Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô: Khó khăn và thuận lợi khi gia nhập WTO - Pdf 22


BÀI TẬP MÔN KINH TẾ VĨ MÔ:
KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI KHI GIA
NHẬP WTO
Biến thách thức thành cơ hội (20-07-2006)
Doanh nghiệp Việt Nam ngày nay đã trưởng thành hơn nhiều so với thời điểm khi nước ta bắt đầu
đàm phán gia nhập WTO hơn 10 năm trước. Có doanh nghiệp đã xuất khẩu cả trăm triệu
USD/năm. Các chuyên gia kinh tế tin tưởng rằng doanh nghiệp trong nước sẽ thích nghi rất nhanh
với thách thức mới và biến nó thành cơ hội mới để phát triển.
Gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện để Việt Nam cải cách chính sách, thể chế luật pháp vì phải cam kết
xây dựng hệ thống chính sách minh bạch hơn, ổn định và dễ dự đoán; tạo điều kiện thuận lợi trong
giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, nhằm bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp Việt Nam; Bên
cạnh đó, tạo điều kiện để Việt Nam không bị đối xử như một nền kinh tế phi thị trường như hiện
nay… Đặc biệt, hàng hoá và dịch vụ của Việt cũng sẽ được đối xử bình đẳng hơn trên thị trường
quốc tế, qua đó mở rộng thị trường, tăng xuất khẩu. Thứ trưởng Bộ Thương mại – Ông Lương Văn
Tự nói: Hiện nay xuất khẩu của Việt tăng tương đối nhanh, năm ngoái chúng ta đạt kim ngạch 32,5
tỷ nhưng so với các nước trong khu vực còn rất nhỏ. Theo tôi xuất khẩu mỗi năm ít nhất phải đạt
100 tỷ USD trở lên, thì nền kinh tế của Việt mới phát triển được. Hiện nay hàng hoá và dịch vụ của
Việt Nam còn bị phân biệt đối xử nhiều, ví dụ sang châu Âu chúng ta không được hưởng ưu đãi
thuế quan đối với hàng nông sản nên không thể bán gạo được sang châu Âu… Vì vậy, gia nhập
WTO chúng ta mới gỡ bỏ được những rào cản và sự phân biệt đối xử.
Mặt khác, chúng ta cũng phải đối mặt với những khó khăn như: phải sửa đổi và xây dựng cơ chế
chính sách cho phù hợp với quy định WTO; nguồn thu ngân sách trước mắt sẽ bị suy giảm do cắt
giảm thuế nhập khẩu; vấn đề an sinh xã hội sẽ phức tạp do phải cắt giảm lao động trong nhiều
ngành nghề, do doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả phải phá sản, do khoảng cách giàu nghèo gia
tăng…
Theo đánh giá của tổ chức Oxfam, đã có đến 40 quốc gia bị nghèo hơn sau khi gia nhập WTO.
Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế cho rằng, Việt có nhiều lợi thế có thể cạnh tranh được với các

thị trường. Vì thế, thời gian này, Việt Nam phải cải cách hoàn thiện các thể chế kinh tế, thường
xuyên hợp tác và chứng minh với Mỹ là chúng ta thật sự là một nền kinh tế thị trường trên mọi
lĩnh vực, kể cả những ngành có năng lực cạnh tranh thấp như dịch vụ, ôtô, thép và điển hình là
ngành chăn nuôi. Vì vậy, trong thời gian tới, ngành này phải có kế hoạch sắp xếp lại phương thức
chăn nuôi và cả lĩnh vực chế biến thực phẩm để phù hợp trong tình hình mới. Tuy nhiên, một vài
doanh nghiệp chăn nuôi Việt Nam cũng lo ngại là những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ khó cạnh tranh về
giá cả.
Về việc nhập khẩu ôtô đã qua sử dụng theo quy định của WTO, đây là vấn đề nhạy cảm, Việt Nam
cần phải thận trọng về cơ chế quản lý và điều hành hoạt động xuất nhập khẩu, vì dễ dẫn đến tình
trạng gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng xấu đến ngành công nghiệp
ôtô trong nước.
