81
ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN VÙNG ĐẤT CÁT
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Lê Văn Thăng, Nguyễn Đình Huy
Trung tâm TNMT& CNSH, Đại
học Huế
1. MỞ ĐẦU
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam, bao gồm 8
huyện và 1 thành phố. Tuy nhiên đất cát chủ yếu tập trung ở một số xã và thị
trấn của các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương
Thủy và Phú Lộc. Đất cát nội đồng có diện tích khoảng 49.289,7ha phân bố ở các
xã Phong Hiền, Phong Chương, Phong Hòa, Phong Bình, Phong Thu, Thị trấn
Phong Điền (huyện Phong Điền); Quảng Lợi, Quảng Thái, Quảng Vinh, Thị trấn
Sịa (huyện Quảng Điền); Phú Đa, Vinh Thái, Vinh Phú, Vinh Hà, Phú Lương,
Phú Xuân, Phú Hồ (huyện Phú Vang); Thủy Lương, Thủy Châu, Thị trấn Phú
Bài (huyện Hương Thủy); Lộc Thủy, Lộc Tiến (huyện Phú Lộc). Đất cát ven
biển có diện tích khoảng 25.013ha tập trung ở các xã Điền Hương, Điền Hải,
Điền Lộc, Điền Hòa, Điền Môn, Phong Hải (huyện Phong Điền); Quảng Công,
Quảng Ngạn (huyện Quảng Điền); Phú Thuận, Phú Hải, Phú Diên, Vinh Thanh,
Vinh Xuân, Vinh An, Thị trấn Thuận An (huyện Phú Vang); Hải Dương (huyện
Hương Trà); Vinh Mỹ, Vinh Hưng, Vinh Hiền, Vinh Giang, Vinh Hải, Lộc Vĩnh, 82
Lộc Hải (huyện Phú Lộc). Như vậy dải đất cát có mặt ở 46 xã trên toàn tỉnh,
trong đó đất cát nội đồng có ở 23 xã và nữa còn lại là đất cát ven biển.
Trong những năm gần đây, nghiên cứu cảnh quan làm cơ sở cho công tác
đánh giá điều kiện sinh thái tự nhiên phục vụ phát triển kinh tế xã hội của các
địa phương ở nước ta đã trở nên phổ biến. Các kết quả sau đây nhằm xây dựng
xuất phát từ những cồn cát cao đưa xuống. Đáy của Proluvi nằm trên trầm tích
biển hoặc trên cát của trầm tích biển gió hay cát trắng, bề dày của nó nhỏ hơn
3m.
2.2 Địa hình:
Dải đất cát ở Thừa Thiên Huế phân bố tập trung ở khu vực đồng bằng của
tỉnh. Đây là khu vực có độ cao địa hình từ 25m trở xuống, bao gồm cả đầm phá
và bờ biển. Đi từ Bắc đến Nam địa hình hẹp dần và bị phân cắt manh mún, chiều
rộng trung bình khoảng 18km, nơi rộng nhất đến 24km. Đi từ Tây sang Đông, địa
hình phân thành từng dải. Đó là dải thềm cổ xen kẻ với đồng bằng phù sa hiện 84
đại, dải đầm phá và ngoài cùng là dải ven bờ biển. Địa hình bề mặt rất bằng
phẳng, gồm toàn cát biển cổ. Cũng có nơi lớp đất cát bị rửa trôi, đá gốc lộ ra trên
bề mặt. Còn thềm biển thứ ba có độ cao không giống nhau, dao động trong
khoảng từ 4 - 10m, địa hình bề mặt có bị chia cắt bởi các bàu, trằm. Dạng địa
hình đụn cát xuất hiện khá dày, xen kẻ với những trũng cạn, nhưng không cao
hơn các đụn cát trên bờ biển phía đông, những đụn cát ở đây có độ cao từ 0,5 –
1,0m, là dạng địa hình do gió tạo nên sau khi biển rút lui
Ngoài ra địa hình ở đây còn có các bề mặt tích tụ đầm phá. Đối với bề mặt
từ 4-6m, phân bố khá rộng trên toàn lãnh thổ nghiên cứu có cấu tạo bởi bột xám
đen, chúng tạo nên một bề mặt phẳng, là nơi canh tác chủ yếu của người dân.
