BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài : Phân tích nội dung qui luật từ
những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay
đổi về chất và ngược lại.
1
Mục lục
M UỞĐẦ 3
PH N IẦ 5
1- Các khái ni mệ 5
1.1- Khái ni m v ch tệ ề ấ 5
1.3- Khái ni m v ệ ềĐộ 6
1.4- i m nútĐể 6
1-5-B c nh yướ ả 6
2- N i dung quy lu t t nh ng thay i d n v l ng d n n s thay i v ộ ậ ừ ữ đổ ầ ề ượ ấ đế ự đổ ề
ch t v ng c l i.ấ à ượ ạ 7
N i dung duy lu t n y c phát bi u nh sauộ ậ à đượ ể ư 7
PH N IIẦ 10
1-Tính t t y u khách quan c a kinh t th tr ng nh h ng CNXH ấ ế ủ ế ị ườ đị ướ ở
n c taướ 10
2-Nh ng th nh t u m chúng ta ã t c sau 15 n m i m i.ữ à ự à đ đạ đượ ă đổ ớ 12
2
MỞ ĐẦU
Trong đời sống hàng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn
vẻ, con người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp
lại của các hiện tượng, từ đó hình thành nên khái niệm “quy luật”. Với tư
cách là phạm trù của lý luận nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm
của tư duy khoa học, phản ánh sự liên hệ của các sự vật và tính chỉnh thể của
chúng.
Các quy luật của tự nhiên, của xã hội cũng như của tư duy con người
đều mang tính khách quan. Con người không thể tạo ra hoặc tự ý xoá bó
PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUY LUẬT TỪ NHỮNG THAY ĐỔI
VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI
Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược
lại là một trong những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy
luật này chỉ rõ tính chất và cách thức của sự phát triển.
1- Các khái niệm
1.1- Khái niệm về chất
Chất là tính quy định vốn có của sự vật hiện tượng được biểu hiện
thông qua các thuộc tính và đặc điểm cấu trúc của sự vật. Tính quy định là
cái vốn có của sự vật, hiện tượng để phân biệt sự vật này với sự vật khác.
Tính quy định này được thể hiện thông qua các thuộc tính. Có thuộc tính cơ
bản và không cơ bản. Thuộc tính cơ bản quy định chất của sự vật. Nếu thuộc
tính cơ bản mất đi thì chất của sự vật thay đổi. Còn thuộc tính không cơ bản
thì trong quá trình tồn tại của sự vật, có những thuộc tính không cơ bản mới
nảy sinh vàcó những thuộc tính không cơ bản mất đi nhưng chất của sự vật
không thay đổi. Thuộc tính chỉ bộc lộ thông qua quan hệ với sự vật khác.
Trong sự vật, hiện tượng, chất không tách rời với lượng
1.2-Lượng của sự vật
Là tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng, chỉ rõ về mặt quy mô,
tốc độ, trình độ phát triển của sự vật, hiện tượng. Nói đến lượng sự vật tức là
sự vật đó lớn hay bé, tốc độ phát triển nhanh hay chậm, trình độ cao hay
thấp v v đo bằng các đại lượng cụ thể, bằng số tuyệt đối như trong lượng,
thể tích hoặc so sánh với vật thể khác, thời kỳ này với thời kỳ khác.
5
Ví dụ tốc độ của ánh sáng là 300.000km/giây, một cái bàn có chiều cao
80 phân, một nước có 50 triệu dân v v
1.3- Khái niệm về Độ
Độ là giới hạn mà trong đó lượng biến đổi chưa gây nên sự thay đổi căn
bản về chất. Sự vật vẫn là nó, mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong một
hiện tượng. Lượng thì thường xuyên biến đổi, còn chất tương đối ổn định.
Do đó sự phát triển của lượng tới một lúc nào đó thì mâu thuẫn với chất cũ.
Khi chất cũ kìm hãm thì qua đó nảy sinh yêu cầu tất yếu phải phá vỡ chất cũ,
mở ra một độ mới để mở đường cho lượng phát triển. Sự chuyển hoá từ
những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi vê chất, diễn ra một cách
phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Quy luật này còn có chiều ngược lại, tức là không chỉ thay đổi về lượng
dẫn đến thay đổi về chất mà sau khi chất mới ra đời do sự biến đổi về lượng
gây nên thì chất đó lại quy định sự biến đổi về lượng, ảnh hởng của chất mới
đến lượng thể hiện ở quy mô, mức độ, nhịp điệu phát triển mới.
