BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP BỘ NĂM 2011
Tên đề tài: "Nghiên cứu xây dựng lộ trình nâng cao năng suất và
chất lượng sản phẩm, hàng hóa công nghiệp chủ lực” BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI/DỰ ÁN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP BỘ NĂM 2011
Tên đề tài:
"Nghiên cứu xây dựng lộ trình nâng cao năng suất và chất lượng sản
phẩm, hàng hóa công nghiệp chủ lực” (Ký hiệu: 224.11.RD/HĐ-KHCN)
I. Sự cần thiết và xuất xứ đế tài
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, mỗi một quốc gia
đều áp dụng mọi cách thức nhằm tăng năng suất và chất lượng các sản phẩm hàng
hoá mà mình tạo ra nhằm chiếm lĩnh được thị trường trong nước và xuất sản phẩm,
hàng hoá ra thị trường nước ngoài, tăng cường n
ăng lực cạnh tranh của quốc gia.
Nhận thức rất sớm tầm quan trọng của vấn đề này, các nước trong khu vực
châu Á như Nhật Bản, Xingapo, Ấn Độ đã hình thành và phát triển Phong trào
năng suất và chất lượng từ hàng chục năm nay (Nhật Bản từ năm 1955, Xingapore
từ năm 1981).
Năng suất là yếu tố then chốt cho sự phát triển của một quốc gia, là yếu tố
quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp. Chất lượng cuộc sống, tiêu chuẩn mức
sống được xác định bởi năng suất của nền kinh tế. Trên thế giới, các nước phát
triển cũng như đang phát triển đều có những nỗ lực để cải tiến và tăng trưởng năng
suất một cách ổn định.
Trong giai đoạn hội nh
ập kinh tế quốc tế, cùng tồn tại trong cạnh tranh, chất
lượng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ sẽ giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Điều này
đòi hỏi hoạt động năng suất và chất lượng phải có những nhận thức mới, điều này
là đặc biệt có ý nghĩa đối với Việt Nam, một quốc gia đang có những bước phát
triển ổn định, hoà dần vào quá trình h
ội nhập hoá với kinh tế khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy năng suất lao động của Việt Nam còn quá thấp
so với năng suất lao động của các nước khác, xấp xỉ bằng năng suất lao động của
Ấn Độ và đứng cuối cùng trong số 20 nước được chọn để so sánh. Nếu so với
năng suất lao động của Mỹ thì năng suất lao động của Vi
ệt Nam chỉ mới bằng
1,6%.
Nếu tách riêng 6 nước trong khối ASEAN gồm: Singapo, Malaixia, Thái
Lan, Phảilippin, Indonexia và Việt Nam thì Singapo dẫn đầu và Việt Nam ở vị trí
thuộc lĩnh vực công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn trên cơ sở áp dụng các
giải pháp nâng cao năng suất và chất l
ượng phù hợp với đặc thù của ngành, doanh
nghiệp; đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất để nâng
cao chất lượng, hàm lượng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị gia tăng, giá trị
nội địa trong sản phẩm công nghiệp.
Nhằm cung cấp các căn cứ khoa học cho việc xây dựng Dự án nêu trên,
Viện Nghiên cứu Cơ khí đăng ký đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dự
ng lộ trình
nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa công nghiệp chủ lực” thực
hiện trong kế hoạch năm 2011.
II. Mục tiêu, nội dung và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu những cơ sở khoa học và điều tra số
liệu thực tế để hình thành lộ trình và đề xuất giải pháp nâng cao năng suất và chấ
t
lượng và khả năng cạnh tranh sản phẩm chủ lực ngành công thương.
2. Nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Thu thập tài liệu, số liệu trong nước và ngoài nước có liên quan;
- Điều tra khảo sát và phỏng vấn đại diện một số đơn vị, kết hợp phương
pháp phân tích đánh giá chuyên gia, có sử dụng một số tư liệu số liệu còn tính thời
sự;
- Đánh giá hiệ
n trạng năng suất và chất lượng đại diện một số sản phẩm
công nghiệp chủ lực, như Cơ khí chế tạo thiết bị đồng bộ (nhiệt điện, thuỷ điện, xi
măng), ô tô, ngành máy nông nghiệp và Cơ điện tử;
- Đề xuất lộ trình nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa
công nghiệp chủ lực trên cho đến năm 2020.