Trong Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ có cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, trong đó có hệ thống
phân phối lẻ. Đây là lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận mà nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đang
nhòm ngó. Hàng loạt doanh nghiệp nước ngoài tràn vào Việt Nam tạo nên một môi trường cạnh
tranh khốc liệt, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải phấn đấu, nỗ lực, học hỏi để có thể tồn tại
được. Vấn đề đặt ra, doanh nghiệp Việt Nam có chủ động được trong việc hội nhập này hay
không ? Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Liên hiệp HTX thương mại TP.Hồ Chí
Minh cho biết “Thuận lợi và khó khăn đều chia đều”. Nhiều người lo lắng, ngành nhập khẩu thực
phẩm tươi sống sẽ ảnh hưởng đến thị trường trong nước. Nhưng theo ông Văn Đức Mười – Phó
Giám đốc Vissan nhận định: “Thịt bò nhập khẩu không ảnh hưởng đến tình hình sản xuất trong
nước vì hiện nay thịt bò đáp ứng nhu cầu trong nước vẫn còn đang thiếu, nên cũng cần nhập để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng”. Nhưng để đảm bảo lợi ích tổng thể của quốc gia, ông Phan Đình Toàn -
Tổng Giám đốc Tập đoàn phân phối Phú Thái có những kiến nghị: “Chúng ta nên đặt lợi ích người
tiêu dùng lên hàng đầu; phải đảm bảo sản xuất, mở rộng mạng lưới tiêu thụ; thị phần trong nước và
thúc đẩy hàng Việt Nam hội nhập với thị trường thế giới”.
Đối với những ngành được xem như độc quyền sẽ phải mở ra như viễn thông, điện lực, ngân
hàng Việt Nam đã chuẩn bị trước. Cụ thể, đối với lĩnh vực bưu chính viễn thông, ông Đỗ Trung
Tá - Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông cho biết: Các doanh nghiệp bưu chính và viễn thông
trong nước đã được chuẩn bị cơ sở hạ tầng, mạng viễn thông cho quá trình gia nhập WTO. Trong
đó, 8 doanh nghiệp cung cấp tất cả các loại hình dịch vụ như bưu chính viễn thông, internet, các

sức cạnh tranh sẽ cao hơn. Ông Trần Quốc Mạnh – Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ TP.Hồ Chí Minh
khẳng định: “Việt Nam gia nhập WTO sẽ đem lại lợi nhuận cho ngành xuất khẩu gỗ Việt Nam.
Hiện hơn 80% linh kiện, nguyên phụ liệu trong ngành chế biến gỗ được nhập khẩu từ Mỹ và EU sẽ
giảm, giá thành xuất khẩu đồ gỗ cũng sẽ cạnh tranh hơn. Việc tiếp cận thị trường trên thế giới cũng
dễ dàng, thuận lợi hơn ”. Theo ông Nguyễn Xuân Hồng, Tổng Giám đốc Công ty CP May Sài
Gòn 3, nhận định: “Ngành may Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn vì chế độ hạn ngạch (quota)
khi xuất khẩu vào Mỹ. Khi Việt Nam gia nhập WTO, những khó khăn này sẽ được tháo gỡ, khách
hàng sẽ vững tâm hơn khi làm ăn với các nhà sản xuất Việt Nam. Tư thế của các doanh nghiệp
Việt Nam cũng sẽ khác khi đàm phán với các nhà nhập khẩu nước ngoài, chúng ta sẽ đỡ lép vế
hơn, đỡ bị ép giá hơn ”. Người tiêu dùng trong nước có cơ hội lựa chọn, sử dụng hàng hoá nước
ngoài theo kênh bán lẻ với những sản phẩm chất lượng cao và giá thành rẻ.
