BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN NHÓM 4
Đề tài
Các trở ngại trong triển khai ứng dụng Chính phủ
điện tử ở Việt Nam
Lớp HP
: Chính phủ điện tử
Mã lớp HP
: 1556eCOM1311
GV hướng dẫn
: Hoàng Hải Hà
Hà Nội - 2015
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG
ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
Nguyễn Hoàng Sơn
9
Chương 3: Phần 3.3+3.4
Nguyễn Thị Phượng
10
Chương 3: Phần 3.5+3.6+3.7
Phùng Thị Quyên
Đánh giá
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2015
Nhóm trưởng
2
MỞ ĐẦU
Trong môi trường mà công nghệ thông tin phát triển vượt bậc và xu hướng
toàn cầu hóa là tất yếu đối với mỗi quốc gia thì việc triển khai ứng dụng
Chính phủ điện tử là vô cùng quan trọng. Chính phủ luôn đóng vai trò cực kỳ
Tiếp cận vật lý: liên quan đến phân bổ các thiết bị CNTT/con người, cá
-
nhân phải có máy tính và máy tính có thể kết nối internet.
Tiếp cận tài chính: chi phí mua sắm, đầu tư, sử dụng CNTT
Tiếp cận địa lí và những vấn đề về nhân khẩu học các khu vực cư trú
-
khách nhau, giới tính, lứa tuổi, học vấn tạo ra khoảng cách dân số.
Tiếp cận nhận thức: để sử dụng CNTT, người dùng cần có những kiến
thức cơ bản về CNTT. Thách thức hơn nữa là tình trạng quá tải thông
-
tin và khả năng tìm kiếm và sử dụng thông tin đáng tin cậy.
Tiếp cận thiết kế: máy tính cần phải được tiếp cận tới những người có
-
khả năng học tập và khả năng thể chất khác nhau.
Tiếp cận thể chế: số lượng người dùng bị ảnh hưởng rất nhiều bởi việc
truy cập chỉ được cung cấp tại gia đình, hay thông qua các trường học,
1.1.2.
trung tâm cộng đồng, các tổ chức tôn giáo, quán cà phê,…
Tiếp cận chính trị
-
rộng rãi và hiệu quả.
Tăng trưởng kinh tế: sự phát triển cuar ICT và việc sử dụng tích cực sẽ
là một phím tắt để tăng trưởng kinh tế cho các quốc gia kém phát triển.
Việc khai thác được công nghệ thông tin mới nhất ứng dụng cho các
1.1.3.
ngành công nghiệp sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia
Vai trò của chính phủ điện tử trong thu hẹp khoảng cách dân số
Thu hẹp và dẫn tới xóa bỏ khoảng cách dân số không phải chuyện một
sớm một chiều mà cần phải có sự nỗ lực hết sức của chính phủ trong một thời
gian rất dài. Đây là thách thức không chỉ ở hiện tại mà của cả tương lai, vì nếu
không xóa bỏ khoảng cách dân số thì không thể nào xay dựng được một
CPĐT hoàn chỉnh.
CPĐT có thể làm cho việc cung cấp các dịch vụ cơ bản của con người
trở nên khá khả thi, những dịch vụ quan trọng và được ưu tiên ở các nước
đang phát triển là cung cấp truy cập ICT cho các cộng đồng và khu vực không
được quan tâm, cũng tham gia vào tiến trình chính trị.
ICT là một công cụ đầy đủ sức mạnh trong việc nâng cao chất lượng và
tính hiệu quả của cá dịch vụ công như y tế , giáo dục đặc biệt là ở nơi khan
hiếm về nguồn lực và cách xa về mặt địa lý.
1.1.4. Giải pháp thu hẹp khoảng cách dân số
Giải pháp khoảng cách dân số đòi hỏi một số tiếp cận đa chiều, liên
quan đến:
-
Khái niệm dân chủ điện tử: Dân chủ điện tử là thuật ngữ được sử dụng
khi áp dụng ICT để tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình dân
chủ.
Khó để đưa ra một định nghĩa rõ ràng và toàn diện về dân chủ điện tử.
Thuật ngữ này bao gồm 2 thành phần “e” có nghĩa là thành phần trực tuyến và
“dân chủ” đề cập đến một học thuyết và hệ thống quản trị.
1.2.2.
-
Vai trò của chính phủ điện tử trong hỗ trợ dân chủ điện tử
Mở rộng tiếp cận tới các dịch vụ và thông tin công cộng: chính phủ có
trách nhiệm trong việc đảm bảo mọi người dân, cộng đồng, doanh
nghiệp và xã hội đều được cung cấp thông tin đầy đủ để họ có thể đưa
-
ra các quyết định chính xác và kịp thời trong cuộc sống của mình.