Nội dung duy luật này được phát biểu như sau
Mọi sự vật hiện tượng dều vận động, phát triển bằng cách thay đổi dần
về lượng, lượng thay đổi đến một lúc nào đó vượt quá độ tồn tại của sự vật
tới điểm nút thì diễn ra bước nhảy, tạo sự thay đổi về chất của sự vật. Kết
quả là sự vật cũ, chất cũ mất đi và sự vật mới, chất mới ra đời. Chất mới lại
tác động trở lại lượng mới, lượng mới lại tiếp tục thay đổi dần, đến lúc nào
đó, vượt quá độ tồn tại của sự vật tới điểm nút thì lại diễn ra bước nhảy tạo
7
sự thay đổi về chất, cứ như vậy sự tác động qua lại giữa hai mặt chất và
lượng tạo ra con đường vận động, phát triển không ngừng của mọi sự vật,
hiện tượng.
8
Điều cần chú ý là:
-Quy luật này chỉ được thể hiện trong mối quan hệ giữa chất và lượng
hoàn toàn xác định, mối quan hệ này hình thành một cách khách quan chứ
không thể gán ghép một cách tuỳ tiện. đồng thời sự chuyển hoá lượng và
chất bao giờ cũng phụ thuộc vào những điều kiện nhất định.
-Quy luật lượng-chất được vận dụng trong xã hội thể hiện ở mối quan hệ
giữa tiến hoá và cách mạng. Trong sự phát triển của xã hội, sự thay đổi dần
về lượng gọi là tiến hoá, còn sự thay đổi về chất theo hướng tiến hoá lên gọi
trường tự do theo cách nói của tư bản, tức là không phải nền kinh tế thị
trường TBCN, và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường XHCN, còn có
sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có lại vừa chưa có đầy
đủ các yếu tố CNXH.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là một tất
yếu khách quan. Bởi vì.
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN là kết quả của sự nhận thức và
vận dụng quy luật vè sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất. Cùng với CNH, HĐH đất nước, nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN là con đường kinh tế cơ bản đưa nước ta quá độ
lên CNXH.
10
- Nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH, là thời kỳ đang thực hiện
hoá dần dần CNXH, thời kỳ xuất hiện nhiều hình thức kinh tế quá độ, vừa có
CNXH vừa còn CNTB. Chủ trương xây dựng kinh tế thị trường định hướng
XHCN là phù hợp với bản chất của thời kỳ lịch sử đặc biệt này.
- Chúng ta đã biết thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, trong
đó kết cấu kinh tế - xã hội vừa bao hàm những yếu tố của xã hội cũ đang suy
thoái dần, vừa bao hàm những yếu tố của xã hội mới ra đời đang lớn lên từng
bước nhưng chưa dành toàn thắng.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ mà xã hội đang chuyển từ chế độ này sang
chế độ khác, ở đó chưa có phương thức sản xuất nào giữ vị trí thống trị tuyệt
đối, trong đó mỗi phương thức chỉ là một “mảnh” một “bộ phận” của kết
cấu kinh tế xã hội, vừa độc lập tương đối, vừa hợp tác và đấu tranh với nhau.
Mỗi “mảnh”, mỗi “bộ phận” ấy là một thành phần kinh tế.
Thành phần kinh tế khác phương thức sản xuất ở chỗ khi nó chưa
vươn lên đóng vai trò thống trị, nhưng cũng không ở vào vị trí chi phối, nó
tồn tại như một bộ phận tương đối độc lập, đan xen với các bộ phận khác của
kết cấu kinh tế-xã hội. Do vậy, nền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng
riêng có của thời kỳ quá độ lên CNXH.
Thực tiễn sau 15 năm đổi mới đã khẳng định chủ trương xây dựng kinh
tế nhiều thành phần là phù họp với phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta.
Nó đã thực sự giải phóng , phát triển và khơi dậy các tiềm năng của sản xuất.
Khơi dậy năng lực sáng tạo chủ động của các chủ thể kinh tế trong sản xuất
đưa nước ta ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế- xã hội.
12
PHẦN KẾT LUẬN
Như vậy, lượng và chất là hai mặt thống nhất biện chứng của sự vật,
chỉ khi nào lượng được tích luỹ tới một độ nhất định mới làm thay đổi về
chất, nên trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn cũng như trong nhận thực khoa
học phải chú ý tích luỹ dần dần những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết
thực hiện và thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi.
Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH chính là bước nhảy dần dần từ
chất cũ sang chất mới. Trong quá trình tiến hoá cách mạng, một mặt phải
chống khuynh hướng bảo thủ, trị trệ, nhằm tạo ra những bước nhảy để đẩy
nhanh sự phát triển, mặt khác, lại phải chống tư tưởng nóng vội, muốn đưa
nhanh sự phát triển, tiến hành những bước nhảy khi chưa có điều kiện chín
muồi, bất chấp những quy luật khách quan.
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mác - Lênin
2. Nghị quyết đại hội Đảng lần 8 - 9
3. Vận dụng nghị quyết 9.
4. Tạp chí cộng sản.
14