tồn tại ở môi trờng trong thời gian nhất định.
-
Công nghệ và nguyên liệu sản xuất chất độc hoá học tơng đối đơn
giản, dễ kiếm, có thể sử dụng quy trình sản xuất trong công nghiệp
thông thờng và rẻ tiền hơn so với chất phóng xạ và chất nổ. Có ý kiến
cho rằng, các nhóm khủng bố khó có khả năng về mặt công nghệ để sản
xuất chất độc hoá học. Nhng theo một báo cáo của CIA, việc sản xuất
các tác nhân hoá học và sinh học có thể gây sát thơng nhiều ngời
không khó hơn sản xuất heroin và các chất gây mê.
- Việc phát hiện, chẩn đoán và xử trí NĐHL gặp nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, sử dụng chất độc hóa học để khủng bố cũng có một số khó
khăn và hạn chế:
-
Khó tạo đợc nồng độ chất độc cao để sát thơng đợc nhiều ngời.
-
Cần phải có những phơng tiện phun rải chất độc thích hợp và giữ đợc
bí mật bất ngờ.
-Trong hai năm 1971-1972, việc sử dụng thuốc diệt nấm hại hoa mầu có
chứa methyl thuỷ ngân ở Irắc đã làm 6530 ngời nhiễm độc và 500 ngời chết.
+ Do thực phẩm, thuốc và các sản phẩm sinh hoạt trong đời sống bị
nhiễm độc:
Lịch sử đã ghi nhận nhiệu vụ NĐHL do thực phẩm, thuốc và các sản phẩm
sinh hoạt bị nhiễm chất độc vì nhiều lý do khác nhau. Sau đây là một số ví dụ:
- Vụ nhiễm độc dầu ăn ở Tây Ban Nha: 1981, 1000 ngời chết và 25.000
ngời bị nhiễm độc đợc coi là vụ nhiễm độc thực phẩm rất nghiêm trọng trong
lịch sử châu Âu hiện đại. Nguyên nhân là do dầu ăn bị nhiễm hoá chất trừ sâu.
- Tháng 10-1992, 49 trẻ em ở một trờng học thuộc tiểu bang New Jersey
(Mỹ) xuất hiện các biểu hiện nhiễm độc sau bữa ăn tra. Xét nghiệm cho thấy
hàm lợng MetHb trong máu của các trẻ em này đều rất cao và hàm lợng nitrit
trong món súp lên tới 459ppm.
- Năm 1996, ở Haiti xẩy ra vụ 76 trẻ em chết do uống paracetamol nhng
có lẫn diethylenglycol.
- Năm 2002, một số trẻ em ở thành phố New York (Mỹ) bị nhiễm độc
thuốc diệt chuột Trung Quốc.
7
1.2 biện pháp dự phòng và xử trí NĐHL
Mặc dù đã xẩy ra nhiều vụ NĐHL nhng việc nghiên cứu và kế hoạch sẵn
sàng ứng phó với các thảm hoạ hàng loạt do chất độc hoá học các vẫn cha đợc
các nớc quan tâm đúng mức. Sau vụ 11-9, nguy cơ khủng bố bằng các loại vũ
khí sát thơng hàng loạt nói chung, chất độc hoá học nói riêng đã tăng lên rõ rệt.
Vì vậy, nhiều quốc gia đã tiến hành hoạch định các phơng án đối phó khi NĐHL
xẩy ra.
Theo một điều tra ở bang Georgia (Mỹ) do Richard B. tiến hành cho thấy
73% bệnh viện không có phơng án chuẩn bị xử trí thảm họa hàng loạt do chất
đợc. Trong vụ khủng bố ở Tokyo năm 1995, phải mất 4 giờ, mới có kết quả
phân tích xác định là do sarin. Trong khí đó, căn cứ vào dấu hiệu lâm sàng, các
nhân viên y tế là những ngời đầu tiên khẳng định nguyên nhân và quyết định sử
dụng thuốc chống độc đặc hiệu.