Còn bề mặt cao từ 1,5 - 2,0m là bề mặt đồng bằng thấp, thường xuyên ngập nước
vào mùa lũ, được cấu tạo bởi bùn, sét màu xám đen.
2.3 Khí hậu:
Lãnh thổ nghiên cứu nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có mùa hè nóng
khô và mùa mưa muộn. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa khí hậu hai miền Bắc -
Nam. Ở đây khí hậu có 2 mùa: mùa khô và mùa mưa. Mùa khô chịu ảnh hưởng
mạnh của gió Tây Nam khô nóng, mùa mưa chịu tác động của gió mùa Đông Bắc
Giờ
nắng
TB
(giờ)
Số
ngày
mưa
(ngày)
Lượng
mưa
(mm)
Độ
ẩm
tươ
ng
đối
TB(%
)
Độ
ẩm
thấp
nhất
(%)
Tổng
lượng
bốc hơi
38,3-
50,6
III
22,4-
24,5
35,4-
39,4
15,2-
19,4
186-
229
5-15
1,8-18,6
83-89
33-47
51,5-
94,6
IV
24,2-
27,9
35,7-
40,9
17,6-
20,6
182-
86
VI
26,1-
29,4
35,1-
38,3
20,9-
24,6
53-66
5-7 38,5-
113,8
79-81
43-47
34,9-
41,5
VII
25,9-
29,4
34,6-
39,3
20,1-
24,0
241-
284
10-19
31,6-
35,8
19,4-
21,6
84-86
23-26
534-748
89-91
49-60
41-48
X
21,7-
25,5
31,1-
33,5
12,4-
18,2
108-
120
19-21
288-407
89-91
22-23
332,6-
470,7
91-93
51-61
21,0-
37,5
[ Nguồn: Trung tâm KTTV-Thừa Thiên Huế ]
Qua bảng số liệu trên cho thấy: 87
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 25
0
C. Bắt đầu từ tháng X
đến tháng III năm sau nhiệt độ giảm xuống rõ rệt, tháng lạnh nhất trong năm là
tháng I nhiệt độ trung bình giảm xuống đến 20
0
C. Biên độ nhiệt ở đây không lớn
lắm, mùa đông từ 3 - 5
0
C và mùa hè từ 3 - 6
0
C.
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình đạt 2800 - 3200mm nhưng phân bố
không đều theo thời gian. Mùa mưa bắt đầu từ tháng IX đến tháng I năm sau,
thường từ 3 - 5 km
2
và chỉ có dòng chảy trong mùa lũ. Dòng chảy của các sông
suối trong vùng cát xuất hiện không liên tục và thường có 2 thời kỳ: lũ và kiệt.
Tuy nhiên đặc điểm về địa hình (lưu vực nhỏ), đặc điểm về địa chất (đất cát) cho
nên trong mùa lũ vẫn có kiệt
Do sông suối ngắn, dốc nên vận tốc chảy lớn, trong mùa lũ lượng cát bị
dòng chảy cuốn trôi gây nên nạn cát lấp khá phổ biến và gây tác hại lớn cho sản
xuất và đời sống xã hội
- Đối với nước ngầm thì trên lãnh thổ nghiên cứu được đánh giá là có trữ
lượng tương đối khá (1000m
3
/ngđ/km
2
), vào mùa hè mực nước ngầm cách mặt
đất khoảng 1 - 1,5m, về mùa đông mực nước còn dâng cao hơn. 89
2.5 Thổ nhưỡng:
Phân bố đất cát ở tỉnh Thừa Thiên Huế như sau:
Bảng 2: Diện tích các loại đất cát của các huyện trên tỉnh Thừa Thiên Huế
Tên đất
Diện tích (ha)
Toàn
tỉnh
Phong
Điền
Quảng
Qua khảo sát, nghiên cứu và tiến hành lấy mẫu phân tích một số chỉ tiêu
lý, hóa cơ bản của các loại đất trong phòng thí nghiệm đã cho kết quả như sau:
- Đối với đất cát ven biển: kết quả phân tích được thể hiện qua:
Bảng 3: Tổng hợp các chỉ tiêu phân tích đất ở dải cát ven biển 90
Đất
cát
ven
biển
TP
cơ
giới