Bên cạnh những lợi ích mà WTO mang lại, các doanh nghiệp Việt Nam cũng còn gặp không ít
những khó khăn và thách thức như kinh doanh nội địa sẽ gặp khó khăn vì các “đại gia” quốc tế
vào, sức ép cạnh tranh rất lớn. Ông Diệp Thành Kiệt, Tổng Giám đốc Công ty CP May Thêu giày
dép cho biết: “Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, ngành dệt may trong nước sẽ phải cạnh tranh
khốc liệt với hàng dệt của các nước tràn vào khi thuế nhập khẩu giảm theo lộ trình WTO. Các
doanh nghiệp may phải cạnh tranh về giá cả, mẫu mã đẹp hơn và chủng loại hàng hoá cũng phong
phú hơn, đảm bảo thời gian giao hàng ”.
Riêng ngành điện tử trong nước, vì đã có sự chuẩn bị trước theo lộ trình AFTA nên không có gì
thay đổi lớn như ông Vũ Dương Ngọc Duy cho biết: “Khi gia nhập WTO, sẽ có thêm hàng hoá từ
nhiều nước ngoài ASEAN nhập khẩu vào Việt Nam, nhưng tỷ lệ cũng không nhiều, nên không
đáng lo ngại”.
Trước sức ép từ quá trình hội nhập, Thứ trưởng Thường trực Bộ Công nghiệp – Bùi Xuân Khu kêu
gọi: “Các doanh nghiệp Việt Nam nên sớm mở rộng đầu tư, tăng năng lực cạnh tranh và tạo động
lực để đẩy nhanh hơn nữa quá trình cải cách của Việt Nam phù hợp với tình hình mới. Đặc biệt,
các doanh nghiệp trong nước cũng phải đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá để tăng sự cạnh tranh mới”.
(Nguồn: CNTT)
Xuất khẩu 2007: 3 thành tựu, 7 hạn chế
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 48 tỷ USD, tăng 20,5% so với năm 2006, vượt 3,1% so
với kế hoạch Chính phủ đặt ra là 17,4%. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn

thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn.
Thứ tư, khả năng chủ động nắm bắt những cơ hội thuận lợi để thâm nhập và khai thác các thị trường xuất
khẩu còn nhiều hạn chế. Chưa tận dụng triệt để lợi ích từ việc gia nhập WTO, các hiệp định thương mại
song phương và khu vực đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác để khai thác hết tiềm năng của các thị
trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc.
Thứ năm, công tác của mạng lưới đại diện, đặc biệt về thương mại ở nước ngoài còn nhiều yếu kém,
chưa thực sự hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu, các chương trình xúc tiến thương mại nhỏ lẻ, rời rạc,
hiệu quả chưa cao.
Thứ sáu, nhập siêu ở mức cao và chưa có giải pháp kiềm chế hiệu quả, triệt để, đã ảnh hưởng tiêu cực
đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế như cán cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ, nguồn lực đầu
tư.
Thứ bảy, thị trường xuất khẩu tăng trưởng không đều, trong khi thị trường ASEAN, EU, Hoa Kỳ tăng
trưởng khá cao thì một số thị trường quan trọng khác tăng chậm hoặc giảm như Trung Quốc, Nhật Bản và
Australia. (Thời báo Kinh tế)
Phát triển hàng xuất khẩu trọng điểm - Hướng đi quyết định
Bộ Thương mại rà soát và xếp loại các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn và có khả năng đạt mức
tăng trưởng kim ngạch cao để khoanh vùng và phát triển có trọng điểm
Hà Nội (TTXVN 13/7/04) - Nằm trong các giải pháp trọng yếu để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
trong các tháng cuối năm, nhóm giải pháp về phát triển có trọng điểm mặt hàng xuất khẩu được Bộ
Thương mại đánh giá là một trong những hướng đi chủ lực và mang tính quyết định đối với kết quả xuất
khẩu của cả năm nay. Thứ trưởng Bộ Thương mại Mai Văn Dâu cho biết Bộ vừa hoàn tất việc rà soát và
xếp loại các mặt hàng theo tiêu chí hàng có giá trị xuất khẩu lớn và hàng có khả năng đạt mức tăng trưởng
kim ngạch cao, nhằm khoanh vùng và phát triển có trọng điểm. Theo kết quả xếp loại sơ bộ, nhóm hàng có
giá trị xuất khẩu lớn gồm dầu thô, hàng dệt may, giày dép và thủy hải sản. Nhóm hàng có khả năng đạt
mức tăng trưởng kim ngạch cao gồm các mặt hàng xe đạp và phụ tùng xe đạp, máy tính và linh kiện điện
tử, dây điện và dây cáp điện, các sản phẩm nhựa, đồ gỗ. Kết quả xuất khẩu của hai nhóm hàng này trong 6
tháng đầu năm cho thấy, tốc độ tăng trưởng và kim ngạch xuất khẩu nhìn chung đều được duy trì ở mức
cao và tương đối ổn định. Cụ thể, nhóm hàng có giá trị xuất khẩu lớn luôn chiếm tới gần 60% tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước và có tốc độ tăng trưởng trung bình 14,8% so với cùng kỳ năm 2003. Nhóm
hàng có khả năng đạt mức tăng trưởng kim ngạch cao cũng chiếm tới 11% tổng kim ngạch xuất khẩu và có

Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại. Khi cán cân
thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương. Khi cán cân
thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể
gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất
khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong
cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch
vụ.