Phơng pháp phát hiện phải có khả năng xác định đợc chất độc ở nồng
độ thấp hơn mức có thể gây nhiễm độc (nồng độ ngỡng). Ví dụ, nồng độ ngỡng
của sarin là 0,0025 mg/lít/phút, độ nhạy của phơng pháp phát hiện phải đạt là
1.10
-6
mg/lít
Các tiêu chuẩn để lựa chọn phơng pháp phân tích gồm:
+ Độ nhậy
+ Thời gian tiến hành
+ Độ đặc hiệu
+ Chi phí
Ngoài ra, cần u tiên chọn phơng pháp phát hiện các chất độc nguy hiểm,
có độc tính cao và gây nhiễm độc nhanh.
1.3.1. Phơng pháp lấy mẫu:
+ Lấy mẫu sinh học
Lấy mẫu sinh học trong phân tích độc chất phải tuân theo bốn nguyên tắc
chính sau đây:
- Thời gian:
phải lấy đúng thời gian thích hợp.
- Khối lợng mẫu:
Phải đủ lợng mẫu cần thiết để phân tích.
- Bảo quản mẫu:
Mẫu phải đợc bảo quản đúng cách, tránh phân huỷ
và nhiễm bẩn mẫu.
nang nhỏ hoặc phân tán trong chất rắn vì vậy cần phải nghiền nhỏ để tăng diện
tích tiếp xúc của dung môi và chất phân tích. Tuỳ thuộc vào độ phân cực của chất
cần tách mà ta lựa chọn dung môi chiết. Phơng pháp này chủ yếu đợc áp dụng
cho các mẫu rắn nh đất, thực vật
1.3.2. 2 Chiết pha rắn (SPE)
Ra đời từ giữa những năm 1970, phơng pháp chiết pha rắn đã dần thay
thế cho phơng pháp chiết pha lỏng và đợc sử dụng rất nhiều trong các lĩnh vực
phân tích. Chiết pha rắn là một phơng pháp chuẩn bị mẫu để làm giàu và làm
sạch các chất phân tích từ dung dịch bằng cách hấp thụ lên một cột hoặc đĩa pha
rắn, sau đó chất phân tích đợc giải hấp bằng hệ dung môi thích hợp. 10
u điểm của phơng pháp chiết pha rắn là hiệu suất thu hồi cao, khả năng
làm sạch và làm giàu chất phân tích lớn, dễ tự động hóa, có khả năng tơng thích
với phân tích sắc ký, tiết kiệm dung môi và là một phơng pháp an toàn, đơn giản
dễ sử dụng, có thể tiến hành hàng loạt do đó tiết kiệm đợc thời gian.
+ Vi chiết pha rắn:
Một kỹ thuật mới của chiết pha rắn là vi chiết pha rắn bao gồm một sợi
thuỷ tinh silic chịu nhiệt phủ phim mỏng pha tĩnh đợc nhúng vào dung dịch
hoặc không gian hơi để hấp lu các chất cần phân tích sau đó đa trực tiếp sợi
này vào injectơ của máy sắc ký khí để giải hấp nhiệt hoặc bộ ghép nối với máy
sắc ký lỏng cao áp để phân tích. Kỹ thuật này đợc áp dụng đầu tiên vào vào phân
tích lợng vết của các chất hữu cơ dễ bay hơi. Gần đây, phơng pháp này đã đợc
áp dụng rộng rãi để phân tích lợng vết các chất với hiệu quả cao.
1.4. Phơng pháp phân tích độc chất trong các mẫu sinh học
của các chất (nguyên tử, phân tử, nhóm phân tử) trong những điều kiện xác định.
Tuỳ theo bản chất của sự sinh ra phổ mà có các loại phổ sau đây:
+Phổ nguyên tử:
do sự chuyển mức năng lợng của các điện tử hoá trị của
nguyên tử bị kích thích tạo ra, gồm có: phổ phát xạ nguyên tử (AES và ICP-AES);
phổ hấp thụ nguyên tử(AAS); phổ huỳnh quang nguyên tử (AAS).