Tỷ
lệ
cát
(%)
Tỷ
lệ
sét
(%)
Tỷ
trọn
g
Độ
O
5
mg/100g
đ
K
2
O
mg/100
gđ
Tầng
1
Tầng
2
Tầng
3
A1
A1,A
2
A1,A
2
85,2
85,2
84,8
14,8
14,8
2
0,04
0,03
8
0,02
8
0,12
0,09
7
0,08
4,79
4,04
4,0
4,63
4,02
4,05
(Trong đó A1 là cát, A2 là cát pha)
- Về tính chất lý học:
Các số liệu phân tích cho thấy, đất đai ở vùng cát ven biển có tính chất lý
học không thuận lợi cho đa số các loại cây trồng. Tất cả các mẫu đều có thành
phần cơ giới nhẹ, kết cấu rời rạc (có nhiều mẫu tỷ lệ cát chiếm đến 89 - 93%, còn
tỷ lệ sét chỉ 7 - 13%). Đất có tỷ trọng lớn cho nên dễ bị nén chặt và bề mặt dễ bị
trơ khi có mưa. Đất thấm nước nhanh nhưng thoát nước cũng nhanh cho nên các
chất dinh dưỡng thường bị rữa trôi, đất dễ bị xói mòn, ngập úng, tạo điều kiện 91
TP cơ
giới
Tỷ
lệ
cát(
%)
Tỷ lệ
sét(%)
Tỷ
trọn
g
Độ
xốp
(%)
pH
KCl
OM
(%)
N
(%)
P
2
2
A1,A
2
A1,A
2
82,6
82,4
81,8
27,4
27,6
28,2
2,61
2,64
2,67
52,51
-
-
4,65
4,25
3,84
3,57
(Trong đó A1 là cát, A2 là cát pha)
- Về tính chất lý học: 93
Số liệu phân tích đã thể hiện đất cát nội đồng có tính chất lý học không
mấy thuận lợi cho cây trồng. Hầu hết các mẫu đều có thành phần cơ giới tương
đối khá hơn so với đất cát biển (tỷ lệ sét cao hơn và tỷ lệ cát thấp hơn), nhưng
nhìn chung thành phần này vẫn nhẹ, có kết cấu rời rạc. Đất có tỷ trọng lớn nên
rất cần việc nâng cao độ xốp ở bề mặt.
Ở loại đất này thành phần cơ giới là cát pha chiếm một tỷ lệ rất đáng kể,
nên nó thích hợp để phát triển các loài cây công nghiệp ngắn ngày.
- Về tính chất hóa học:
+ pH: Tất cả các mẫu đất được thu thập đều có độ chua rất cao. Ngay ở tầng
canh tác thì pH cũng dao động từ 3,5 - 4,7.
+ Chất hữu cơ: Hàm lượng các chất hữu cơ trong các mẫu được phân tích
có sự khác nhau, chẳng hạn như ở Phú Đa và Quảng Thái hàm lượng các chất
hữu cơ nghèo (1,1 -1,6%) còn ở Thủy Châu và Thị trấn Phong Điền hàm lượng
này có khá hơn (1,4 - 2,2%). Nhưng nhìn chung đây là vùng có hàm lượng các
chất hữu cơ thấp.
+ NPK: Kết quả phân tích trên cho thấy, NPK tổng số và P, K dễ tiêu trong
các mẫu của các loại đất này đều thấp.
Cũng như đất cát ven biển, đất cát nội đồng ở tỉnh Thừa Thiên Huế có các
đặc điểm rất bất lợi đối với việc sử dụng vào mục đích canh tác và sản xuất. 94
Ngoài ra, bên cạnh những loại đất trên thì ở đây cũng có rải rác một số loại
đất khác như: đất phù sa không được bồi và được bồi hàng năm, phân bố chủ yếu
0
C và cao nhất lên đến > 40
0
C
Đây là vùng có tổng lượng mưa thấp nhất tỉnh, từ 2400-2600mm. Tổng
lượng mưa từ tháng I đến tháng VIII < 800mm, thường xuyên bị thiếu ẩm trong
vòng 6 tháng, bắt đầu từ tháng III đến tháng VIII (hệ số ẩm từ tháng II đến tháng
VI dao động trong 0,47- 0,90)
Ngoài ra, vùng này còn chịu ảnh hưởng mạnh của gió, bão, lũ lụt và gió
Tây khô nóng.