Tăng cường tham gia chính trị: ICT làm cho người dân trên toàn thế
giới có thể tham gia vào tiến trình chính trị có quyền phát biểu ý kiến
của mình, tham gia vào quá trính phát biểu chính trị và cuối cùng là gây
ảnh hưởng đến quá trình đưa ra các quyết định. ICT đã mở ra rất nhiều
kênh tham gia vào tiến trình chính trị có quyền phát biểu ý kiến của
mình, tham gia và quá trình phát triển chính trị và cuối cùng là gây ảnh
7
hưởng đến quá trình đưa ra cá quyết định. ICT đã mở ra rất nhiều kênh
-
các doanh nghiệp khi thu thập thông tin khách hàng. Tuy nhiên, trách nhiệm
của chính phủ là một nhà cung cấp dịch vụ độc quyền, công dân không thể từ
chối dịch vụ của chính phủ theo cách mà họ có thể từ chối các doanh nghiệp
các doanh nghiệp không thiếu coi trọng quyền riêng tư của họ.
8
1.3.2.
Tác động của công nghệ tới sự riêng tư
Trong thời đại thông tin, thông tin cá nhân đã trở thành một loại hàng
hóa được thu thập, tổng hợp, chia sẻ và mua bán theo những cách thức chưa
từng được hình dung trước đó. Việc tin học hóa các hồ sơ và các liên kết, việc
sử dụng CNTT khôgn nhất thiết đồng nghĩa với việc làm giảm quyền riêng tư.
Trên thực tệ, CNTT có thể được thiết kế và thực hiện theo những cách tăng
cường bảo mật. CNTT&TT hiện đại cho phép các tương tác xảy ra tại một
khoảng cách. Trong khi việc giao dịch mặt đối mặt có thể dẫn đến việc tiết lộ
danh tính, một số tương tác trên mạng có thể xảy ra nặc danh. Hơn nữa, việc
lưu trữ thông tin trên giấy có thể khó khăn trong việc theo dõi, quản lí thì hệ
thống trực tuyến lại dễ dàng trong quản lý và có thể nhanh chóng phát hiện
những truy cập trái phép.
Trong thời đại thông tin, thông tin cá nhân đã trở thành một loại hàng
hóa thu thập, tổng hợp, chia sẻ và mua bán theo những cách thức chưa từng
được hình dung trước đó.
Việc sử dụng CNTT không nhất thiết đồng nghĩa với việc làm giảm
quyền riêng tư. CNTT cơ thể được thiết kế và thực hiện theo những cách tăng
cường bảo mật.
CNTT&TT cho phép các tương tác xảy ra tại mọi khoảng cách.
Việc lưu trữ thông tin trên giấy có thể khó khăn trong việc theo dõi,
thập bằng các phương tiện hợp pháp và công bằng khi thích hợp được
-
chủ thể dữ liệu biết hoặc đồng ý.
Chất lượng dữ liệu: Dữ liệu cá nhân phải phù hợp với các mục đích sử
-
dụng, chính xác, đầy đủ và cập nhật.
Mục đích xác định: Khi dữ liệu cá nhân được thu thập, mục đích thu
-
thập để sử dụng sau này được xác định.
Sử dụng hạn chế: Dữ liệu cá nhân không được tiết lộ, không được sử
dụng cho các mục đích khác ngoài quy định. Các trường hợp “ngoại
trừ, phải được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu hoặc thẩm quyền của pháp
-
luật.
Bảo mật: Dữ liệu cá nhân cần được bảo vệ bằng biện pháp bảo vệ an
ninh hợp lý, chống mất mát hoặc truy cập trái phép, phá hoại, sử dụng,
-
sửa đổi hoặc tiết lộ.
Tính mở: Nói chung, không được bí mật thu thập dữ liệu. Cần có tính
mở, minh bach trong thực tiễn và chính sách dữ liệu. Phải có sẵn các
-
liệu có thể bị xóa, sửa chữa hoặc bổ sung hoàn thiện.
Trách nhiệm: Các đối tượng thu thập dữ liệu phải bị cưỡng chế bằng
các biện pháp có hiệu lực đối với các nguyên tắc đã nêu trên.
Quy định pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư ở Việt Nam
-
Việt Nam hiện chưa có luật riêng quy định về việc bảo vệ quyền riêng
-
tư.
Thuật ngữ “quyền riêng tư” cũng chưa được định nghĩa về mặt pháp lý
-
một cách trọn vẹn.