+Phổ của nguyên tử:
do các điện tử nội
(lớp K và L) của nguyên tử khi
kích thích mà sinh ra, gồm có: Phổ phát xạ và nhiễu xạ tia X; phổ huỳnh quang
tia X (đây là hai nhóm phổ của nguyên tử tự do ở trạng thái khí).
+
Phổ của phân tử:
do các điện tử hoá trị nằm trong trạng thái liên kết
của phân tử khi bị kích thích sinh ra, gồm có: phổ hấp thụ phân tử (UV-VIS); phổ
hấp thụ hồng ngoại (IR); phổ tán xạ Raman (RS).
+ Phổ khối lợng (MS):
do các mảnh khối lợng của chất (nguyên tử
hay nhóm nguyên tử) của chất phân tích khi bị ion hoá tạo thành và chúng sinh ra
phổ theo độ lớn của khối lợng.
+ Phổ cộng hởng từ:
do sự cộng hởng từ của điện tử hay của hạt nhân
nguyên tử tạo ra. Loại phổ này gồm hai kiểu: Cộng hởng từ hạt nhân (NMRS) và
cộng hởng từ điện tử (EMRS)
Các phơng pháp phân tích theo phổ có u điểm nh: nhanh, xét nghiệm
hàng loạt, nồng độ phân tích thấp, có thể định tính và định lợng, có phơng pháp
phục vụ đợc cả xác định cấu trúc phân tử.
Đối với việc nghiên cứu và phân tích các chất độc trong các phòng thí
nghiệm, các phơng pháp phổ có nhiều u việt, đợc sử dụng phổ biến hiện nay.
Vì thế ứng với mỗi loại bản chất của sự tơng tác đó ngời ta có một loại
sắc ký riêng. Quá trính sắc ký đợc thực hiện xảy ra giữa hai pha: pha tĩnh và pha
động. Căn cứ vào pha động hoặc hình dạng giá tựa của pha tĩnh ngời ta chia sắc
ký thành nhiều nhóm: Pha động là khí là sắc ký khí, pha động là lỏng là sắc ký
lỏng. Hay - sắc ký cột, sắc ký giấy, sắc ký lớp mỏng, sắc ký điện di
Một số loại sắc ký thông dụng thờng đợc sử dụng trong các phòng thí
nghiệm phân tích độc chất là: Sắc ký lỏng, sắc ký khí, sắc ký lớp mỏng và các
loại sắc ký lỏng, sắc ký khí ghép khối phổ.
+ Sắc ký lớp mỏng (TCL)
Phơng pháp sắc ký lớp mỏng đợc phát triển từ những năm 1950 và ứng
dụng rộng rãi vì đây là phơng pháp đơn giản, rẻ tiền.
Ngày nay với sự cải tiến về kỹ thuật và có sự kết nối trực tiếp sắc ký lớp
mỏng với các phơng pháp phổ và các phơng pháp phân tích khác. Sắc ký lớp 13
mỏng đã phát triển thành một kỹ thuật phân tích công cụ có thể tự động hoá, đợc
ứng dụng trong các phòng phân tích độc chất hiện đại.
+ Sắc ký khí (GC)
Sắc ký khí đợc sử dụng rộng rãi nhất trong các phơng pháp sắc ký để
phân tích các chất độc trong các phòng thí nghiệm hiện đại do tính u việt của nó
về độ nhạy và độ phân giải cao. Hệ thống GC với các cột mao quản có khả năng
phân tách cao, các loại detectơ có độ nhậy và độ chính xác cao và khả năng kết
nối với khối phổ (MS) cho phép xác định một lợng lớn các chất tại nồng độ phát
hiện thấp tới ppb.
