LAO ĐỘNG CHẤT XÁM VÀ SỰ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CHẤT XÁM - Pdf 23

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG CHẤT XÁM VÀ SỰ DI
CHUYỂN LAO ĐỘNG CHẤT XÁM TỪ KHU VỰC CÔNG SANG KHU
VỰC TƯ.
Vùng lãnh thổ
Không thay đổi Thay đổi
Dạng Không thay
Việc đổi
Làm
Nghề Thay đổi
Nghiệp
Trong đó:
(I): Không thay đổi dạng việc làm cũng như vùng lãnh thổ.
(II): Thay đổi dạng việc làm nhưng vùng lãnh thổ không đổi.
(III): Thay đổi vùng lãnh thô nhưng dạng nghề nghiệp không đổi.
(IV): Thay đổi cả dạng việc làm và vùng lãnh thổ.
Dạng nghề nghiệp: Công việc chuyên môn hay đơn giản là nội dung hình thức làm việc.
Vùng lãnh thổ: Nơi làm việc.
1.1. Lao động chất xám : chỉ lực lượng lao động tri thức, lao động chất lượng cao (phi
phổ thông), là đối tượng chính có vai trò thúc đẩy chuyển dịch kinh tế sang hướng Công
nghiệp hóa – Hiện đại hóa
1.2. Di chuyển chất xám: bắt nguồn từ thuật ngữ “chảy máu chất xám” (Brain drain
hay Human capital flight), là sự di cư quy mô lớn của “lao động chất xám”, thông thường
do những xung đột, do thiếu cơ hội, bất ổn định về chính trị hoặc các rủi ro sức khỏe. Chảy
máu chất xám thường được xem như một chi phí kinh tế, khi nhân lực di chuyển kéo theo
cùng họ những giá trị đào tạo hay ưu đãi trước đó được hỗ trợ bởi chính phủ, cũng giống
1
I III
II IV
như một chi phí về tài chính đối với quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, thường
được gọi là “di chuyển chất xám” (trong nội bộ đất nước và ra nước ngoài).
1.3. Khu vực công, khu vực tư và sự di chuyển chất xám từ khu vực công sang

khu vực tư
Xét theo góc độ kinh tế, bất cứ ai quan tâm đến kinh tế đều biết bài học vỡ lòng đồng thời
là nên tảng quan trọng nhất của kinh tế học (economics), đó là vấn đề lợi ích và chi phí
(benefit and cost). Do đó bất cứ một quyết định nào được đưa ra đều dựa trên nguyên tắc
tổng lợi ích của quyết định đó mang lại cho người ra quyết định phải lớn hơn tổng chi phí
mà người đó bỏ ra. Trong tất cả các tình huống có thể, thì tình huống được lựa chọn là tình
huống mang lại lợi ích nhiều nhất cho người lựa chọn nó.
Lợi ích và chi phí của di chuyển lao động
Trong đó: B1t - lợi ích ở chỗ làm việc mới trong năm t;
B0t - lợi ích ở chỗ làm việc cũ trong năm t;
Xét dưới góc độ quản trị học (management), bất cứ ai trong cuộc sống đều muốn được
thỏa mãn nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow
đã chỉ ra rằng nhu cầu của con người được chi ra thành năm cấp độ khác nhau: cấp thấp
nhất là các nhu cầu về vật chất, tiếp theo là nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hôi, nhu cầu được
kính trọng và cao nhất là nhu cầu được thể hiện bản thân.
Đối với những người có kiến thức và trình độ học vấn càng cao thì những nhu cầu càng
trên cao của tháp Maslow càng quan trọng hơn vì những người này thừa hiểu rằng họ có đủ
khả năng để có được cuộc sống ổn định về mặt vật chất và mong muốn tìm kiếm những cơ
hội tốt hơn cho mình.
3
Theo triết học ( philosophy), vật chất và tinh thần là hai yếu tố không thể tách rời, chúng
vừa đối lập vừa bổ sung cho nhau. Do đó khi đời sống vật chất được nâng lên thì những
nhu cầu về tinh thần cũng phải nâng lên một cách tương ứng.
Dựa trên những nền tảng lý thuyết đã đưa ra ở trên thì những yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định di chuyển từ khu vực công sang khu vực tư của lao động được chúng tôi xem xét bao
gồm:
- Tiền lương
- Môi trường làm việc
- Yếu tố chủ quan của người lao động (giới tính, tuổi tác, gia đình, thâm niên công
tác…)

Khu vực quản lý Nhà nước 2,22% 4,84% 3,92%
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác 4,44% 2,64% 0,78%
Nghề tự do 17,18% 14,84%
Bộ đội chuyển ngành 7,03%
( Nguồn: Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh)
Đặc biệt hiện tượng di chuyển chất xám tại TP HCM diễn ra mạnh mẽ ở các lĩnh vực như y
tế, giáo dục, ngân hàng…
• Y tế:
Theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2008 cả nước có tổng số gần 290.000 cán bộ y tế
đang công tác tại các cơ sở y tế công lập. Tính tỷ lệ bình quân hiện nay là 6,5 bác
sĩ/1 vạn dân. Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến thừa nhận, với trung bình
6,5 bác sỹ/10.000 dân như hiện nay là quá ít so với khu vực và thế giới.
Theo báo cáo của Sở Y tế TPHCM, từ năm 2004 đến hết năm 2007, có 1.501 nhân
viên y tế nghỉ hưu, thôi việc, bỏ việc và chuyển công tác; trong đó có 592 nhân viên
có trình độ lành nghề, là "chất xám" của ngành y tế thành phố. Riêng năm 2007 đến
nay, có hơn 276 nhân viên ngành y của thành phố xin nghỉ việc hoặc chuyển sang
làm cho bệnh viện tư. Bệnh viện Thống Nhất trong năm 2007 là nơi có số nhân viên
ra đi kỷ lục, lên đến 70 người. Bệnh viện Nhân dân 115, phụ sản Từ Dũ, Nguyễn
Trãi, cấp cứu Trưng Vương, mỗi nơi đều có hơn 20 người nghỉ việc.
5
Theo Sở Nội vụ TP Hồ Chí Minh, từ năm 2004 đến nay, toàn ngành y tế thành phố
có hơn 900 cán bộ, viên chức xin thôi việc, bỏ việc và chuyển công tác. Trong đó có
năm tiến sĩ, 33 thạc sĩ, 16 bác sĩ chuyên khoa II, 65 bác sĩ chuyên khoa I.
Phần lớn những người này đều vào làm việc tại các cơ sở y tế tư nhân, cơ sở y tế có
vốn đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó không ít bác sĩ đang công tác tại các bệnh viện công nhưng vẫn làm
cho các bệnh viện, phòng khám tư với thời gian nhiều hơn.
Trong 4 năm từ 2004-2007, ngành Y tế TP giảm 1.501 cán bộ viên chức, trong đó
thôi việc là 550 và bỏ việc là 276 người. Trong đó có 592 nhân viên có trình độ lành
nghề, là "chất xám" của ngành y tế thành phố. Số chuyển công tác chỉ có 10 người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status