Do phạm vi về thời gian và kinh phí của đề tài cấp Bộ, do vậy chỉ giới hạn
điều tra khảo sát đánh giá hiện trạng năng suất và chất lượng đại diện một số mặt
9. Tổng Công ty Điện lực Việt Nam.
10. Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Vinashin.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM HÀNG HOÁ
I. Cơ sở lý luận về chất lượng và năng suất
1. Cơ sở lý luận về chất lượng
a) Khái niệm chất lượng
Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ những
thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Tùy
theo đối t
ượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau. Người sản xuất coi
chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng
đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng
của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do con người và nền văn
hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và
đảm bảo chất
lượng cũng khác nhau. Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá
trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống
nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi. Tổ chức Quốc tế về Tiệu chuẩn hóa ISO,
trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau:
Chất lượng là khả năng của t
ập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ
thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên
quan".
ở đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt
buộc theo tập quán.
Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất
b) Quản lý chất lượng
Chất lượng không tự sinh ra; chất lượng không phải là một kết quả ngẫu
nhiên, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với
nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đ
úng đắn
các yếu tố này. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý
chất lượng. Phải có hiểu biết và kinh nghiệm đúng đắn về quản lý chất lượng mới
giải quyết tốt bài toán chất lượng.
Quản lý chất lượng đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không
chỉ trong sản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình công ty, qui mô lớ
n
đến qui mô nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không. Quản lý
chất lượng đảm bảo cho công ty làm đúng những việc phải làm và những việc
quan trọng. Nếu các công ty muốn cạnh tranh trên thị trường quốc tế, phải tìm hiểu
và áp dụng các khái niệm về quản lý chất lượng có hiệu quả.
Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm
soát một tổ
chức về chất lượng
Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng thường bao gồm lập chính
sách, mục tiêu, hoạch định, kiểm soát, đảm bảo và cải tiến chất lượng.
c) Kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC) là các hoạt động và kỹ thuật
mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng.
Để ki
ểm soát chất lượng, công ty phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng. Việc kiểm soát này nhằm ngăn
ngừa sản xuất ra sản phẩm khuyết tật. Nói chung, kiểm soát chất lượng là kiểm
soát các yếu tố sau đây:
- Con người;
- Phương pháp và quá trình;
ản xuất, dịch vụ đồng thời thỏa mãn nhu cầu khách
hàng.
e) Quản lý Chất lượng Toàn diện
Trong những năm gần đây, sự ra đời của nhiều kỹ thuật quản lý mới, góp
phần nâng cao hoạt động quản lý chất lượng, như hệ thống "vừa đúng lúc" (Just-
in-time), đã là cơ sở cho lý thuyết Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality
Management - TQM). Quản lý chất lượng toàn diện
được nảy sinh từ các nước
phương Tây với lên tuổi của Deming, Juran, Crosby. TQM được định nghĩa là một
phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự
tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự
thảo mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và của xã hội.
Mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và th
ỏa mãn khách hàng ở mức
tốt nhất cho phép. Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp quản lý
chất lượng trước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý
và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của
mọi bộ phận và mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra.
Các đặc đi
ểm chung của TQM trong quá trình triển khai thực tế hiện nay tại
các công ty có thể được tóm tắt như sau:
- Chất lượng định hướng bởi khách hàng.
- Vai trò lãnh đạo trong công ty.
- Cải tiến chất lượng liên tục.
- Tính nhất thể, hệ thống.
- Sự tham gia của mọi cấp, mọi bộ phận, nhân viện.
- Sử dụng các phương pháp tư duy khoa học như kỹ thuật thống kê, vừa
đúng lúc,
7
Khái niệm năng suất hoàn toàn khác biệt với sản lượng. Thuậ
t ngữ sản
lượng (hay giá trị sản xuất) chỉ ra khối lượng hàng hoá được sản xuất, đó là phạm
vi của đầu ra. Sản lượng có thể được thể hiện bằng số lượng, giá trị hoặc bằng tiền
hay bất kỳ hình thức nào khác. Năng suất luôn xem xét giá trị sản xuất trong mối
quan hệ với việc sử dụng các nguồn lực lao động, nguyên v
ật liệu, không gian
hoặc bằng tiền được sử dụng để đạt được các giá trị sản xuất đó.
