Nghiên cứu khoa học " NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG CÓ NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CAO CHO MỘT SỐ LOÀI CÂY TRỒNG RỪNG CHỦ YẾU GIAI ĐOẠN 2001-2005 " - Pdf 14


NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG CÓ NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CAO CHO MỘT SỐ LOÀI
CÂY TRỒNG RỪNG CHỦ YẾU
GIAI ĐOẠN 2001-2005

Hà Huy Thịnh, Lê Đình Khả, Nguyễn Đức Kiên, Phí Hồng Hải
Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng
Đoàn Thị Mai, Trần Hồ Quang
Trung tâm Công nghệ Sinh học Lâm nghiệp
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Các khảo nghiệm loài/xuất xứ tương đối đồng bộ và có hệ thống nhằm xác định các loài/xuất xứ có triển
vọng cho trồng rừng tại Việt Nam được thực hiện từ năm đầu thập kỉ 80 của thế kỉ trước. Từ đó đến nay,
nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm cải thiện chất lượng di truyền của các vật liệu trồng rừng ở mức
độ và cường độ cao hơn thông qua việc chọn lọc các gia đình, các cây trội và đặc biệt là các dòng vô tính.
Để phục cho mục tiêu lâu dài, một số quần thể chọn giống có nền tảng di truyền tương đối rộng và đa dạng
cũng đã được thiết lập cho một số loài bạch đàn và keo.
Là sự tiếp nối các định hướng chiến lược cải thiện giống đã được hoạch định từ trước cho từng loài và
đang trong quá trình triển khai, các nội dung nghiên cứu của đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống có năng
suất và chất lượng cao cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu” giai đoạn 2001-2005 là sự kế thừa các kết
quả đã đạt được của các đề tài cấp Nhà nước trong các giai đoạn trước với những mục tiêu mới:
1. Xác định được một số giống thích hợp cho một số vùng sinh thái chính.
2. Chọn tạo được một số giống mới có năng suất và/hoặc chất lượng cao hơn các giống đang
dùng trong sản xuất 20-30%
3. Xây dựng vườn tập hợp tập đoàn giống công tác có tính đa dạng di truyền cao nhằm phục
vụ các chương trình chọn tạo giống lâu dài.
4. Hoàn thiện công nghệ nhân nhanh các giống mới chọn tạo và chuyển giao giống gốc cho
một số cơ sở sản xuất cây giống trong cả nước.
5. Xây dựng một số rừng giống, vườn giống có chất lượng di truyền được cải thiện cho các
loài cây nghiên cứu .

keo bao gồm:
 Keo lá tràm (A. auriculiformis)
- Kết quả đánh giá các khảo nghiệm dòng vô tính xây dựng trong giai đoạn 1996-2000 đã xác
định được 5 dòng vô tính có sinh trưởng nhanh và chất lượng thân cây tốt với kí hiệu là: BVlt
25; BVlt 83; BVlt 84 và BVlt 85. Các dòng này đã được hội đồng khoa học chuyên ngành của
Bộ NN&PTNT công nhận là giống tiến bộ kĩ thuật để mở rộng và phát triển vào sản xuất.
- Kết quả đánh giá các khảo nghiệm dòng vô tính xây dựng giai đoạn 2001-2002 đã chọn được
một số giống mới rất có triển vọng. Cụ thể là:
o Dòng số 7 và 26 cho cả 3 vùng.
o Dòng số 62 cho tại Ba Vì và Đồng Hới;
o Các dòng 57, 159, 92 và 98 cho Ba Vì;
o Các dòng 13, 86, 49, 10, 81, 199 và 62 cho Đồng Hới;
o Các dòng 43,1e, 58, 57, 13, 147 và 85 cho Bầu Bàng.
- Tỷ trọng gỗ của Keo lá tràm biến động trong khoảng từ 0,51-0,66kg/m
3
; Trung bình là
0,58kg/m
3
. Tỷ trọng gỗ có tương quan âm với sinh trưởng đường kính (r = - 0,75). Do đó,
phương pháp hữu hiệu nhất để cải thiện giống Keo lá tràm theo cả hai tính trạng là phải bằng
phương pháp chọn lọc theo chỉ số dựa trên giá trị kinh tế tương đối của từng tính trạng để xác
định ngưỡng chọn lọc tối ưu.
- Tiến hành xác định hệ số di truyền theo nghĩa hẹp cho các tính trạng nghiên cứu đã cho thấy
hệ số di truyền của tỷ trọng gỗ là tương đối cao (h
2
= 0,42), tiếp đến là sinh trưởng thể tích (h
2
=
0,36). Do cả tỷ trọng gỗ và sinh trưởng đều có qui mô biến dị khá lớn và hệ số di truyền tương
đối cao, việc cải thiện giống theo hai tính trạng sẽ tạo ra tăng thu di truyền thoả đáng ở các thế

