Bước đầu nghiên cứu, đánh giá sự di chuyển của chất gây ô nhiễm trong môi trường đất ngập nước ven sông Sài Gòn - Pdf 18

Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
MỞ ĐẦU

Nguồn tài nguyên nước ngày càng trở nên vô cùng quan trọng đối với cuộc
sống của chúng ta. Nước đóng vai trò là nguồn sống của trái đất. Con người
không thể tồn tại nếu thiếu nước.
Hơn 14 triệu dân đang dùng nước sinh hoạt và ăn uống ở lưu vực sông Sài
Gòn - Đồng Nai. Nguồn nước cấp cho Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Thủ
Dầu Một đều dựa vào hệ thống sông này. Còn chất lượng nước thì gần như phụ
thuộc hoàn toàn vào các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường
của cư dân thuộc 11 tỉnh thành trong lưu vực sông như: Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình
Phước, Bình Thuận, Ninh Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Ròa – Vũng Tàu,
Long An và Thành phố Hồ Chí Minh. Thế nên, việc bảo vệ môi trường, bảo vệ
nguồn nước của lưu vực sông trong tình hình hiện nay trở nên cấp bách hơn bao
giờ hết.
Mỗi ngày, hệ thống kênh rạch và sông Sài Gòn phải gánh trên 1 triệu m
3
nước thải sinh hoạt, gần 400.000 m
3
nước thải công nghiệp, 4.000 – 5.000 tấn rác
thải sinh hoạt và 7 tấn rác y tế chưa qua xử lý… Do đó trong vài năm gần nay, vấn
đề kiểm soát ô nhiễm môi trường môi trường nước trên đòa bàn Thành phố đang
gióng lên hồi chuông báo động. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là tình
trạng ô nhiễm kênh Tham Lương và sông Sài Gòn đã được nhiều đại biểu đề cập
tại các cuộc họp Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh.
Theo dự báo của các chuyên gia môi trường, nếu không kòp thời ngăn
chặn, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm cho hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai,
thì trong vòng 10 năm tới hơn 10 triệu dân Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ không còn
nước sạch phục vụ sinh hoạt. Do đó việc tăng cường kiểm soát các nguồn ô
nhiễm, gây ảnh hưởng cho lưu vực hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai là rất cần

thích hợp, nhưng thực tế trong thời gian qua các bãi rác luôn có những tác động
xấu đến môi trường, chẳng hạn như các bãi rác Đông Thạnh, Gó Cát, Tam Tân.
Trong đó đáng quan tâm là hiện tượng ô nhiễm nguồn nước của khu vực xung
quanh.
Bãi rác Đông Thạnh nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 15 km về
phía Tây Bắc, bắt đầu đưa vào hoạt động năm 1988 để làm bãi rác chính cho
Thành phố và các vùng phụ cận. Cuối năm 2000 thì đóng cửa.
Bãi rác có diện tích 43,5 ha với hệ thống tường bao bọc xung quanh hàng
cây số. Bên trong, rác được tích tụ cao 10 – 20 mét, cao hơn tường bao bọc 3 đến
4 lần. Nước thải từ bãi rác tiết ra được tập trung vào các hồ chứa rộng 12.000m2
đến 17.000m2 và sâu từ 4 – 5m. các hồ chứa nằm cao hơn đòa hình xung quanh.
Nước hồ đen, đặc quánh và toả ra mùi hôi thối. Đến cuối năm 2002 mới có nhà
máy xử lý nước thải.
Ngày 02/6, đặc biệt ngày 17/07/2000, một mảng tường chắn dài khoảng 8m
bò vỡ ra. Theo ước tính của UBND xã Đông Thạnh, việc này đã gây ra thiệt hại
hoàn toàn 14 hecta hoa màu, lúa, cây ăn trái, ao nuôi cá của 45 hộ dân, 14 nhà bò
trôi. Dòng nước thải của hai lần vỡ tường chắn đỗ ra sông Rạch Tra rồi chảy về
sông Sài Gòn làm cá chết hàng loạt.
SVTH: Ngô Phương Thanh 4
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
Cho đến nay, đã gần 6 năm đóng cửa bãi rác. Nhưng bãi rác vẫn thường
xuyên nhận một lượng nước rác từ bãi rác Gò Cát. Mặt dù bãi rác đã có hệ thống
xử lý nước thải tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường do
nước ró rác ra khu vực xung quanh vẫn còn.
Hình (1):Nước rỉ bề mặt từ bãi rác Đông Thạnh (sát mé tường hồ chứa)
SVTH: Ngô Phương Thanh 5
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
Nước ró rác từ bãi rác ra khu vực xung quanh không chỉ trên bề mặt chúng