Trong giai đoạn đầu, người ta nhấn mạnh đến các yếu tố đầu vào và đặc
biệt là lao động được sử dụng để sản xuất một khối lượng hàng hoá nhất định ở
phân xưởng. Năng suất thời kỳ này được hiểu là năng suấ
t lao động, các nhà quản
lý tập trung vào việc phân công lao động, xác định và tiêu chuẩn hoá phương pháp
làm việc tốt nhất nhằm cải tiến năng suất. Khái niệm năng suất lao động đã chỉ ra
mối quan hệ giữa đầu ra đạt được và lao động đầu vào những không có nghĩa năng
suất chỉ phụ thuộc vào yếu tố lao động mà còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác
như công nghệ
, phương pháp làm việc, hệ thống quản lý v.v…
b) Năng suất theo cách tiếp cận mới
8
Với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, công
nghệ, đặc biệt là xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, tự do hoá thương mại và sự
cạnh tranh gay gắt về chất lượng, chi phí và phân phối nên khái niệm năng suất đã
được nhìn nhận lại cho phù hợp với nhu cầu của cạnh tranh và phát triển.
Một dự án nghiên cứu về các khái niệm năng suất do các nước thành viên
Tổ chức N
ăng suất Châu Á - APO thực hiện năm 1995 đã nêu rõ bản chất của
năng suất theo cách riếp cận mới gofm các nguyên tắc sau:
u quả như
thế nào, chứ không chỉ riêng một nhập lượng. Ví dụ, nếu công nhân có rất ít vốn
hay có công nghệ rất thấp, họ có thể rất lành nghề và làm việc rất siêng năng
nhưng vẫn có năng suất lao động thấp. Để giải quyết vấn đề này, người ta đã đưa
ra một khái niệm mở rộng năng suất lao động sang vốn. (Đôi khi có thể thêm vào
những nhậ
p lượng khác, nhưng đây là hai nhập lượng quan trọng nhất.) Về căn
bản, khái niệm tổng năng suất yếu tố (TFP) là một cách đo lường năng suất của cả
vốn lẫn lao động cùng lúc trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế.
Để có được số đo chung cho cả hai nhập lượng, ta cần phải tính trọng số
cho chúng. Trọng số là tỉ lệ
đóng góp tương đối của mỗi nhập lượng vào sản xuất.
Một hàm số sản xuất thể hiện mối liên hệ giữa những mức gia tăng của các nhập
9
lượng khác nhau với một mức gia tăng và duy nhất của sản lượng. Ví dụ, hàm số
sản xuất Cobb-Douglas là một hàm cho thấy nếu tăng gấp đôi tất cả các nhập
lượng thì sẽ tăng sản lượng gấp đôi, và tăng gấp đôi một nhập lượng thì sẽ tăng
sản lượng, nhưng với một tỉ lệ giảm dần. Tức là nó có lợi tứ
c giảm dần. Phương
trình của hàm số đó là: Sản lượng = A Ka L(1-a). Ở đây, “A” là yếu tố thay đổi
công nghệ - A càng cao thì đạt sản lượng càng cao với cùng nhập lượng. K là dòng
chảy của các dịch vụ vốn từ lượng vốn, và L là số ngày làm việc của lao động. Số
mũ “a” là tỉ phần của vốn trong sản lượng, còn “1-a” là tỉ phần của lao động trong
sản lượng. Trong hàm số sả
n xuất này, “A” là một số đo tốt về tổng năng suất nhân
tố sản xuất (TFP). Đó là sản lượng trên mỗi đơn vị vốn và lao động được tính
trọng số.
Những loại hàm số sản xuất khác có các hệ số tương tự. Nếu ta quan tâm
đến tỉ lệ tăng trưởng sản lượng, chứ không phải mức sản lượng, giả sử ta có tình
thấy rằng tỉ lệ tăng trưởng dân số và lực lượng lao động chậm lại sau một thời
gian, và có giới hạn đối với lượng vốn có thể đầu tư mà không phải vay mượn
nhiều khi có hại. Việc tái phân bổ lao động cho những công việc có năng suất thấp
có thể tiếp diễn trong một thời gian, nhưng ngay cả điề
u ấy cũng kết thúc sau một
vài thập niên. Vì vậy, nếu một nền kinh tế biết cách khai thác được ngày càng
nhiều hơn từ mỗi chiếc máy hay mỗi công nhân tăng thêm thông qua công nghệ tốt
hơn hay những phương tiện khác, thì sản lượng và thu nhập sẽ cao hơn mà không
cần phải đầu tư nhiều hơn về vốn. Có thể đã có nhận định rằng vốn con người
10
cũng có lợi tức giảm dần, nhưng đối với một nước như Việt Nam, dường như có
một giai đoạn trong đó TFP có thể tăng 2-4% / năm với chính sách tốt và tiếp tục
mở rộng và cải tiến giáo dục, cùng với việc tiếp tục nâng cấp vốn.
