Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập và vận dụng quy luật đó vào trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Pdf 48

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay gọi là quy luật
mâu thuẫn) là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và
biện chứng duy vật lịch sử khẳng định rằng: mọi sự vật và hiện tượng trong tự
nhiên đều tồn tại và mâu thuẫn bên trong. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong
mọi sự vật của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người. Mâu thuẫn
tồn tại từ khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc.Trong mỗi một sự vật có
rất nhiều mâu thuẫn và sự vật trong cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lập.Mâu
thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại được hình thành…
Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã
đạt được những thành tưụ bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong
việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
đó là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, nền kinh tế đã bộc lộ nhiều mâu
thuẫn, bởi bên cạnh những ưu điểm, kinh tế thị trường luôn chứa đựng những
mặt tiêu cực mang tính nội tại kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới.
Giải quyết được những mâu thuẫn ấy chính là tạo động lực cho sự phát triển
kinh tế một cách vững chắc và ổn định theo đúng những định hướng đã đặt
ra.Vì vậy, trong phạm vi của một bài tiểu luận, em chọn đề tài: ”Phân tích nội
dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập và vận dụng
quy luật đó vào trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam”.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài : Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn quá
độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường (KTTT). Một trong những luận điểm rất quan trọng phản ánh tư duy
mới của đảng ta thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng lần VI là: Chính sách cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần. Đảng ta từng bước khẳng định chủ trương xây
dựng ở nước ta một nền KTTT theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).Trãi

6.Ý nghĩa của đề tài: Nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập cho biết nguyên nhân hay nguồn gốc và động lực của sự vận động và
phát triển, nó có tác dụng nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương
hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát
hiện ra mâu thuẫn của sự vật.
7.Kết cấu của tiểu luận:
Phần mở đầu
Phần nội dung: 2 chương, 5tiết
Phần kết luận
Hà Nội, tháng3/2004
2

NỘI DUNG
Chương I: Lý luận chung về mâu thuẫn

Ngay từ thời cổ đại đã có những phỏng đoán thiên tài về sự tác động qua
lại của các mặt đối lập và xem xét sự tác động đó là cơ sở vận động của thế
giới. Nhiều đại biểu triết học cổ đại Phương Đông đã xem vận động do sự
hình thành những đối lập và các đối lập ấy luôn luôn vận động. Nhà triết học
Hy Lạp cổ đại Hêracơlit-người được Lênin coi là ông tổ của phép biện chứng
cho rằng trong sự vận động biện chứng vĩnh viễn của mình, các sự vật đều có
xu hướng chuyển sang các mặt đối lập… Tư tưởng biện chứng về những đối
lập đạt được đỉnh cao nhất trong sự phát triển của phép biện chứng của các nhà
triết học cổ điển Đức,tiêu biểu là I.Cantơ và G.V.Hêghen.
Các antinômi của Cantơ xuất hiện trên cơ sở vượt quá trình độ nhận thức
có tính chất kinh nghiệm khi Cantơ xem các mặt đối lập la những đối lập về
chất.Song không giải quyết được vấn đề Các antinômi,Cantơ đã đi tới từ bỏ
việc thừa nhận các mâu thuẫn khách quan.Ông xem sự tồn tại của mâu thuẫn là
bằng chứng nói lên tính bất lực của con người trong việc nhận thức thế giới.
Khi nghiên cứu phép biện chứng trong sự vận động và phát triển của “ý

thế giới khách quan, không phải chỉ tồn tại trong đó hai mặt đối lập mà trong
cùng một thời điểm ở mỗi sự vật có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập, có
những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật nhưng có
khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ phủ định và chuyển hoá lẫn
nhau.Sự chuyển hóa này tạo thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định các
bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật thì hai mặt đối lập như vậy mới
gọi là hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến. Mâu thuẫn mang tính
khách quan vì là cái vốn có trong các sự vật, hiện tượng và tồn tại trong tất cả
các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy nên có tính phổ biến.Chính vì vậy mâu
thuẫn rất đa dạng và phức tạp.Mâu thuẫn trong mỗi sự vật hiện tương và trong
các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau và trong bản thân mỗi sự vật hiện
tượng lại bao hàm nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn và mỗi mặt của mâu thuẫn
lại có đặc điểm ,vai trò tác động lẫn nhau đối với sự vận động và phát triển của
sự vật .Vì vậy cần phải có phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một
cách cụ thể.