Đề xuất và kiến nghò các giải pháp nhằm khống chế ô nhiễm.
Tạo bước đệm cho các nghiên cứu sau này về vấn đề di chuyển của các
chất ô nhiễm trong môi trường đất ngập nước sau này khi có điều kiện.
1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Tính khoa học
SVTH: Ngô Phương Thanh 6
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
Đây là một đề tài được tổng hợp từ các kiến thức đã học suốt 5 năm trên
giảng đường và quá trình thực tập tốt nghiệp tại Phòng Tài Nguyên Đất thuộc
Phân Viện Đòa Lý tại TP. Hồ Chí Minh
Những phân tích và đề xuất trong đề tài Luận Văn Tốt Nghiệp đều dựa
trên cơ sở khoa học, lập luận vững chắc từ các chuyên gia mà em tham khảo ý
kiến. Đồng thời thông qua các tài liệu liên quan đáng tin cậy.
1.3.2 Tính thực tế
Đây là tính chất khá quan trọng của đề tài nghiên cứu vì:
 Nó nói lên tầm quan trọng của tài nguyên đất ngập nước.
 Kiểm tra, đánh giá dòng di chuyển của chất ô nhiễm trong đất ngập
nước ven Sông Sài Gòn. Cụ thể là nước rỉ từ Bãi rác Đông Thạnh, huyện
Hóc Môn ra Rạch Tra một nhánh của Sông Sài Gòn.
1.3.3 Tính mới mẻ
Đây là một hướng nghiên cứu có thể nói là rất mới hiện nay. Vì từ trước
đến nay, các nghiên cứu về đất ngập nước chủ yếu là đi sâu vào việc đánh giá
giá trò và bảo tồn tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái đất ngập nước, chứ
chưa thực sự quan tâm đến khả năng xử lý ô nhiễm của đấ ngập nước. Đặc biệt là
có những cảnh báo bước đầu về sự di chuyển của các chất ô nhiễm từ bãi rác
Đông Thạnh ra môi trường xung quanh.
Là đề tài lần đầu tiên đưa ra ý tưởng về nghiên cứu, đánh giá khả năng di
chuyển xử lý ô nhiễm trong môi trường đất ngập nước.
1.4 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

 Xử lý, thống kê số liệu phân tích theo từng đợt lấy mẫu.
 Xử lý tổng hợp tất cả các số liệu, dữ liệu, đánh giá khả năng gạn lọc
của đất ngập nước, xây dựng mô hình lan truyền chất gây ô nhiễm.
 Viết báo cáo.
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
SVTH: Ngô Phương Thanh 8
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
1.6.1 Phương pháp luận
Mặc dù đã có hệ thống xử lý nước thải, tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi
trường do nước ró rác trên bề mặt vẫn xảy ra. Còn vấn đề ô nhiễm môi trường do
nước ró rác chảy ngầm trong lòng đất thì cho đến nay đang làm đau đầu các nhà
quản lý vì: không xác đònh được hướng lan truyền của dòng nước ró. Đây chính là
lý do hình thành nên đề tài: Nghiên cứu, đánh giá dòng di chuyển của một số chất
gây ô nhiễm trong môi trường đất ngập nước xung quanh bãi rác Đông Thạnh ra
Rạch Tra
Đất ngập nước là một hệ sinh thái có năng suất sinh học cao với nhiều
chức năng và giá trò khác nhau như: Điều tiết nước ngầm, du lòch, giải trí và đặc
biệt quan trọng là khả năng xử lý chất thải.
Tuy nhiên chức năng xử lý chất thải chưa được thực sự khai thác, mà chỉ
quan tâm đến chức năng đa dạng sinh học phục cho việc phát triển du lòch sinh
thái, bảo tồn đa dạng sinh học, v.v…
Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng, xung quanh
bãi rác Đông Thạnh có một hệ thống đất ngập nước với hệ thực vật khá phong
phú. Sẽ đóng góp một phần không nhỏ trong việc giúp chúng ta ngăn chặn một
phần các chất ô nhiễm rỉ ra từ bãi rác về Rạch Tra
1.6.2 Phương pháp cụ thể
1.6.2.1 Thu thập, xử lý các tài liệu có sẵn
Trước khi thực hiện đề tài, việc thu thập, xử lý các số liệu, tài liệu liện quan đến
đề tài là hết sức quan trọng, bởi qua đó việc phát hiện các vấn đề liên quan đến