Hầu hết các quốc gia châu Á tăng trưởng nhanh đều có tỉ lệ tăng trưởng
TFP ít nhất 2% /năm, và m
ột số ước tính cho thấy con số của Trung Quốc thậm chí
còn cao hơn 4%.
Ngoài Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan và Thái Lan dường như cũng đạt
kết quả khá tốt (ít nhất 2%/năm) trong khi Hàn Quốc (1,5%), Indonesia (khoảng
1%), và Phảilippines (tăng trưởng âm!) có kết quả kém hơn. Ở các nước giàu, TFP
thường tăng trưởng ở mức 1-2% / năm trong những giai đoạn dài. Tại Mỹ, TFP
tăng trưởng nhanh hơn mức đó (2,2%) trong thời gian từ
1948 đến 1973, tăng
trưởng chậm (gần 0%) trong thời gian 1973-89, và lại tăng trưởng nhanh hơn kể từ
1990. Các nước châu Mỹ La tinh có tỉ lệ tăng trưởng TFP rất khác biệt nhau, đôi
khi âm nhưng ít khi cao hơn 1,5% / năm kể từ 1960.
d) Đánh giá hiệu quả công việc với KPI
* Định nghĩa
KPI (Key Performance Indicator) là chỉ số đánh giá thực hiện công việc.
• Dễ hiểu
• Nó phải được cân nhắc không được chọi nhau
• Người dùng có thể đánh giá sự tiến bộ của mình theo thời gian
• KPI không có giá trị lâu dài, vì thế cần được xem xét lại và cập nhật lại
thường xuyên.
* Điều kiện của KPI
Riêng biệt, Đo lường được, Khả thi, Thích đáng, Có thời hạn.
e) Nhận diện các lãng phí trong quá trình sản xuất kinh doanh
* Tiết kiệm là hiệu quả
Ngày 30 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng kêu gọi toàn dân tiết kiệm giảm chi
tiêu, lãnh phí và đặc biệt yêu cầu các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản
chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông. Hưởng ứng lời kêu gọi tiết kiệm của Thủ
tướng chính phủ, các tổ chức/doanh nghiệp cần xây dựng được các chương trình
và hoạt động tiết kiệm gi
ảm lãng phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của
mình.
Một trong các câu hỏi đầu tiên mà các tổ chức cần đặt ra khi xây dựng thực
hiện chương trình tiết kiệm của mình là phải nhận dạng hoạt động nào trong chuỗi
các hoạt động sản xuất, kinh doanh có khả năng phát sinh lãnh phí để từ đó có thể
thực hiện chương trình được tiết kiệm
* Nhận dạng các lãng phí trong quá trình sản xuất, kinh doanh
Về c
ơ bản, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các tổ chức đều mong
muốn có thể thích nghi, đáp ứng nhanh nhất với yêu cầu của khách hàng mà vẫn
phát triển tốt, khả năng thanh toán cao, không phải tồn đọng vật tư, nguyên nhiên
liệu, và làm ra sản phẩm với chi phí ít nhất.
Khi đó, các tổ chức cần hướng tới mục tiêu:
- Làm, cung cấp đúng (chủng loại, chất lượng) sản phẩm theo yêu cầu của
khách hàng
9. Lãng phí phát sinh do thiết bị ngừng lặt vặt (Những hỏng hóc vặt, không
dẫn đến dừng hoàn toàn nhưng mất thời gian, công sức để sử
a lại, );
10. Lãng phí do phế phẩm phát sinh do nguyên nhân là thiết bị: thiết bị sản
xuất cài đặt sai thông số, chạy không ổn định, chập chờn;
11. Lãng phí phát sinh do nguyên vật liệu kém phẩm chất (làm lại sản
phẩm, chất lượng đầu ra không ổn định, phát sinh nhiều sản phẩm hỏng, );
12. Lãng phí do phần vứt đi từ nguyên vật liệu. Ví dụ: trong một số ngành
thì không thể tận dụng được 100% nguyên liệu đầ
u vào, phần thừa, bavia, ;
13. Lãng phí phát sinh do nói chuyện điện thoại: Tốn tiền tel, sao nhãng và
ảnh hưởng đến chất lượng công việc;
14. Lãng phí phát sinh do hội họp. Hiện nay nhiều vị trí thời gian đi hội họp
nhiều hơn thời gian để giải quyết công việc;
15. Lãng phí phát sinh do tìm kiếm hồ sơ, thông tin. Hồ sơ không được sắp
xếp khoa học dẫn đến mất nhiều thời gian, công sức để tìm kiếm;