Mục lục
[ẩn]
• 1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại
• 2 Tác động của cán cân thương mại đến GDP
o 2.1 Xuất khẩu ròng và GDP cân bằng
o 2.2 Số nhân trong nền kinh tế mở
• 3 Xem thêm
• 4 Tham khảo
[sửa] Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại
• Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn. Sự gia
tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ). MPZ là
phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ví dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa
là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu. Ngoài
ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa
sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế
thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại Việt Nam tăng
tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ nhiều xe đạp Nhật
Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng.
• Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì xuất
khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào
sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình kinh tế
người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
• Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến giá

tổng chi tiêu là 35 tỷ USD và đúng bằng GDP. Như vậy nền kinh tế mở có thể đạt mức sản lượng
cân bằng ở mức xuất khẩu ròng khác 0. Tại điểm có mức xuất khẩu ròng bằng 0 (đường C+G+I cắt
đường C+G+I+X), tổng cầu trong nước bằng với tổng cầu và đều bằng 63 tỷ USD. Về phía bên
trái điểm này, cầu xuất khẩu ròng luôn dương, tổng cầu nội địa nhỏ hơn tổng chi tiêu và ở bên
phải, cầu xuất khẩu ròng luôn âm, tổng cầu nội địa lớn hơn tổng chi tiêu.
Cân bằng trong nền kinh tế mở
GDP ban
đầu
Cầu trong nước
(C+I+G)
Xuất khẩu
(e)
Nhập khẩu
(m)
Xuất khẩu ròng
(X = e - m)
Tổng chi tiêu
(C+I+G+X)
75 67,5 7 7,5 -0,5 67
70 63 7 7 0 63
65 58,5 7 6,5 0,5 59
60 54 7 6 1 55
55 49,5 7 5,5 1,5 51
50 45 7 5 2 47
45 40,5 7 4,5 2,5 43
40 36 7 4 3 39
35 31,5 7 3,5 3,5 35
30 27 7 3 4 31
[sửa] Số nhân trong nền kinh tế mở
Trong đồ thị trên, độ dốc của đường tổng chi tiêu C+I+G+X nhỏ hơn độ dốc của đường cầu nội địa

2. Thu nhập từ đầu tư
3. Các chuyển khoản
Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp chung vào trong
tính toán này.
Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành phần quan trọng nhất trong tài
khoản vãng lai. Tuy nhiên, đối với một số quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoài lớn
thì thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn.
Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất khẩu ròng thì bằng
chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tài khoản vãng lai còn được thể
hiện bằng chênh lệch này.
Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợp thành cán cân thanh toán.
Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay khi tiết kiệm nhiều
hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều
hơn. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ý quốc gia gặp hạn chế trong tìm nguồn tài chính để
thực hiện nhập khẩu và đầu tư một cách bền vững. Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt
tài khoản vãng lai tính bằng phần trăm của GDP lớn hơn 5, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụt
tài khoản vãng lai không lành mạnh.