Trong các văn bản pháp luật hiện hành có một vài quy định về “quyền
b.
-
riêng tư”
Các biện pháp công nghệ nhằm bảo vệ sự riêng tư
Tăng cường an toàn thông tin
An toàn thông tin là một quá trình thiết lập định hướng cơ bản các hoạt
động và đánh giá tài sản của các hệ thống thông tin, xây dựng và triển khai
tính, bao gồm:
Cài đặt tường lửa, phần mềm chống virus và hệ thống phát hiện
xâm nhập;
Triển khai bảo vệ bằng công nghệ mã hóa mạnh đối với các dữ
liệu nhạy cảm;
Xây dựng và thực hiện đào tạo liên tục nhân viên;
Duy trì mạng lưới giám sát và giáp sát an ninh;
Thiết lập lực lượng ứng phó sự cố và khả năng phục hồi, bao
gồm lưu trữ dữ liệu dự phòng (back-up) và các hoạt động trang
-
web thay thế nếu cần thiết.
Triển khai công nghệ P3P
Nền tảng cho dự án các tùy chọn riêng tư (The Platform for Privacy
Preferences Project –P3P) là một giao thức cho phép các trang web khai báo
mục đích sử dụng của họ đối với các thông tin mà họ thu thập được về người
sử dụng trình duyệt web.
Nội dung chính của chính sách bảo vệ gồm những vấn đề:
•
•
•
muốn thiếp tục lướt trang web không, và rủi ro từ bỏ thông tin cá nhân.
Nhược điểm của P3P: phức tạp với người dùng.
13
CHƯƠNG 2 – CÁC TRỞ NGẠI TRONG TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG
CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
2.1.
Người dân chưa biết sử dụng internet
Trong suốt 17 năm trở lại đây, Việt Nam luôn nằm trong top 20 quốc
gia có tốc độ tăng trưởng Internet nhanh nhất thế giới. Năm 2012, Việt Nam
xếp thứ 18 trong số các quốc gia có số người dùng Internet lớn nhất thế giới,
với thời lượng truy cập trung bình vượt xa các nước khác trong khu vực Đông
Nam Á.
Tại các khu vực thành thị, khoảng 50% dân số có truy cập Internet.Tỷ
lệ này thậm chí còn cao hơn tại hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM.Hai
phần ba trong số này sử dụng Internet mỗi ngày, với gần 50 giờ trên Internet
mỗi tháng.Người sử dụng Internet nằm trong độ tuổi khá trẻ, nam giới chiếm
tỉ lệ cao hơn.40% người dùng là giới nhân viên văn phòng.
Đó là những con số đáng chú ý trong báo cáo về tình hình phổ cập
Internet tại Việt Nam của NetCitizens. Theo đó, độ tuổi trung bình sử dụng
Internet tại Việt Nam là 29, thấp hơn độ tuổi trung bình của dân số là 36.Chỉ
có khoảng 25% người dùng Internet trên 35 tuổi.Số lượng người cao tuổi sử
dụng Internet rất thấp, chỉ đạt khoảng 2 triệu người.
Số liệu thống kê trong Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam năm 2012 cho
thấy cả nước đã có 9.800 dịch vụ công trực tuyến được cung cấp ở mức độ 1
và 2 (công bố thủ tục và form mẫu, người dân có thể tải form mẫu hồ sơ thủ
tục về điền); 860 dịch vụ công trực tuyến mức 3 (người dân có thể tải form
mẫu và nộp hồ sơ qua mạng) và 11 dịch vụ cấp 4 (mọi hồ sơ được gửi và trả
qua mạng, người dân không cần đến tận cơ quan Nhà nước). Có thể thấy số
lượng các dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam đã phát triển rất mạnh.Thế
nhưng, theo một khảo sát do Cục Ứng dụng CNTT - Bộ TT&TT tiến hành
năm 2011 về mức độ người dân tham gia các hoạt động dịch vụ công trực
tuyến thì những con số thống kê thu được không mấy khả quan. Theo ông
Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục Ứng dụng CNTT, có tới gần 60%
người dân nói rằng chưa từng sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
2.2.
Vấn đề bảo mật trên các website
Báo động tình trạng bảo mật của website Việt
1039 website của Việt
Nam bị tấn công trong
nửa đầu tháng 9. (Ảnh:
Security Daily)
16
Hơn 1000 website bị tấn công chỉ trong nửa đầu tháng 9 bằng những lỗi
sơ đẳng từ các tin tặc nước ngoài - một con số đáng báo động về tình trạng
bảo mật của các website Việt Nam.