16. Lãng phí phát sinh do ngưng trệ nghiệp vụ, thông tin. Thông tin không
được báo cáo, truyền đạt đầy đủ và chính xác tới các bộ phận liên quan;
17. Lãng phí phát sinh do phó mặc cho kết quả tự nhiên của thao tác và
nghiệp vụ (lỗi hay không cũng không quan tâm, );
18. Phí nhân công phát sinh do tăng thêm nhân sự trực tiếp do Lãng phí
thao tác;
19. Phí nhân công phát sinh do phải bố trí cố định nhân sự vì hay thiết bị
hay bị ngừng lặt vặt, hoặc thay thế bổ xung sản phẩm;
13
20. Phí nhân công phát sinh do chưa ứng dụng tự động hóa (khi đó phải sử
dụng nhân công dẫn đến tăng chi phí);
21. Lãng phí do khấu hao đầu tư thiết bị nhưng để nằm kho chưa được đưa
vào sản xuất;
tiêu cực của suy thoái kinh tế toàn cầu mang tính dây chuyền bắt đầu làn rộng và
tác
động đến mọi khu vực, ngành nghề của nền kinh tế. Với các nhà quản lý thì
đây đúng là một trong những bước đi đầu tiên để làm cho
doanh nghiệp có thể thích ứng với điều kiện giảm rõ rệt về
số lượng đơn hàng và doanh số bán hàng, trước khi hướng
đến các giải pháp mang tính dài hơn nhằm sẵn sàng đón
đầu cơ hội mới một khi nền kinh tế có dấu hiệu phụ
c hồi.
Trong khi rất nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhóm giải pháp
truyền thống như “sa thải nhân viên”, “nghỉ việc tự
nguyện”, “tái cơ cấu nhóm khách hàng”, “cắt giảm danh
14
mục sản phẩm”, “giảm tỷ lệ người nước ngoài trong đội ngũ quản lý”, “tìm các
nguồn cung thay thế giá rẻ”, thậm chi là những giải pháp gây ngạc nhiên như “sa
thải nhân viên và tuyển dụng lại với mức lương thấp hơn”, “cắt giảm tiêu chuẩn
sản phẩm/dịch vụ”, thì một khu vực “tổn thất” được đánh giá là có tiềm năng cao
cho cắt giảm chi phí và tinh gọn sản xuất kinh doanh l
ại chưa được quan tâm thích
đáng. Khu vực đó chính là “Quản lý chi phí chất lượng”.
Vậy “chi phí chất lượng” là gì và nó nằm ở đâu trong hoạt động của một
doanh nghiệp. Chi phí này có vai trò và tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh, tuân thủ theo nguyên tắc nào và cần được quản lý ra sao
trong hệ thống quản trị của tổ chức.
Hằng tháng, các nhà quản lý nhận được các báo cáo từ các b
ộ phận với các
nội dung – thậm chí đã trở nên quen thuộc – như “thanh lý tồn kho A tấn nguyên
liệu B”, “đổi cho khách hàng X sản phẩm Y”, “máy C dừng D giờ do sự cố”,
“tuyển bổ sung E nhân viên thay thế cho các nhân viên thử việc không đạt yêu
· Chi phí giải quyết khiếu nại,
· Chi phí sửa chữa, làm lại,
· Phế phẩm,
15
· Chi phí gắn với tồn kho quá nhiều,
· Chi phí gắn với ngừng sản xuất do sự cố thiết bị,
· Chi phí phạt hợp đồng,
· v.v…
Chi phí thuộc nhóm POM gắn với các hoạt động phòng ngừa và kiểm tra đánh giá,
bao gồm các thành phần như:
·
Chi phí cho các hoạt động phòng ngừa,
· Chi phí đào tạo, học tập,
· Chi phí cho kiểm tra đánh giá,
· Chi phí xem xét,
· Chi phí thử nghiệm,
· Chi phí phát triển thủ tục, tiêu chuẩn,
· v.v…
Theo một báo cáo của Boise State University (Mỹ), thì chi phí PONM
thường chiếm đến 80% trong tổng chi phí chất lượng, trong khi chi phí POM chỉ
ạnh tranh bền vững
trong tương lai để doanh nghiệp có thể phát triển vượt bậc trong khi nền kinh tế đi
vào phục hồi.
II. Một số bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước về xây dựng phong trào
năng suất, chất lượng
1. Phong trào năng suất và năng lực cạnh tranh - Kinh nghiệm của Singapore
* Những năm mới bắt đầu
Singapore có bước phát triển lớn về kinh tế kể từ khi giành đượ
c độc lập. Ở
giai đoạn 1965 - 2004, mức độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm đạt 7%.