» 10 lợi ích của hệ thống thương mại WTO
(10/28/2006 3:47:56 PM)
Hệ thống GATT/WTO là một chủ thể kiến tạo
niềm tin quan trọng. Các cuộc chiến tranh thương
mại những năm 1930 là bằng chứng cho thấy rằng
chủ nghĩa bảo hộ có thể dễ dàng đẩy các nước vào
một tình thế trong đó không có kể thắng mà chỉ
toàn người thua.
1. Hệ thống này giúp gìn giữ hoà bình
Hoà bình phần nào là một thành quả của hai nguyên tắc cơ bản nhất của hệ thống thương mại: giúp
thương mại được thuận buồm xuôi gió và đưa đến cho các nước một lối thoát bình đẳng và mang tính xây
dựng để giải quyết những bất đồng về các vấn đề thương mại. Đó cũng là một kết quả của sự hợp tác và
lòng tin quốc tế do hệ thống này tạo ra và duy trì.

và không được đơn phương giải quyết. Khi họ đưa ra các tranh chấp ra giải quyết tại WTO, thủ tục giải
quyết của WTO là tập trung chú ý của họ vào các nguyên tắc. Một khi nguyên tắc được thiết lập, các nước
phải chú trọng nỗ lực tuân thủ nguyên tắc, và có lẽ sau đó tái thương lượng về các nguyên tắc - chứ
không phải là tuyên chiến với nhau. Gần 200 tranh chấp đã được đưa ra giải quyết ở WTO kể từ khi tổ
chức này thành lập. Nếu thiếu một phương tiện giải quyết các tranh chấp này một cách xây dựng và đồng
bộ, một số tranh chấp đã có thể dẫn đến những cuộc xung đột chính trị nghiêm trọng hơn.
3. Một hệ thống dựa trên những nguyên tắc chứ không phải là sức mạnh để làm cho cuộc sống dễ
dàng hơn với tất cả mọi người
WTO không thể tuyên bố sẽ làm cho tất cả các nước đều bình đẳng. Nhưng WTO thực sự làm giảm bớt
một số bất bình đẳng, giúp các nước nhỏ hơn có nhiều tiếng nói hơn. Đồng thời cũng giải thoát cho các
nước lớn khỏi sự phức tạp trong việc thoả thuận các hiệp định thương mại với các đối tác của mình.
Các quyết định và hiệp định của WTO được thực hiện bằng nhất trí ý kiến. Các hiệp định này áp dụng cho
mọi người. Các nước giàu cũng như nước nghèo đều có thể bị chất vấn nếu họ vi phạm một hiệp ước, và
họ có quyền chất vấn các nước khác trong quy trình giải quyết tranh chấp của WTO. Thiếu một cơ chế đa
phương kiểu hệ thống WTO, các nước mạnh hơn sẽ càng được tự do đơn phương áp đặt ý muốn của
mình cho các nước yếu hơn. Các nước lớn hơn cũng được hưởng những lợi ích tương xứng. Các cường
quốc kinh tế có thể sử dụng diễn đàn duy nhất của WTO để thương lượng với tất cả hay với hầu hết các
đối tác thương mại của họ cùng một lúc.
Trên thực tế, có riêng một hệ thống nguyên tắc áp dụng với tất cả các nước thành viên, điều đó đã đơn
giản hoá rất nhiều toàn bộ cơ chế thương mại.
4. Thương mại tự do hơn giúp giảm chi phí cuộc sống
Hệ thống toàn cầu WTO đã giảm bớt các hàng rào mậu dịch thông qua thương lượng và áp dụng nguyên
tắc không phân biệt đối xử. Kết quả là chi phí sản xuất giảm, giá hàng hoá thành phẩm và dịch vụ giảm và
cuối cùng là chi phí cuộc sống thấp hơn.
Cho đến nay, các hàng rào mậu dịch đã giảm đi rất nhiều so với trước đây. Các hàng rào này còn tiếp tục
được giảm và tất cả chúng ta đều có lợi.