Công tác khoan giải quyết những nhiệm vụ sau:
• Lấy mẫu đất để nghiên cứu đòa tầng của khu vực nghiên cứu. Nghiên
cứu thành phần, trạng thái, tính chất của các tầng đất khu vực nghiên cứu.
• Đặt các ống thu mẫu nước tầng nông trong đất.
1.6.2.6 Phương pháp lấy mẫu
 Mẫu đất: Khoan lấy mẫu. Phân tầng, cho vào tiêu bản, đánh giá sơ bộ.
 Mẫu nước: Dùng bơm chân không lấy mẫu, đo ngay tại chỗ một số chỉ
tiêu (pH, EC, TDS, …) trước khi đem về phòng thí nghiệm.
SVTH: Ngô Phương Thanh 10
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
Kết quả phân tích cuối cùng không chỉ phụ thuộc vào kết quả phân tích
trong phòng thí nghiệm mà còn phụ thuộc ngay từ khi lấy mẫu và cách bảo quản,
khi chuyên chở và lưu trữ mẫu.
1.6.2.7 Phương pháp phân tích
Phân tích hoá, lý đất và nước.
 Đối với đất
Về thành phần vật lý, chủ yếu phân tích thành phần cơ giới, dung trọng, tỷ
trọng và độ xốp.
Về thành phần hóa học: Chủ yếu phân tích hàm lượng các cation và anion
chính, trong đó chú trọng hàm lượng các cation trong các pha khác nhau (pha hòa
tan, pha trao đổi và tổng số), pH, EC, Eh và hàm lượng hữu cơ; các chất dinh
dưỡng tổng số và dễ tiêu.
 Đối với nước.
Phân tích các chỉ tiêu về BOD, COD, TS, tổng nitơ, tổng phốtpho và các
kim loại nặng trong nước kết hợp với một số chỉ tiêu đo tại thực đòa như:DO, pH,
EC, Eh.
Đây được xem là công đoạn rất cần thiết trong quá trình nghiên cứu. Bởi vì
chỉ có thể thông qua các thông số, chỉ tiêu đã được phân tích thì chúng ta mới có
các nhận xét đánh giá được.

3 Xử lý số liệu khảo sát
bước đầu để xác đònh hệ
thống lỗ khoan, vò trí lấy
mẫu và xây dựng chiến
lược lấy mẫu đònh kỳ.
Tài liệu, sơ đồ và kế
hoạch lấy mẫu.
15/10 –20/10
4 Khảo sát thực đòa giai
đoạn hai, khoan lấy mẫu và
lắp đặt hệ thống thiết bò
quan trắc, lấy mẫu.
Xây dựng hoàn chỉnh hệ
thống lấy mẫu.
20/10 – 30/10
5 Lấy mẫu đònh kỳ Mẫu đất và mẫu nước 5 kỳ (10/11 –
12/12)
6 Phân tích mẫu đất, nước Kết quả phân tích 10/11 – 15/12
7
Xử lý thống kê số liệu
phân tích. Đánh giá khả
năng gạn lọc chất ô nhiễm
của đất ngập nước, xây
dựng mô hình lan truyền
chất ô nhiễm.
Bảng số liệu, sơ đồ phân
bố không gian theo chất ô
nhiễm. Đánh giá khả
năng gạn lọc chất ô
nhiễm của đất ngập nước