Trong giai đoạn này, GDP trên đầu người đã tăng hơn 50 lần và hiện tại đang ở
mức khoảng 28.000 USD. Đạt được thành tựu kinh tế to lớn này là nhờ Singapore
đã quản lý rất tốt nguồn lực về con người (nhân lực) và Phong trào năng suất, tạo
động lực cho việc liên tục cả
i tiến và nâng cao kỹ năng làm việc.
Trong những năm mới giành được độc lập, do khan hiếm về tài nguyên,
Singapore phải phụ thuộc rất nhiều vào việc nâng cao năng suất để phát triển kinh
tế. Chiến lược này sau đó đã được đưa vào chương trình công nghiệp hóa với mục
đích là giảm tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức cao. Trong năm 1965, “hạt giống” đầu
tiên về Phong trào năng su
ất đã được “gieo trồng” với việc ký kết Bản Hiến
chương về sự phát triển công nghiệp giữa ủy ban Công đoàn Quốc gia và Liên
đoàn giới chủ Singapore. Bản Hiến chương này bao gồm các nguyên tắc về thực
hành năng suất và thành lập Trung tâm Năng suất Quốc gia để thúc đẩy năng suất
tại Singapore.
Với việc thành lập Trung tâm Năng suất Quốc gia và sự phát triển nhanh
chóng của n
ền kinh tế và quá trình công nghiệp hóa. Vào năm 1972, Trung tâm
Năng suất đã được chuyển thành Cơ quan Năng suất Quốc gia (NPB) và được giao
dụ như làm việc theo tổ, đội và ý thức làm việc tích cực. Qua thời gian, các chiến
dịch này nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ các cấp cao nhất của chính phủ, giới chủ
và công đoàn.
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn hành động, hành động là biến đổi t
ừ nhận
thức thành những chương trình cụ thể để cải tiến năng suất tại nơi làm việc. Để
giúp các công ty thực hiện các hành động cải tiến năng suất. NPB đã quảng bá cho
việc sử dụng tư vấn quản lý. Hướng dẫn các công ty sử dụng các chuyên gia tư vấn
tư cũng như khuyến khích sự phát triển của các công ty tư vấn nhỏ thông qua Hội
t
ư vấn hành nghề. NPB cũng trực tiếp hỗ trợ các công ty cải tiến năng suất. Các
công ty này sau đó được sử dụng như một mô hình điểm để các công ty khác dùng
làm chuẩn. Bên cạnh việc tư vấn, các khóa đào tạo tại chỗ cũng đã được tổ chức
nhằm trang bị cho lực lượng lao động các kỹ năng nâng cao năng suất. NPB cùng
với các công ty danh tiếng của Singapore như Singapore Airlines, Phả
ilips và
Seiko phát triển các chương trình đào tạo quốc gia trong các lĩnh vực cụ thể cho
người quản lý và người lao động.
Năm 1989, các công ty và các cá nhân đã tham dự tích cực vào phong trào
năng suất. Do vậy, duy trì được vấn đề này là trọng tâm của giai đoạn làm chủ. Để
duy trì được sự tự bền vững của phong trào năng suất thì cần thiết phải tạo ra được
ý thức về năng suất và coi đó là m
ột phần của ý thức công việc. NPB đã thành lập
Hội các nhà hoạt động năng suất. Thông qua Hội, các nhà hoạt động năng suất đã
được mời tham gia phong trào năng suất để hướng dẫn, tổ chức và gây ảnh hưởng
đến các thành viên khác trong lực lượng lao động. Khía cạnh khác của giai đoạn
làm chủ đó là lĩnh vực tư nhân giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức các chiến
d
ịch năng suất. Nâng cao mối quan hệ đối tác với lĩnh vực tư nhân đã giúp cho quá
trình triển khai các hoạt động, giải pháp mới vào các ngành và lực lượng lao động.
10. Tập trung vào khía cạnh con người trong giai đoạn đầu đã tạo ra nền
tảng vững chắc cho các cải tiến trong tương lai. Chỉ số rõ ràng nhất đó là nhận
thức của xã hội về năng suất, 90% lực lượng lao động hiểu về năng suất so với
40% trước đó. Ngày càng nhiều công nhân tham gia Nhóm kiểm soát chất lượng
và đ
ã tiết kiệm được khoảng 80 triệu Đô la Sing cho công ty của mình. Chi phí cho
đào tạo tăng lên 3.6% của tổng chi trả so với 1.8% trước đó. Quan trọng hơn, GDP
trên đầu người tăng từ S$11,000 (năm 1981) lên tới S$37,600 (2003). Tiêu chuẩn
sống được tăng lên, 92% dân số có nhà ở riêng và tuổi thọ trung bình là 77.