1.2-Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất vừa
đấu tranh với nhau:
1.2.1-Sự thống nhất của các mặt đối lập :
Hai mặt đối lập trong sự vật tồn tại trong sư thống nhất của chúng.”Sự thống
nhất” của các mặt đối lập được hiểu với ý nghĩa không phải chúng đứng bên
cạnh nhau mà là “nương tựa” vào nhau,tạo ra sự phù hợp,cân bằng như liên hệ
phụ thuộc, qui định và ràng buộc lẫn nhau.Mặt đối lập này lấy mặt đối lập làm
tiền đề cho sự tồn tại của chính mình và ngược lại.Nếu thiếu một trong hai mặt
đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại của sự vật.Bởi
vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiêú được cho sư
tồn tại của bất kì sự vật hiện tượng nào.Sự thống nhất này do những đặc điểm
riêng có của bản thấn sự vật tạo nên.
*Ví dụ: Quan hệ lực lưọng sản xuất-quan hệ sản xuất trong phương thức

1.2.2-Sự đấu tranh của các mặt đôí lập:
Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn luôn tác động qua lại
với nhau, ”đấu tranh” với nhau. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động
qua laị theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. Bởi vì các
mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn
vẹn nhưng không nằm yên bên nhau điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành
động lực phát triển của bản thân sự vật.Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ
định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều dạng
khác nhau.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội có giai cấp đối
kháng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc
hậu, kìm hãm nó diễn ra gay gắt và quyết liệt. Chỉ có thông qua các cuộc cách
mạng xã hội bằng nhiều hình thức kể cả bạo lực mới có thể giải quyết được
mâu thuẫn một cách căn bản.
Không thể hiểu đấu tranh của các mặt đối lập chỉ là sự thủ tiêu lẫn nhau
giữa các mặt đó. Sự thủ tiêu chỉ là một trong những hình thức đấu tranh cảu
các mặt đối lập.Tính đa dạng của hình thức đấu tranh giữa các mặt đối lập tuỳ
thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như mối quan hệ qua lại giữa
chúng, phụ thuộc vào lĩnh vực tồn tại của các mặt đối lập, phụ thuộc vào điều
kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập .
Với tư cách là hai trạng thái đối lập trong mối quan hệ qua lại giữa hai
mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có quan hệ chặt chẽ
với nhau.Sự thống nhất có quan hệ hữu cơ với sự đứng im, sự ổn định tạm thời
5
của vật.Sự đấu tranh của mối quan hệ gắn bó với tính tuỵêt đối của sự vận
động và phát triển.Điều đó có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là
tương đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. Lênin viết:”Mặc dù
thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý nghĩa nó chính là nó nhờ có
sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận biết được sự vật, hiện
tượng tồn tại trong thế giới khách quan.Song bản thân của sự thống nhất chỉ là

Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là
sự hoán vị đổi chỗ một cách giản đơn máy móc.Thông thường mâu thuẫn
chuyển hoá theo hai phương thức:
+Phương thức thứ 1: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia
nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật .
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấu
tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới cao hơn về trình độ.
6
+Phương thức thứ 2: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để hình thành
hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ kế hoạch tập trung, quan liêu bao
cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Tóm lại: Từ lý luận về mâu thuẫn cho ta thấy trong thế giới hiện thực bất kì
sự vật hiện tượng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những
thuộc tính có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau. Sự đâú tranh và
chuyển hoá của các mặt đối lập trong những điều kiện cụ thể tạo thành mâu
thuẫn.Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn
được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành, sự vật mới lại nảy
sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới .Các mặt đối lập này lại đấu tranh
chuyển hoá và phủ định lẫn nhau để tạo thành sự vật mới hơn.Cứ như vậy mà
các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan thường xuyên phát triển và
biến đổi
không ngừng. Vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi sự phát
triển.