Long An, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và Campuchia.
Ngoài các tuyến đường bộ huyết mạch cho phát triển kinh tế, huyện Hóc
Môn còn có tuyến đường thuỷ góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế.
Tuyến đường sông Sài Gòn rất thuận lợi cho vận tải thuỷ góp phần không nhỏ
cho việc phát triển kinh tê. Tuyến đường sông Sài Gòn rất thuận lợi cho vận tải
thuỷ liên tỉnh TP.HCM, Bình Dương, Tây Ninh trong đó có đoạn qua Hóc Môn.
Đồng thời là tuyến du lòch sinh thái nhà vườn các xã của huyện dọc sông Sài
Gòn.
2.1.1.2 Đòa hình
Trên đòa bàn có 3 loại đòa hình chính.
Vùng gò cao có cao trình từ 8-10m: Có diện tích 277ha, chiếm 1.53% diện
tích tự nhiên, có đặc điểm là nền móng vững chắc, thoát nước tốt, thuận lợi cho
bố trí các cơ sở công nghiệp, các trung tâm hạ tầng kỹ thuật.
Vùng triền có cao trình từ 2-8m: Có diện tích 5.719ha, chiếm 53,38% diện
tích tự nhiên, có nền móng khá vững chắc, khả năng thoát nước trung bình, hiện
đang là vùng chuyên trồng cây hàng năm.
Vùng bong trũng có cao trình dưới 2m: có diện tích 4.923ha, chiếm
45,09% diện tích tự nhiên. Đây là khu vực thoát nước kém và hiện nay phần lớn
là đất trồng lúa, màu, trồng cây hàng năm. Vùng ven sông rạch đã và đang hình
thành vùng cây ăn trái nhà vườn cần kết hợp loại hình du lòch sinh thái.
SVTH: Ngô Phương Thanh 15
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
2.1.1.3 Khí hậu
Huyện Hóc môn mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa can xích đạo,
trong năm chia 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa phân bố không điều.
Lượng mưa tăng dần từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam. Mưa tập trung vào
tháng 8 và tháng 9, thường bò ngập úng cục bộ do hệ thống thoát nước không tốt.
Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa khô mực nước ngầm

công nghiệp, khu dân cư, trồng hoa màu.
 Nhóm đất phèn: Có diện tích 5118,68 ha, chiếm 47,4% diện tích tự
nhiên, chủ yếu là vùng sông rạch, một số nơi lập vườn trồng cây ăn trái,
số còn lại trồng lúa.
 Nhóm đất vàng nâu: Có diện tích 615,72 ha chủ yếu trồng cây lâu
năm.
 Nhóm đất sông suối: Diện tích đất còn lại.
2.1.2.2 Tài nguyên nước
 Nước mặt:
Huyện Hóc Môn với hệ thống sông ngòi dày đặc, nguồn nước dồi dào tuy
nhiên nguồn nước này thường xuyên bò nhiễm mặn, do đó việc sử dụng cho sinh
hoạt và trồng trọt rất hạn chế.
Tuy nhiên điều này cũng mang lại cho huyện Hóc Môn những ưu thế nhất
đònh như sử dụng nguồn nước để nuôi trồng thuỷ sản, hay phát triển các loại hình
sinh thái du lòch dọc theo các nhánh sông.
 Nước ngầm:
Có 5 tầng nước ngầm:
- Tầng 1: Nằm ở độ sâu 15 - 20m, đây là tầng nước thuỷ cấp. Tầng
nước này dễ bò ô nhiễm do thấm từ mặt đất xuống, nhất là khu vực gần bãi
rác Đông Thạnh.
- Tầng 2: Nằm ở độ sâu 20 - 50m.
SVTH: Ngô Phương Thanh 17
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
- Tầng 3: Nằm ở độ sâu 50 - 90m.
- Tầng 4: Nằm ở độ sâu 100 - 120m.
- Tầng 5: Nằm ở độ sâu hơn 120m.
Tầng 2 và tầng 3 trữ lượng nhiều nhất và chất lượng tốt. Hiện nay người
dân đang khai thác và sử dụng nhiều ở tầng 2 phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Tầng
4 và tầng 5 công ty cấp nước Thành phố đang khai thác phục vụ cho khu vực nội