* Các yếu tố thành công chính
Qua các năm, phong trào năng suất đã nhận được sự hỗ trợ lớn từ các tổ
chức như
Dịch vụ công, Bộ Quốc phòng và ủy ban Công đoàn quốc gia. Mỗi tổ
chức này đều có các ủy ban Chỉ đạo Năng suất, ủy ban này điều phối và tổ chức
các hoạt động thường xuyên để duy trì các hoạt động cải tiến năng suất cho lực
lượng lao động của mình. Giới chủ cũng giữ vai trò quan trọng, đóng góp các
nguồn lực và quản lý các chương trình năng suất ngành và qu
ốc gia. Hội đồng
Năng suất Quốc gia giữ vai trò chủ đạo trong việc đưa ra các chiến lược và điều
phối hoạt động của các bên liên quan trong phong trào. Cơ chế hoạt động bao gồm
3 bên: chính phủ, giới chủ và công đoàn cũng đã góp phần vào sự thành công.
Yếu tố quan trọng khác đó là sự chấp nhận theo chiến lược mô hình tốt
nhất. Khi mới khởi đầu, Phong trào đã rút ra đượ
c những bài học từ những mô
hình khác và ứng dụng các mô hình đó vào thực tế của mình. Phong trào năng suất
Nhật bản là một mô hình đáng được học hỏi. Thông qua 20 triệu USD hỗ trợ từ
Chính phủ Nhật cho Dự án phát triển Năng suất, các chuyên gia Nhật bản đã được
cử sang để trợ giúp phát triển chương trình năng suất tại Singapore và Singapore
cũng đã cử người tham dự các các khóa đào tạ
o tại Nhật bản. Tổ chức Năng suất
cũng cần không ngừng nâng cao năng suất và tính cạnh tranh để tạo thêm giá trị
trong sản xuất, duy trì hoặc tăng cơ hộ
i việc làm cho người lao động và gia tăng thị
phần xuất khẩu cũng như thị phần nội địa.
Để đáp ứng những đòi hỏi bức xúc này, các doanh nghiệp Việt Nam đang
ngày càng nhận thức rõ được nhu cầu cần phải cải tiến chất lượng sản phẩm và
năng suất doanh nghiệp. Con số các doanh nghiệp áp dụng các chứng chỉ hệ thống
quản lý theo tiêu chuẩn ch
ất lượng và môi trường như ISO 9000/ ISO 14000 và
các tiêu chuẩn khác như HACCP, GMP, SA 8000, OHSAS 18000 đang ngày
càng tăng lên.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp cũng không ngừng cải tiến hệ thống quản
lý bằng cách áp dụng các công cụ và hệ thống hỗ trợ như: quản lý quan hệ khách
hàng (CRM); quản lý tri thức doanh nghiệp (KM); triển khai hệ thống trực tuyến
(ISO-Online)… nhằm gia tăng giá trị và tăng cường khả năng cạnh tranh cho
doanh nghiệp.
Nhi
ều thương hiệu Việt Nam đã xây dựng được uy tín trong thị trường
trong nước và khu vực - đó là những dấu hiệu tích cực. Tuy nhiên, để duy trì và
phát triển được vị thế của mình, doanh nghiệp Việt Nam cần có sự thay đổi linh
hoạt về tư duy kinh doanh theo hướng chủ động, luôn luôn bám sát nhu cầu của thị
trường, nghiên cứu và phát triển ra các sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường trong
nước cũng nh
ư đẩy mạnh xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc tiếp cận Hệ thống quản lý
20
chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 đã và đang được các cơ quan hành
chính nhà nước quan tâm.
* Chặng đường năng suất, chất lượng tại Việt Nam những năm qua
1995:
• “Hội nghị Bàn tròn về Năng suất” được tổ chức tại Việt Nam vào tháng
10/1996 với sự hiện diện của Tổng Thư ký APO và Giám đốc Tổ chức
Năng suất Quốc gia của các nước thành viên APO;
• “Diễn đàn ISO 9000” lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 7/1996 tại Hà
Nội. Diễn đàn đã vinh dự được đón Ông E. Mollmann, Chủ tịch Tổ chức
Tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) đến tham dự và thuyết trình;
• Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Năng suất Châu Á
(APO) từ ngày 1/1/1996.