- Kết quả đánh giá sinh trưởng của các vườn giống tại Quảng Trị, Huế và Bình Thuận cho thấy
có sự tương tác di truyền – hoàn cảnh rất lớn. Do đó cần xây dựng các vườn giống trên các lập
địa khác nhau nhằm đạt được tăng thu di truyền cao nhất.
 Keo lai tự nhiên.
- Từ kết quả khảo nghiệm tại các tỉnh Hà Nội, Nghệ An và Bình Dương, đã chọn được 7 dòng
Keo lai và đã được Hội đồng Khoa học chuyên ngành của Bộ NN&PTNT công nhận là giống
mới. Cụ thể là:
o Dòng BV 33 được công nhận là giống quốc gia cho trồng rừng ở khu vực
miền Bắc và miền Trung
o Dòng BV71, BV75 là giống tiến bộ kỹ thuật cho lập địa miền Bắc
o Dòng BV73 là giống tiến bộ kỹ thuật cho lập địa miền Trung

o Dòng TB1, TB7 và TB11 cho lập địa miền Đông Nam Bộ
2. Nghiên cứu cải thiện giống cho các loài bạch đàn.
Trong giai đoạn 2001 - 2005, các nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào các đối tượng Bạch đàn
uro (E. urophylla), Bạch đàn trắng caman (E. camaldulensis), Bạch đàn trắng tere (E. tereticornis) và Bạch
đàn pellita (E. pellita). Các nội dung nghiên cứu tạp trung vào xác định các thông số di truyền cho các tính
trạng như sinh trưởng, chất lượng thân cây, tỷ trọng gỗ, hàm lượng cellulose. Chọn lọc cây trội trong các
vườn giống và xây dựng các khảo nghiệm dòng vô tính của các loài bạch đàn nhằm xác định các dòng có
sinh trưởng tốt trên các vùng sinh thái. Bước đầu thiết lập quần thể chọn giống hạt nhân (nucleus breeding
population) cho các đối tương nghiên cứu thông qua việc chọn lọc cây trội tổng hợp theo nhiều chỉ tiêu và
tương tác kiểu gene - hoàn cảnh thông qua việc đánh giá trên nhiều dạng lập địa để phục vụ cho các
chương trình cải thiện giống ở cường độ cao trong tương lai. Các kết quả nghiên cứu chính đạt được đối
với nhóm loài cây này bao gồm:
 Bạch đàn urô:
- Kết quả tính toán hệ số di truyền cho các tính trạng cho thấy tỷ trọng gỗ có hệ số di truyền cao
hơn so với các chỉ tiêu về sinh trưởng. Độ lớn của hệ số di truyền có thể sắp xếp theo thứ tự từ
cao đến thấp như sau: tỷ trọng gỗ > thể tích > đường kính > chiều cao > độ dày vỏ > độ thẳng
thân và độ nhỏ cành.
- Kết quả tính hệ số tương quan di truyền giữa tỷ trọng gỗ và các chỉ tiêu sinh trưởng cho thấy

là Pleyku và Bầu Bàng. Hoạt động cải thiện giống cần phải tiến hành độc lập cho từng vùng.
- Tại thời điểm 3 tuổi, tỷ trọng gỗ của Bạch đàn pellita tại Bầu Bàng biến động trong khoảng từ
470 - 630kg/m
3
, trung bình là 540kg/m
3
và có sự sai khác rõ rệt giữa các gia đình. Hệ số di
truyền về tỷ trọng là tương đối cao (h
2
= 0,43).
- Đã chọn được 9 (trong tổng số 105 gia đình của vườn giống) vừa có sinh trưởng nhanh và có
tỷ trọng gỗ cao tại vườn giống Bầu Bàng là các gia đình với số hiệu: 20; 21; 54; 80; 85; 88; 92;
97 và 101.
 Bạch đàn camal
- Với tập đoàn dòng vô tính về cơ bản là giống nhau, nhưng sinh trưởng của các cây trong
khảo nghiệm tại Bình Thuận tốt hơn rất nhiều so với khảo nghiệm tại Quảng Bình. Trị số
trung bình về thể tích của các cây trong khảo nghiệm tại Bình Thuận 4 năm sau khi trồng là
83,6dm
3
/cây, gấp hơn 5 lần so với thể tích của cây trung bình tại Quảng Bình (14,5dm
3
/cây).
Điều đó chứng tỏ các lập địa đất đồi ở khu vực miền Trung là không thích hợp cho gây trồng
Bạch đàn trắng camal.
- Đều có nguồn gốc từ các cây trội chọn lọc trong vườn giống thế hệ 1 nhưng sinh trưởng của
các dòng vô tính tại Hàm Thuận Nam có sự phân hoá rất mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho chọn
lọc dòng vô tính. Trị số trung bình về thể tích của 20 dòng vô tính tốt nhất tại đây là
124,2dm
3
/cây (tương đương 34,1m