Thiết bị GC gồm nhiều bộ phận, nhng có 2 bộ phận quan trọng nhất là
cột tách và detector. Nhờ hệ thống khí mang, mẫu phân tích đợc bơm vào buồng
bơm mẫu và sau đó đợc dẫn vào cột tách. Các cấu tử trong hỗn hợp mẫu sẽ rời
độ dẫn điện của ngọn lửa hydro đặt trong một điện trờng khi có chất cần tách
chuyển qua. Nhờ nhiệt độ ngọn lửa hydro, các chất hữu cơ bị bẻ gẫy mạch, bị ion
hoá để trở thành các ion trái dấu. Các ion tạo thành đợc chuyển về các bản cực
trái dấu có hiệu điện thế cao nằm ở 2 phía của ngọn lửa. Dòng ion tạo nên sự sụt
giảm hiệu điện thế, độ sụt áp đợc ghi lại và khuyếch đại để ghi nhận sự có mặt
của các cấu tử cần tách
Độ nhậy của detector FID cao hơn TCD nhiều lần ( 100- 1000 lần). Tuy nhiên,
detector FID chỉ thích hợp để phát hiện các hợp chất hữu cơ đơn thuần.
- Detector cộng kết điện tử ECD
: Detector ECD có chứa một nguồn phóng
xạ
đợc phát ra từ nguồn phóng xạ Ni
63
bắn phá các phân tử khí mang, tạo ra
các ion dơng và các điện tử sơ cấp. Nhờ tác dụng của điện trờng tạo ra sẵn
trong detector, các điện tử và ion dơng chuyển động về các bản điện cực trái dấu
tạo thành dòng điện nền. Nếu dòng điện khí mang chứa mẫu là những chất mà
phân tử của chúng có khả năng cộng kết điện tử thì các điện tử sơ cấp sẽ bị các
nguyên tử hoặc phân tử này bắt giữ, làm sụt dòng điện nền, tạo thành tín hiệu
tơng ứng. Các peak tín hiệu có độ lớn tơng ứng với lợng chất có trong mẫu.
Detector ECD có các đặc trng sau: nhậy cảm với nồng độ, giới hạn phát hiện
10
-14
g/giây, khoảng động học 10
-4
- 10
-5
và có độ ổn định khá cao. Detector ECD
của chất độc sarin trong các loại ancol mạch thẳng [53]. Dagostino và Provost đã
sử dụng kỹ thuật GC-EI-MS nghiên cứu quá trình thủy phân của một số chất
nhóm lân hữu cơ, sử dụng dung môi dichloromethane để chiết.
Nhìn chung phơng pháp GC-MS cho phép xác định các chất độc ở giới
hạn tơng đối thấp khoảng ng trong các mẫu có thành phần nền phức tạp.
Dagostino đã nghiên cứu gắn hai lần MS đã cho phép có thể phát hiện từ 30-70
pg các chất độc nhóm này, trong đó chất độc sarin định lợng ở số khối từ 99-79
m/z [53].
Phơng pháp GC-MS đã đợc dùng phân tích các mẫu thực tế thu tại làng
ngời Kurd ở phía bắc Irắc, giáp biên giới Iran khi quân đội dùng để đàn áp ngời
Kurd. Từ các mẫu nh đất, mảnh bom, tấm thảm đã tìm thấy 21 chất khác nhau.
Phơng pháp này đợc dùng để phân tích các mẫu huyết thanh của các nạn nhân
trong vụ khủng bố bằng chất độc sarin năm 1995 ở Tokyo và nhận thấy nồng độ
chất độc sarin trong các mẫu huyết thanh của nạn nhân từ 0,2-4,1 ng/ml [63].
Black và các cộng sự đã sử dụng ph
ơng pháp GC-MS và GC-MS-MS
phân tích các chất độc chiến tranh bằng kỹ thuật SIM (chọn lọc ion), xác định các
chất trong các mẫu nh đất, mẫu quần áo, mảnh kim loại. Kết quả nghiên cứu cho
thấy trong 6 mẫu đất nghiên cứu tác giả đã tìm thấy chất độc sarin và các sản
phẩn chuyển hóa của chúng. Với kỹ thuật này cho phép phát hiện nồng độ của
các chất này trong mẫu môi trờng tơng đối thấp từ ppm-ppb. 16
+ Sắc ký lỏng ghép khối phổ (LC-MS).