biệt là trồng lúa.
Phần đòa hình thấp, thường bò úng vào nùa mưa gay ảnh hưởng không nhỏ
đến sinh hoạt, hoạt động sản xuất, kinh tế và xã hội của huyện.
2.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế.
2.1.4.1 Tăng trưởng kinh tế
Nền kinh tế của huyện Hóc Môn trong những năm gần nay đã dần ổn đònh,
tốc độ phát triển khá cao, từng bước hoà nhập và phát triển theo nền kinh tế thò
trường có sự quản lý vó mô của nhà nước.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn: như giá cả và giá cả vẫn biến động phức tạp,
xu hướng tăng giá còn lớn, nhất là giá xăng dầu, lương thực, thực phẩm tiếp tục
cũng tăng cao, kết hợp với hạn hán kéo dài, nước mặn xâm nhập, dòch cúm gia
cầm tái phát, nhưng nền kinh tế của huyện vẫn tiếp tục phát triển và tăng trưởng.
Tổng giá trò sản xuất các ngành trên đòa bàn huyện năm 2005 đạt 2,211,070
triệu đồng bằng 3,2 lần năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm
là 22,5% làm thay đổi diện mạo của từng xã và nâng cao đời sống của người dân.
Bảng 1: Giá trò sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu Đơn vò tính: Triệu đồng
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng GTSX 813,673 1.020,03
8
1.297,33
9
1.763,36
7
2.211,07
0
1. CN - TTCN 351,360 481,190 737,244 994,985 1.280,20
0
SVTH: Ngô Phương Thanh 19
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn

tăng là do chuyển đổi cơ cấu cây trồng và thăm canh tăng sản lượng lúa và cây
ăn trái.
Bên cạnh đó giá trò sản xuất ngành chăn nuôi tăng từ 80,305 triệu năm
2001 lên 128,611 triệu đồng năm 2005 do thực hiện chương trình phát triển đàn
bò sữa và bò vắt sữa.
 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Quy mô giá trò sản lượng ngành công nghiệp trên đòa bàn huyện tính theo
giá cố đònh từ 192.9 tỷ đồngcủa năm 200 đã tăng lên 740 tỷ đồng năm 2005, gấp
3,85 lần so với năm 2000 và chiếm tỷ trọng 57,9% tổng giá trò sản lượng kinh tế.
Đến nay công nghiệp phát triển mạnh và rộng khắp, tập trung ở 10 xã có
tỷ trọng công nghiệp từ 45% - 78% trong cơ cấu kinh tế của xã: Thới Tam Thôn,
Xuân Thới Thượng, Bà Điểm, … Nhiều sản phẩm công nghiệp đạt chất lượng cao
và có uy tính trên thò trường: Băng gạc y tế Bảo Thạch, bóng neon điện tử Sao
Sài Gòn, nhóm hàng thủ công mỹ nghệ Hiệp Lực, đặc biệt công ty Đông Nam
Dược Bảo Long được cấp chứng chỉ ISO, sản phẩm Đông Nam Dược của công ty
đã được nhiều người tính nhiệm.
Số lượng cơ sở Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do huyện quản lý từ
năm 2000 đến nănm 2004 biến động không ngừng. Năm 2000 có 1509 cơ sở, đến
năm 2002 giảm còn 1109 cơ sở, năm 2004 lại tăng lên 1820 cơ sở. Số lượng
doanh nghiệp Quốc doanh đóng trên đại bàn huyện chỉ có 1 thì nay đã giải thể,
trong khi đó số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh không ngừng.
SVTH: Ngô Phương Thanh 21
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
Bảng (3): Số lượng cơ sở sản xuất CN-TTCN Đơn vò: Cơ sở
STT Theo loạ hình cơ sở 2000 2001 2002 2003 2004
1 Doanh nghiệp quốc
doanh
1 0 0 0 0
2 Công nghiệp tư nhân,