Theo thống kê của trang websiteSecurity Daily, có đến 1039 website
của Việt Nam bị tấn công trong vòng nửa đầu tháng 9 – tăng đột biến gấp 4
dụng Chính phủ điện tử ở Việt Nam. Trong đó vấn đề bảo mật và an ninh
thông tin là mối quan tâm lớn của người sử dụng internet nói chung và những
người tham gia vào hoạt động chính phủ nói riêng. Đây là lý do rất lớn khiến
cho nhiều người dân Việt Nam còn e ngại khi tham gia vào các hoạt động
chính phủ điện tử, họ thường không chịu cung cấp cho các cơ quan các thông
tin về thân nhân, tình hình tài chính và sức khỏe vì họ chưa thực sự tin tưởng
vào cơ quan chính quyền có thể đảm bảo được sự an toàn cho những thông tin
mà mình đã cung cấp, sợ các thông tin cá nhân sẽ bị tiết lộ, ảnh hưởng tới bản
thân họ. Đây được coi là một trong những trở ngại rất lớn khi triển khai Chính
phủ điện tử ở nước ta.
Khả năng thích ứng với những thay đổi của công nghệ thông tin
2.4.
Nền tảng để việc triển khai thành công Chính phủ ở bất kỳ một quốc
gia nào cũng không thể thiếu được yếu tố công nghệ thông tin.Tuy nhiên, với
những thay đổi nhanh chóng về mặt Công nghệ thông tin trên thế giới và ở
nước ta thì khả năng thích ứng với sự thay đổi đó lại là một trong những trở
ngại khi triển khai ứng dụng Chính phủ điện tử ở Việt Nam. Ở nước ta, trở
ngại này còn ảnh hưởng vô cung to lớn đối với việc triển khai chính phủ điện
tử bởi các cấp lãnh đạo của nước ta vẫn chưa nhận thức được về vai trò của
công nghệ thông tin trong việc nâng cao hiệu quả của năng suất lao động và
chất lượng sản phẩm. Do vậy mà khả năng thích ứng của các cấp lãnh đạo đối
với những thay đổi của công nghệ thông tin là vô cùng thấp. Đây cũng là trở
ngại lớn nhất ở nước ta khi triển khai Chính phủ điện tử.
-
Công nghệ thông tin với việc cải cách hành chính ở nước ta:
18
19
chính Nhà nước, chuyển bộ máy từ chức năng “chèo thuyền” sang “lái
thuyền”, chuyển “xin - cho” sang “phục vụ” và làm cho nền hành chính có
khả năng kiểm soát lãng phí, thất thoát và tham nhũng. Các hoạt động phải
quy trình hóa, rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, hoạt động, quan hệ… Cho nên,
thiết lập hệ thống Công nghệ thông tin trong cơ quan Nhà nước phải xuất phát
từ các quy trình, cơ chế và các mối quan hệ giữa các chức năng, các cơ quan
và các cấp.
Hiện nay cản trở chính đối với Chính phủ điện tử ở Việt Nam không
phải kỹ thuật mà là cơ chế. Vai trò đầu tàu, chỉ đạo về CPĐT và Công nghệ
thông tin- truyền thông còn nhiều hạn chế, thiếu truyền bá công nghệ và năng
lựcCông nghệ thông tin- truyền thông cho khu vực tư nhân, doanh nghiệp vừa
và nhỏ, khung pháp lý cho các hoạt động Công nghệ thông tin- truyền thông
còn chưa hoàn chỉnh. Những trở ngại này đang dần dần được giải quyết.
Chương trình ứng dụngCông nghệ thông tin trong hoạt động của Cơ
quan Nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 có quy định người đứng đầu các cơ
quan (trực tiếp chịu trách nhiệm về cải cách hành chính) phải chịu trách
nhiệm trực tiếp chỉ đạo ứng dụngCông nghệ thông tin.Theo đó, việc gắn kết
giữa cải cách hành chính và Công nghệ thông tin sẽ đồng bộ. Nhiều chuyên
gia cho rằng, nếu người đứng đầu thực sự trách nhiệm, chủ động thì những
khó khăn như thiếu vốn, không đồng bộ vớicải cách hành chính... sẽ được giải
quyết và lực lượng Công nghệ thông tincũng sẽ được tăng cường. Tuy nhiên,
trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu như thế nào, nếu ứng dụng Công nghệ
thông tin kém sẽ bị xử lý ra sao... chưa thật rõ ràng.