5. Đem đến cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn, và phạm vi chất lượng rộng hơn để lựa chọn
Hiện nay chúng ta có thể có được tất cả các hàng hoá bởi chúng ta có thể nhập khẩu chúng. Nhập khẩu
cho phép chúng ta có nhiều lựa chọn hơn - cả hàng hoá và dịch vụ lẫn phạm vi chất lượng. Thậm chí chất
lượng của hàng sản xuất nội địa có thể nâng lên do chính sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu. Nhiều lựa

hơn có lợi cho việc làm. Uỷ ban EU tính toán rằng việc thiết lập thị trường duy nhất của nó có nghĩa là có
thêm khoảng từ 300.000 đến 900.000 việc làm nữa so với lúc không có thị trường duy nhất. Thực tế cũng
cho thấy, chế độ bảo hộ đã làm hại công ăn việc làm như thế nào. Ví dụ điển hình là ngành công nghiệp
xe hơi của Mỹ. Các hàng rào mậu dịch được thiết lập để bảo vệ việc làm ở nước này bằng cách hạn chế
nhập khẩu từ Nhật Bản lại dẫn đến việc làm cho xe hơi ở Mỹ đắt thêm, lượng xe hơi vì thế được bán ít đi
và việc làm giảm.
8. Các nguyên tắc cơ bản làm cho hệ thống có hiệu quả hơn, và giảm bớt chi phí
Thương mại cho phép thực hiện phân công lao động giữa các nước. Nó cho phép sử dụng một cách phù
hợp và hiệu quả các nguồn lực vào sản xuất. Nhưng hệ thống thương mại WTO còn đem lại nhiều hơn
như thế. Nó giúp làm tăn hiệu quả và thậm chí còn giảm bớt chi phí nhiều hơn bởi những nguyên tắc quan
trọng được thiết lập trong hệ thống.
Không phân biệt đối xử chỉ là một trong những nguyên tắc của hệ thống thương mại WTO. Những nguyên
tắc khác gồm có:
* Minh bạch. Thông tin rõ rằng về các chính sách, nguyên tắc và quy định.
* Tin chắc vào các điều kiện thương mại. Những cam kết cắt giảm các hàng rào thương mại và làm tăng
khả năng tiếp cận các thị trường của một số nước cho các nước khác có sự ràng buộc pháp lý.
* Đơn giản hoá và chuẩn hoá các thủ tục hải quan, xoá bỏ tình trạng quan liêu, tập trung hoá cơ sở dữ
liệu thông tin và các biện pháp khác được thiết lập nhằm đơn giản hoá thương mại theo phương châm
'kích thích thương mại'.
Tất cả những nguyên tắc này làm cho thương mại đơn giản hơn, giảm bớt phí tổn cho các công ty, tăng
niềm tin vào tương lai. Đổi lại, điều đó cũng có nghĩa là có nhiều việc làm hơn, người tiêu dùng có hàng
hoá và dịch vụ tốt hơn.
9. Hệ thống này bảo vệ các chính phủ khỏi những quyền lợi hẹp hòi
Hệ thống GATT/WTO phát triển trong nửa cuối của thế kỷ XX giúp cho các chính phủ có một nhãn quan
cân bằng hơn về chính sách thương mại. Các chính phủ vững vàng hơn trong việc tự bảo vệ mình tránh
khỏi những vận động ngoài hành lang của những nhóm có quyền lợi hẹp hòi bằng việc tập trung vào
những cân đối vì lợi ích của tất cả mọi người trong nền kinh tế.
Một trong những bài học nổi bật của chủ nghĩa bảo hộ nổi bật trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX là có thể
gây ra thiệt hại nếu những quyền lợi cục bọ hẹp hòi chiếm ưu thế về ảnh hưởng chính trị. Kết quả là một
chính sách ngày càng hạn chế mà đã dẫn đến một cuộc chiến tranh thương mại không có ai thắng chỉ

chính sách của họ.
Trang ngoài MFOnews:
+ Tổ chức Thương mại Thế (WTO)
» Hậu WTO: Bốn thách thức cho các nhà sản xuất Việt Nam
(10/30/2006 8:50:43 AM)
Các nhà sản xuất VN sẽ phải đối mặt với những
thách thức gì sau khi VN gia nhập WTO? Chúng
tôi cho rằng có bốn thách thức đang chờ đón họ
trong những năm tới.