2516 2574 4419 4382 4868
n uống 697 800 1593 1575 1507
Dòch vụ 339 349 686 668 1488
Tổng số 3552 3723 6698 6625 7863
(Nguồn: Phòng Kinh tế huyện Hóc Môn)
2.1.5 Điều kiện xã hội
2.1.5.1 Dân số và lao động
 Dân số
Dân số huyện Hóc Môn năm 2005 là 258.70 người, trong đó nữ chiếm
51,02% dân số. Mật độ dân số phân bố không điều theo các đơn vò hành chính,
nơi đô thò hoá mật độ dân cư cao hơn khoảng 9 đến 12 lần vùng nông thôn. Mật
độ dân số trung bình 2.216 người/km
2
.
Khu vực nông thôn mật độ dân cư thấp, dân cư sống tập trung theo kênh
rạch, trục lộ giao thông chủ yếu sống bằng nghề nông. Còn khu vực thành thò dân
cư sống tập trung đông và hình thành các cụm kinhy tế, các trung tâm mua bán.
Tỷ lệ tăng dân số trong những năm gần nay có xu hướng tăng là do cơ sở
hạ tầng ngày càng được đầu tư. Năm 2005 tỷ lệ tăng dân số là 4,512.
 Lao động
Tổng số nguồn lao động: 157.928 người, chiếm 77,31% dân số toàn huyện.
SVTH: Ngô Phương Thanh 23
Đề tài: Bước đầu nghiên cứu đánh giá sự di chuyển của các chất gây ô nhiễm trong môi trường
đất ngập nước ven sông Sài Gòn
- Dưới tuổi lao động (13 -17 tuổi): 21.127 người, chiếm 13,37% tổng
nguồn.
- Trong độ tuổi lao động (nam 16 - 60, nữ 18 - 55): 118.230 người,
chiếm 74,86% tổng nguồn và chiếm 56,23% dân số của toàn huyện.
- Trên độ tuổi lao động: 18.571 người, chiếm 11,76% tổng nguồn.
Giải quyết việc làm hàng năm trung bình 4000 người, hạ tỷ lệ that nghiệp

2.1.5.3 Y tế
Y tế của huyện có nhiều chuyển biến tích cực trong việc phòng chống dòch
bệnh và khám chữa bệnh cho nhân dân. Mạng lưới y tế phân bố nay đủ và rộng
khắp đòa bàn từ huyện đến cơ sở.
Hiện nay toàn huyện có 13 cơ sở y tế: 1 bệnh viện đa khoa 250 giường
bệnh, 12 trạm y tế phường xã.
Tổng số y bác só trên toàn huyện là 350 người. Tất cả các xã, thò trấn điều
có bác só phục vụ khám và điều trò tại trạm xá.
Nhờ có đội ngũ cán bộ nhân viên y tế có trình độ, chuyên môn kết hợp với
trang bò kỹ thuật hiện đại đã góp phần nâng cao hiệu quả khám và điều trò.
Huyện thường xuyên tăng cường các hoãt động chăm sóc sức khoẻ nhân
dân, chú trọng đúng mức đến công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khống chế
được dòch cúm gia cầm lây sang người, phòng chống sốt xuất huyết.
2.1.5.4 Văn hoá thông tin - thể dục thể thao
Hoạt động văn hoá thông tin thể dục thể thao có bước phát triển, góp phần
nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân đòa phương, góp phần nay lùi tệ nạn xã
hội.
Thường xuyên tuyên truyền, thông tin về các chủ trương của đảng, nhà
nước, thông tin kinh tế xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng. Số người
tham gia các hoãt động văn hoá văn nghệ ngày càng tăng.lực lượng tham gia
động đảo và ổn đònh nhất là các đội văn nghệ của các cơ quan đoàn thể, doanh
nghiệp đóng trên đòa bàn huyện.
Công tác thư viện được chú ý quan tâm, ngoài các thư viện hiện có để
phục vụ học sinh trong trường, trên đòa bàn còn có một thư viện cấp huyện.
SVTH: Ngô Phương Thanh 25

Trích đoạn KHẢ NĂNG DI CHUYỂN CỦA CHẤT GÂY Ơ NHIỄM TRONG HỆ THỐNG ĐẤT VAØ SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG: TÍNH CHẤT MƠI TRƯỜNG ĐẤT VÙNG NGHIÊN CỨU: Phương pháp thiết kế hệ thống lổ khoan Diễn biến của giá trị EC theo triều trong vùng đất ngập nước. Diễn biến của hàm lượng NH4+ :
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status