Hiện nay phơng pháp này đợc phát triển rất nhanh đặc biệt là kỹ thuật
ghép nối hai lần khối phổ. Phơng pháp này cho phép mở rộng việc phân tích đối
với các chất độc chiến tranh, đặc biệt đối với các sản phẩm chuyển hóa của chúng
trong những mẫu có thành phần nền phức tạp. Từ những năm 1980, rất nhiều kỹ
+ Sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC):
Sắc khí lỏng hiệu năng cao là một phơng pháp phân tích hiện đại và đợc
ứng dụng rất rộng rãi. Với những u điểm riêng của mình, nó đã tỏ ra rất có hiệu
quả không những trong các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản mà còn trong nhiều lĩnh
vực khác. HPLC bổ xung cho sắc ký khí vì nó cho phép phân tích các hợp chất
không ổn định nhiệt, không bay hơi và độ phân cực cao. HPLC thích hợp với việc
phân tích lợng vết các hỗn hợp chất có độ phân cực khác nhau lớn.
Pha tĩnh trong HPLC theo các kỹ thuật phân tách sau: sắc ký hấp phụ, sắc
ký pha đảo, sắc ký trao đổi ion và sắc ký rây phân tử. Trong đó sắc ký pha đảo
đợc sử dụng thông dụng nhất.
Các loại pha động đợc lựa chọn dựa vào cả các chất phân tích và kiểu
tách, kiểu xác định.
Sự phân tách các chất thờng sử dụng kiểu pha động gradien thành phần
giữa nớc và một dung môi hữu cơ thích hợp, thờng là metanol và acetonitril.
Một dung môi hữu cơ thứ ba có thể sử dụng, nh tetrahydrofuran cũng đợc sử
dụng nhng với hàm lợng thấp hơn. Ngoài ra một số muối vô cơ thỉnh thoảng
cũng đợc thêm vào pha động.
Các detectơ của HPLC thờng là UV, huỳnh quang (FLD), điện hoá. Có
nhiều loại detectơ nh: detectơ hấp thụ quang phân tử UV-Vis, detector huỳnh
quang, detector khối phổ, detector đo chiết suất, detector đo độ dẫn
+ REMIDi HS (Rapid Emergency Drug identification High Sensitivity)
REMIDi HS của hãng BIO-RAD (Mỹ) là một thiết bị kết hợp giữa HPLC
với một hệ thống xử lý mẫu tự động có thể tách, chiết lợng vết các chất phân
tích từ mẫu sinh học và một số nền mẫu đơn giản khác. Bên cạnh đó, hệ thống
REMEDi HS đợc trang bị sẵn phần mềm tự động nhận dạng chất dựa vào 1 th
viện gần 1000 chất độc thờng gặp và có thể bổ xung các chất mới vào th viện
nhận dạng.
REMIDi HS đợc chế tạo với chức năng chính là sàng lọc (screening) vì
nhiều trờng hợp nhiễm độc do nhiều loại chất độc kết hợp và không dự đoán
Đây là một thiết bị phù hợp để áp dụng trong các phòng thí nghiệm độc
chất hiện đại.
+ Phơng pháp Biosensor:
Biosensor là một phơng tiện phân tích mới dựa trên sự kết hợp của công
nghệ sinh học và điện tử.
Hình 1.1: Cấu tạo của Biosensor
19
Cấu tạo của Biosensor gồm có:
Thành phần sinh học
: Vi khuẩn, mô, thụ thể, enzym, kháng thể, acid
nucleic
Transducer
: Điện cực, sợi quang học, tinh thể áp điện, bán dẫn.
Khi chất cần phân tích tác dụng với thành phần sinh học sẽ tạo nên một
phản ứng sinh học, tín hiệu này sẽ đợc bộ phận transducer tiếp nhận và chuyển
đến bộ phận điện tử để chuyển đổi tín hiệu sinh học thành tín hiệu vật lý, sau đó
ghi lại.
Sử dụng biosensor có các u điểm sau:
- Độ nhậy và độ đặc hiệu cao.
- Quy trình tiến hành đơn giản, công việc xử lý mẫu không phức tạp.
- Thời gian tiến hành nhanh, có thể thực hiện trong điều kiện dã ngoại.
hoá, làm vi khuẩn phát sáng ở mức độ cao.