2.5. Dịch vụ của chính phủ điện tử cung cấp với chất lượng thấp hoặc
website khó sử dụng
- Việc thực hiện chính phủ điện tử ở Việt Nam còn thấp:
Quá trình triển khai Chính phủ điện tử (e-government) ở VN, từ Trung
phương còn thấp; Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông còn yếu; Môi
trường pháp lý chưa hình thành, bí mật và an toàn thông tin chưa đảm bảo;
Cải cách hành chình chậm phương thức điều hành lạc hậu; và Đầu tư dàn trải,
thực hiện không tập trung và nguồn nhân lực cao cấp thiếu. Việc xây dựng
21
các đề án, dự án thiếu cụ thể cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho
việc áp dụng chính phủ điện tử không hiệu quả.
“Mô hình chính phủ điện tử giúp bộ máy trong minh bạch hơn, tiết kiệm
thời gian, thu hẹp khoảng cách giữa người dân và chính phủ, đẩy mạnh sự tiến
bộ kinh tế, xã hội thông qua tin học hóa hành chính nhà nước. Nhưng rất tiếc
là nhận thức của lãnh đạo, trung ương cũng như địa phương về vấn đề còn
này rất kém”, ông Trực phát biểu.
Theo ông Trực, Việt Nam đang phấn đấu để trở thành nước tiên tiến về
chính phủ điện tử trong những năm tới. Nhưng nếu tình trạng cứ như hiện
nay, từ trung ương tới địa phương còn chưa nắm vững được khái thế nào là
chính phủ điện tử, thì kế hoạch đặt ra còn khó có thể đạt được.
2.6.
Điều kiện kinh tế - xã hội còn thấp
Điều kiện kinh tế - xã hội cũng là một rào cản mà các nhà hoạch định
triển khai CPĐT của Việt Nam cần cân nhắc tới.
Mặt bằng chung của nền kinh tế xã hội cũng làm cho việc đầu tư phát
triển lĩnh vực này cũng bị giới hạn. Cho dù có ưu tiên nhưng Chính phủ cũng
phải cân đối đầu tư cho các lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Bên cạnh đó
những thói quen làm việc bên giấy tờ của người dân, công chức và quan chức
cần có thời gian để thay đổi. Một nước có GDP tương đối thấp như nước ta,
lại chưa có kinh nghiệm thực tế triển khai CPĐT nên rất cần sự quyết tâm của
Mở rộng phạm vi phát triển của internet tại Việt Nam. Hiện nay, vẫn
còn một số vùng chưa được tiếp cận với internet: Đồng bào Mông tại Bắc
Cạn, Bản Khe Nhồi tỉnh Phú Thọ,… Vậy nên việc biết tới các chính sách của
nhà nước, các dịch vụ của chính phủ còn khó khăn.
Gắn tin học hóa quản lý hành chính nhà nước với vấn đề cải cách hành
chính. Công nghệ thông tin phát triển thì mới đẩy nhanh quá trình cải cách
hành chính.
Hiệu quả đầu tư phải đặt lên hàng đầu. Các dự án công nghệ thông tin
phải có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, đồng thời đào tạo huấn luyện những người
sử dụng. Tránh vội vàng rập khuôn, làm ồ ạt mà không đạt được hiệu quả.
Tin học hóa phải hướng vào các dịch vụ công. Ngoài việc trợ giúp các
quy trình hoạt động của các cơ quan nhà nước còn phải tạo ra các dịch vụ tốt
hơn phục vụ cho nhân dân.
3.2. Nâng cao nhận thức và thay đổi cách nghĩ về chính phủ điện tử
Trước tiên là nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo từ trung ương
đến địa phương: Đây là công việc có tầm quan trọng vì đây là cấp có vai trò
quyết định.Một khi các cấp lãnh đạo trung ương nhận thức đầy đủ về vai trò
và tác dụng của chính phủ điện tử và có ý kiến chỉ đạo cụ thể về vấn đề này
thì việc xây dựng chương trình kế hoạch phát triển chính phủ điện tử sẽ thuận
lợi hơn.
Nâng cao nhận thức của cán bộ công chức: Đây là bộ phận trực tiếp
thực hiện các chương trình ứng dụng phục vụ cho hoạt động quản lý hành
chính do vậy nhận thức của các bộ, công chức tốt sẽ tạo điều kiện để cán bộ,
công chức nâng cao trình độ chuyên môn nói chung cũng như trình độ tin học
24
nói riêng, tránh lãng phí tài sản quốc gia khi thực hiện các dự án ứng dụng
công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý hành chính.
Nâng cao nhận thức của các doanh nhiệp và các tổ chức: bằng việc