- Tiểu vùng II: là vùng đồng bằng từ Phú Bài đến Truồi. Đây là vùng
chuyển tiếp của tiểu vùng I nên vùng này có các đặc điểm tương tự như tiểu vùng
I. Tuy nhiên, nó khác về lượng mưa và độ ẩm.
Tổng lượng mưa ở vùng này đạt 2800 - 3200mm, mức độ khô hạn ít hơn và
cũng ít chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng so với tiểu vùng I.
- Tiểu vùng III: là vùng đồng bằng ven biển và đầm phá từ thị trấn Phú Lộc
đến Lăng Cô. Điều kiện nhiệt cũng tương tự như tiểu vùng I, nhưng khác về
lượng mưa và độ ẩm. 96
Do diện tích đầm phá lớn nên khí hậu mang tính hải dương. Biên độ nhiệt
ngày và đêm nhỏ, ít chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng. Tổng lượng mưa đạt
3200-3400mm/năm, tổng lượng mưa của mùa ít mưa cũng đạt trên 900mm. Vùng cát
ven biển thường bị hạn vào mùa ít mưa.
3.2 Đặc điểm cảnh quan của vùng đất cát tỉnh Thừa Thiên Huế:
Khi xây dựng bản đồ sinh thái cảnh quan cho lãnh thổ nghiên cứu, cần phải
xác lập một hệ thống phân loại cảnh quan phù hợp với tỷ lệ bản đồ và lãnh thổ
nghiên cứu cụ thể. Cho đến nay, đã có nhiều hệ thống phân loại cảnh quan của
nhiều tác giả như: A.G Ixatrenko (1961), N.A Gvozdexki (1961), Nhikolaev
Hệ cảnh quan nhiệt đới gió mùa Đông
Nam Á
Phụ hệ
CQ
Chế độ hoàn lưu gió mùa
làm phân phối lại nhiệt ẩm ở
các đới
Phụ hệ cảnh quan nhiệt đới gió mùa
với khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền
Nam - Bắc
Lớp
CQ
Đặc điểm cấu trúc hình thái
địa hình các lớp xác định
kiểu địa đới hay phi địa đới
Lớp cảnh quan vùng cát: có 2 phụ lớp,
với 109 loại
Phụ
lớp CQ
Tính phân tầng của các điều
kiện và quá trình tự nhiên
Phụ lớp cảnh quan vùng cát nội đồng:
có 64 loại
Phụ lớp cảnh quan vùng cát ven biển:
có 45 loại
Kiểu Đặc điểm sinh khí hậu trong Toàn khu vực nghiên cứu chỉ có một 98
và 24 loại ở phụ lớp cát ven biển). 99
4. Kết luận:
Bản đồ sinh thái cảnh quan là sản phẩm của quá trình nghiên cứu tổng hợp,
được xem là nền tảng cơ bản để đề xuất các giải pháp cải tạo và sử dụng bền
vững vùng đất cát nội đồng và ven biển ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong bảng chú
giải ma trận, các cấp phân vị được xếp theo 2 nhóm chủ yếu là: nền tảng nhiệt -
ẩm và nền tảng rắn. Nhóm nền tảng nhiệt - ẩm gồm: hệ, phụ hệ, kiểu và phụ kiểu
cảnh quan được sắp xếp theo hàng ngang. Nhóm nền tảng rắn gồm: lớp và phụ
lớp được sắp xếp theo cột dọc. Loại cảnh quan là kết quả của sự giao thoa giữa
hàng và cột.
Ghi chú: Bài báo thực hiện nhờ sự tài trợ của đề tài NCCB mang mã số
740902
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh. Cơ sở
cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
môi trường lãnh thổ Việt Nam. NXB Giáo dục, Hà Nội (1997).
2. Lê Văn Thăng, Hà Học Kanh. Tư vấn về kiểm soát sự di chuyển cát ở
vùng Ngũ Điền, Huế (2000)
3. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế. Dự án trồng rừng phòng hộ vùng cát ven
biển Thừa Thiên Huế, Huế (1999) 100
4. Trần Văn Ý. Nghiên cứu xây dựng các giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý
các dải cát ven biển miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, Thuyết
minh đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Hà Nội (2002)
TÓM TẮT