đoạn 2001-2005 của đề tài về các lĩnh vực này tập trung vào nhân giống sinh dưỡng bằng nuôi cấy mô và
giâm hom cho các giống có triển vọng và sử dụng các chỉ thị phân tử để đánh giá chất lượng của các vườn
giống và rừng giống Keo tai tượng. Các kết quả chính đạt được trong giai đoạn 2001-2005 về các nội dung
nghiên cứu và thực nghiệm này bao gồm:
 Nhân giống sinh dưỡng.
- Đã tiến hành các thí nghiệm giâm hom để xác định thời vụ, loại thuốc và nồng độ, giá thể và
phương thức giâm hom…cho Keo lá liềm, một loài cây mới được quan tâm trong những năm
gần đây và được xem là một trong những loài khó ra rễ. Kết quả cho thấy, IAA (với nồng độ 3%
ở dạng bột và 2000 ppm ở dạng nước) và NAA (với nồng độ 1% ở dạng bột và 1000 ppm dạng
nước) là có hiệu quả nhất để nhân giống hom đối với Keo lá liềm. Tỷ lệ ra rễ ở các công thức
này dao động trong khoảng từ 60 - 80%.
- Đã nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thành công cho 34/40 dòng Keo tai
tượng tứ bội. Môi trường ra rễ thích hợp là 1/2MS cải tiến có bổ sung 1,5mg/l IBA. Các dòng
này hiện đã được gây trồng với mục đích làm cây bố mẹ để tạo các giống lai tam bội bất thụ.
- Đã xác định được thời vụ lấy mẫu, phương thức khử trùng, ảnh hưởng về nồng độ của các
loại auxine và cytokinin cũng như sự tương tác giữa các chúng với nhau để xác định môi trường
nuôi cấy tối ưu cho nhân chồi và tạo nhiều chồi hữu hiệu, môi trường ra rễ cũng như phương
thức thích hợp để huấn luyện cây mô cho 5 giống mới được công nhận là giống TBKT của Keo
lá tràm. Môi trường thích hợp cho việc nhân chồi là MS cơ bản có bổ sung BAP (2mg/l) và GA
3

(0,5mg/l). Môi trường ra rễ thích hợp nhất là MS cơ bản có bổ sung IBA (2,0mg/l).
 Ứng dụng sinh học phân tử trong cải thiện giống cây rừng.
Sử dụng 6 cặp chỉ thị vi vệ tinh (microsatellite) có tính đa hình cao và đặc trưng cho loài Keo tai tượng là
Am 164; Am 041; Ame 018; Ame 173; Ame 387 và Ame 465 để đánh giá đa dạng di truyền và mức độ thụ
phấn chéo thông qua môi tương quan Cây Mẹ - Hậu thế của các cây trong 6 rừng giống và vườn giống khác
nhau của Keo tai tượng tại: (1) Hàm Yên-Tuyên Quang; (2) Phong Châu-Phú Thọ; (3) Ba Vì-Hà Nội; (4)
Đông Hà- Quảng Trị; (5) Bầu Bàng-Bình Dương và (6) Vườn giống FORTIP tại Ba Vì đã thấy:
- Quan hệ di truyền và khoảng cách di truyền giữa các nguồn giống: Sử dụng chương trình
phần mềm GDA (Genetic Data Analysis; Lewis & Zaykin, 1999) để xác định các thông số di

5. Đã chọn lọc, khảo nghiệm đánh giá và sơ bộ xác định được số giống mới rất có triển vọng
theo các mục tiêu sử dụng khác nhau như gỗ xẻ, nguyên liệu giấy, cây lấy nhựa của các loài Keo
lá tràm, Keo tai tượng, Bạch đàn uro, Bạch đàn trắng caman, Thông nhựa và đang khảo nghiệm
chứng minh để xin công nhận giống vào những năm tới.
Đã xác định được phương thức nhân giống thích hợp bằng công nghệ Mô-Hom cho các giống mới chọn tạo
và các giống có triển vọng và đang hoàn thiện kĩ thuật nhân nhanh hàng loạt các giống mới để chuyển giao
cho sản xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status