Xét nghiệm asen (Arsenic Biotest for detection of Arsenic compounds)
của hãng Aboatox sử dụng vi khuẩn Escherichia coli MC 1061. Khi có mặt của
asen trong mẫu thử, vi khuẩn sẽ tăng cờng độ phát sáng và sử dụng thiết bị đo
cờng độ ánh sáng Aboatox 1253 để phát hiện asen.
Kỹ thuật này có giới hạn phát hiện thấp (với asen là 2-4ppb; thuỷ ngân là
0,05-2ppb), độ chính xác và độ nhạy cao, tiến hành đơn giản hơn so với các xét
nghiệm kim loại truyền thống nh quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS), điện hoá,
trắc quang Thời gian xét nghiệm nhanh, có thể tiến hành hàng trăm xét nghiệm
trong ngày. Thiết bị nhỏ, gọn, có thể xét nghiệm ngay tại hiện trờng, giá thành
rẻ.
+ Phơng pháp sinh hoá
Phơng pháp phân tích CĐHH dựa trên phản ứng sinh hoá có thể chia làm 3 loại:
- Xác định hoạt tính enzym,
- Xác định cơ chất,
- Xác định chất ức chế enzym. Trong đó, xác định hoạt tính enzym đợc
sử dụng rộng rãi hơn cả.
21
- Xác định hoạt tính của enzym cholinesterase
Phơng pháp xác định hoạt tính enzym cholinesterase (ChE) đợc ứng
dụng phổ biến để phát hiện hợp chất lân hữu cơ và cacbamat. Vì cơ chế của hợp
chất lân hữu cơ và cacbamat là ức chế ChE, làm ngừng phản ứng thuỷ phân
acetylcholin thành acid acetic và cholin, ngời ta đã sử dụng việc xác dịnh hoạt
tính enzym nay để định tính và định lợng loại chất độc này:
ChE
Phơng pháp phân tích đồng vị phóng xạ 22
Chơng II
Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là các mẫu sinh học ( máu, nớc tiểu, dịch
nôn )
Hoá chất, thiết bị và dụng cụ nghiên cứu
+ Hoá chất
Các dung môi sau đều là loại hoá chất tinh khiết phân tích và loại cho
HPLC do Merck và Prolabo cung cấp:
- Etylacetat
-
Metanol
-
Etanol
-
n-Hexan
-
n-Butanol
-
Isopopanol
- Aceton
-
Ether ethylic
-
Dichloroethan
-
Bari clorua
-
Acid clohydric
-
Acid photphotungstic
- Khí Nitơ
-
Than hoạt tính
-
Nihydrin (Merck).
-
Acid tricloraxetic
-
Silicagel 60 (kích thớc hạt 0,063 - 0,200 mm) của Merck
-
Catridge BOND
II
ODS-C18 loại 200 mg hãng ACCU;
- Kít hoá chất và dung môi chạy máy chuyên dùng cho thiết bị
REMIDi HS do hãng Biorad (Mỹ) cung cấp.
Các hoá chất sử dụng trong quá trình nghiên cứu và phân tích asen đều là
loại hoá chất tinh khiết không lẫn asen gồm:
- Acid sulfuric đặc
-
Acid clohydric đặc
-
Acid nitric đặc.
-
24
-
Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AA6501S
Bộ phận tạo hydrua HVG-1.
Đèn catot rỗng.
-
Lò vi sóng ETHOSD Microwave Labstation Milestone.
-
Máy ly tâm Rotofix 32, ALC 4232 Cetrifuge.
-
Máy ly tâm phù hợp với các cột 16
ì
125mm, với lực ly tâm tối đa
10000 vòng/phút
-
Hệ thống cất chân không
-
Hệ thống cô bằng khí nitơ
-
Máy lắc ống nghiệm Minishaker M1 IKAR
-
Thiết bị ổn nhiệt.
-
Hệ thống cất và vi cất;
-
Máy đo pH
-
Cân kỹ thuật điện tử có độ chính xác đến 0,01g
-
Chén nung teflon dung tích 100 ml có nắp đậy.
-
Bình Kieldal dung tích 100, 200 ml.