1997:
• Mạng lưới Thành viên Diễn đàn Năng suất Chất lượng chính thức đi vào
hoạt động;
21
• “Diễn đàn ISO 9000” lần thứ II tổ chức tại Hà Nội thu hút 120 đại biểu
tham dự;
• Trung tâm Năng suất Việt Nam chính thức thành lập theo Quyết định của
Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường thực hiện vai trò là hạt
nhân của phong trào Năng suất quốc gia và được ủy quyền là đại diện
thường trực của Việt Nam tại Tổ chức Năng suất Châu Á - APO.
1998:
• “Hội nghị Nhóm Chất lượng - QCC” được tổ chức vào 12/1998
• “Diễn đàn ISO 9000” lần thứ III được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh
• Dự án “Năng suất xanh và Phát triển Cộng đồng” do APO tài trợ chính thức
được triển khai tại Việt Nam vào tháng 7/1998;
1999:
• “Diễn đàn ISO 9000” lần thứ IV đổi tên thành “Diễn đàn Năng suất Chất
lượng”, được tổ chức tại thành phố Đà Nẵng cùng với Hội nghị APEC về
các Hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn. Bản tin Năng suất Chất lượng cũng
được đổi tên thành bản tin Diễn đàn Năng suất Chất lượng;
• Trung tâm Năng suất Việt Nam nhận chứng chỉ ISO 9002 và vinh dự được
diễn ra cuộc đua tài của 21 nhóm Năng suất xanh và hàng trăm đại biểu
tham dự;
• Trung tâm Năng suất Việt nam trao học bổng Năng suất đầu tiên cho 4 sinh
viên có thành tích xuất sắc trong học tập;
• Diễn đàn Năng suất Chất lượng lần thứ 8 được tổ chức tại Đà Nẵng.
2004:
• Hội nghị Cán bộ Quản lý Chất lượng lần đầu tiên được tổ chức. Nhân dịp
này, Giải thưởng “Tài năng Chất lượng” cũng đã được trao tặng nhằm tôn
vinh vai trò và đóng góp của các cán bộ làm công tác chất lượng tại doanh
nghiệp;
• Trang Web cung cấp thông tin trự tuyến về Năng suất xanh và Hệ thống
quản lý môi trường ISO14000: />,
www.vpc.org.vn/iso14000
được giới thiệu và đi vào hoạt động;
• Diễn đàn Năng suất Chất lượng lần thứ 9 được tổ chức tại Hà Nội.
2005:
• Tổng kết Thập niên Chất lượng lần thứ nhất 1995 – 2005 và Phát động
Thập niên Chất lượng lần thứ hai được tổ chức tại Hội nghị Chất lượng Việt
Nam lần thứ sáu. Diễn đàn Năng suất Chất lượng lần thứ 10 cũng được tổ
chức nhân dịp này;
• Tổng Thư ký APO sang thăm và làm việc tại Việt Nam.
2006:
• Diễn đàn Năng suất Chất lượng lần thứ 11 được tổ chức thành công tại Tp
Hồ Chí Minh từ ngày 5-6/05/2006.
• Hội nghị Cán bộ quản lý chất lượng lần thứ hai được tổ chức tại Hà Nội;
2007:
• Lần đầu tiên công bố Báo cáo nghiên cứu các chỉ tiêu năng suất tại Việt
Nam giai đoạn 1996-2005;
• Diễn đàn Năng suất Chất lượng lần thứ 12 được long trọng tổ chức cùng
với “Cuộc họp các nhà Lãnh đạo Cơ quan Năng suất quốc gia” tại Hà Nội
• Ngày 21 tháng 5 năm 2010 đánh dấu bước phát triển mới của Phong trào
năng suất chất lượng tại Việt Nam khi Thủ tướng Chính phủ chính thức phê
duyệt Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm,
hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020” tại Quyết định số
712/QĐ-TTg.
III. Sơ lược về năng suất, chất lượng sản xuất tại Việt Nam
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện
nay, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải chú trọng phát triển chiều sâu,
nâng cao năng suất, chất lượng, trong đó đặc biệt là năng suất lao động (NSLĐ).
1. Thực trạng năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay g
ắt hiện
nay, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải chú trọng phát triển chiều sâu,
nâng cao năng suất, chất lượng, trong đó đặc biệt là năng suất lao động (NSLĐ).
Theo số liệu đăng kí kinh doanh, đến năm 2007, có khoảng 250.000 doanh
nghiệp trong cả nước. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra tổng thể doanh nghiệp hàng
năm của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2003 - 2006, thì hiện chỉ có 113.352 doanh