Thách thức thứ nhất: các nhà sản xuất sẽ phải đối mặt nhiều hơn với các vụ kiện bán phá giá của nước
ngoài đối với sản phẩm xuất khẩu của mình, và do đó phải xây dựng các kế hoạch phòng bị. Gia nhập
WTO không có nghĩa là sẽ giảm được rủi ro vướng vào tranh chấp thương mại với các nước đối tác, ít
nhất trong vòng 12-15 năm, là thời gian VN bị coi là có nền kinh tế phi thị trường và dễ bị các nước đối tác
tận dụng để áp đặt biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ đặc biệt cũng như tự vệ đối với
từng loại hàng hóa.
Vì nhiều nước đang phát triển cũng đang phải phụ thuộc vào xuất khẩu các hàng hóa có giá trị thặng dư
thấp, là những hàng hóa mà VN có lợi thế so sánh tương đối, nên các nhà quản lý phải xây dựng các kế
hoạch phòng bị cho các tranh chấp thương mại với các nước này.
Kế hoạch phòng bị thường bao gồm bốn bước chính: (i) nắm vững các thủ tục và luật pháp liên quan về
kiện bán phá giá và các tranh chấp thương mại khác với các nước đối tác đang phát triển trong khuôn khổ
giải quyết tranh chấp của WTO; (ii) xây dựng các giải pháp phòng ngừa tranh chấp thương mại; (iii) duy trì
các luồng tài chính và sản xuất trong khi doanh nghiệp đang bận rộn tham gia giải quyết tranh chấp
thương mại hoặc điều tra chống bán phá giá của nước ngoài; (iv) hợp tác với chính quyền địa phương và
trung ương trong các cuộc điều tra và vận động hành lang để giành được sự ủng hộ của họ.
Thách thức thứ hai: gia nhập WTO sẽ buộc các nhà sản xuất nâng cấp sản phẩm của mình trên bậc
thang giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường của họ. Việc này sẽ giúp các doanh nghiệp giảm thiểu
nguy cơ bị vướng vào các tranh chấp thương mại (nếu chỉ dừng lại ở những mặt hàng có giá trị thặng dư
thấp, sử dụng nhiều lao động thì sẽ đối mặt với rủi ro bị kiện phá giá lớn hơn vì đây cũng chính là những
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các nước đang phát triển), giảm thiểu tác động có thể có của các tranh
chấp thương mại và cải thiện tính cạnh tranh của mình, giảm khả năng bị lấn lướt bởi sản phẩm được sản

chúng. Chi phí giao dịch để áp dụng những tiêu chuẩn quốc gia này thậm chí còn cao hơn tiêu chuẩn
quốc tế.
Các nhà sản xuất VN sẽ phải đối mặt với bốn thách thức này trong bối cảnh hạn hẹp về thời gian và
nguồn lực. Cần lưu ý rằng bốn thách thức này là có liên quan và ảnh hưởng lẫn nhau, và vì thế không thể
chỉ tập trung giải quyết một thách thức mà xem nhẹ những cái còn lại. Ví dụ, chính sách phát triển sản
phẩm và chính sách địa phương hóa nhân lực có thể không bổ trợ cho nhau.
Mục đích của chính sách địa phương hóa nhân lực là cắt giảm chi phí nhân lực, trong khi chính sách phát
triển sản phẩm đòi hỏi nguồn nhân lực lành nghề thường là được đào tạo ở nước ngoài để đảm đương
việc nghiên cứu - triển khai (R&D) và thiết kế. Đây là lý do một số doanh nghiệp thích tuyển dụng Việt
kiều, một kiểu “địa phương hóa cái đã được quốc tế hóa”, tất nhiên là chi phí tiền lương phải trả cao hơn.
(Bài viết của TS. Phan Minh Ngoc- Khoa Kinh tế, Đại học Kyushu, Nhật Bản)
Thông tin liên quan:
+ Việt Nam: Thành viên thứ 150 của WTO (16/10)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status