******************************

Chương II: Kinh tế thị trường và mâu thuẫn

*Cơ chế thị trường: là cơ chế tự chỉnh nền kinh tế hàng hoá dưới sự tác động
khách quan của các quy luật kinh tế vốn có của nó,cơ chế đó được giải quyết
những vấn đề cơ bản của nền kinh tế .
Từ đó ta có khái niệm: “Nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ bản của
nó do thị trường quyết định, vận động theo cơ chế thị trường gọi là “nền kinh
tế thị trường””.
Trong hội thảo “Phấn đấu đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống ” có hai ý
kiến khác nhau:
Một là, xem kinh tế thị trường là phương thức vận hành kinh tế lấy thị
trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hoá làm người phân phối các
nguồn lực chủ yếu, lấy lợi ích vật chất , cung cầu, thị trường mua bán giữa hai
bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế. Nó là một phương tổ chức vận
hành kinh tế-xã hội. Tự nó không mang tính kinh tế-xã hội, không tốt mà cũng
không xấu.Tốt hay xấu là do người sử dụng nó. Theo quan điểm này, kinh tế
thị trường là vật “trung tính”, là “công nghệ sản xuất” ai sử dụng cũng được.
Hai là, xem kinh tế thị trường là một loại quan hệ kinh tế-xã hội, nó in đậm
dấu của lực lượng xã hội làm chủ thị trường. Kinh tế thị trường là một phạm
trù kinh tế hoạt động, có chủ thể của quá trình hoạt động đó, có sự tác động lẫn
nhau của các chủ thể hoạt động. Trong xã hội có giai cấp, chủ thể hoạt động
trong KTTT không phải chỉ là cái riêng lẻ đó còn là những tập đoàn xã hội,
những giai cấp. Sự hoạt động qua lại của các chủ thể hành động đó có thể có
lợi cho người này tầng lớp hay giai cấp này, có hại cho tầng lớp hay giai cấp
khác cho nên KTTT có mặt tích cực, có mặt tiêu cực nhất định không thể nhấn
mạnh chỉ một mặt trong hai mặt đó.
Hiện nay không có một nước nào trên thế giới có nền KTTT vận động theo
cơ chế thị trường “hoàn hảo”, hoàn toàn do sự chi phối của “bàn tay vô hình”
theo cách nói của Adam Smith, nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh ở
thế kỷ XIII mà trái lại chúng đều vận động theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của nhà nứơc ở những mức độ phạm vi khác nhau. Và ở nước ta KTTT mà
Đảng và nhà nước ta chủ trương xây dựng và phát triển trong thời kì quá độ

KTTT gắn liền với nhà nước pháp quyền và nhà nước sẽ quản lý bằng pháp
luật.

2.2-Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
2.2.1-Sự cần thiết khách quan phải phát triển nền KTTT định hướng
XHCN ở nước ta.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau. Mỗi một
mô hình đó là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều
kiện lịch sử cụ thể. Có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất và đời
sống của nhân loại đã và đang trãi qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hai
thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là thời đại kinh tế tự nhiên, tự cung-
tự cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá mà giai đoạn cao của nó được gọi là
KTTT.
Kinh tế tự nhiên là kiểu kinh tế–xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là phương
thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ ban đầu là sử dụng những tặng vật của tự
nhiên và sau đó đựơc thực hiện thông qua những tác động trực tiếp vào tự
nhiên để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì sự sinh tồn của con
người. Nó được bó hẹp trong mối quan hệ tuàn hoàn khép kín giữa con ngươì
và tự nhiên, mà tiêu biểu là giữa lao động và đất đai làm nền tảng. Hoạt động
kinh tế gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh tế nông nghiệp tự cung-tự cấp. Nó
đã tồn tại và thống trị trong các xã hội Công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ,
phong kiến và tuy không còn giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tại trong
XHTB cho đến ngày nay. Kinh tế tự nhiên, hiện vật, sinh tồn, tự cung-tự cấp
gắn liền với quan niệm truyền thống về kinh tế XHCN tuy đã có tác dụng trong
điều kiện chiến tranh, góp phần mang lại chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta,
9
song khi chuyển sang xây dựng và phát triển kinh tế, chính mô hình đó đã tạo
ra nhiều khuyết tật, nền kinh tế không có động lực, không có sức đua tranh,
không phát huy được tính chủ động sáng tạo của người lao động, của các chủ

hành kinh tế. Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do
những đòi hỏi khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất. Nó là phương
thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển. Quá trình hình thành và phát triển
KTTT là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội, phát triển khoa học-
công nghệ mới và ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh. Sự phát
triển của KTTT gắn liền với quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại,
của khoa học-kỹ thuật, của lực lượng sản xuất.
Cho đến cuối những năm 80, về cơ bản trong nền kinh tế nước ta sản xuất
nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, hiện vật, tự cung-tự cấp
đang còn chiếm ưu thế. Xã hội Việt Nam về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của
văn minh nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đại đa số. Việt Nam vẫn là
một nước nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển. Phát triển trở thành nhiệm vụ,
10
mục tiêu số một đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong bước đường đi tới. Muốn
vậy phải chuyển toàn bộ nền kinh tế quốc dân sang trạng thái của sự phát triển
là phát triển nền KTTT cùng với nó là thực hiện công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Sự phát triển kinh tế xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu xã hội, nhân
văn nhất định. Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng về lượng
(tăng trưởng kinh tế) còn bao hàm cả sự thay đổi về chất (những biến đổi về
mặt xã hội). Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của C.Mác là một thành tựu
khoa học của loài người. Nó phác hoạ quy luật vận động tổng quát của nhân
loại, và sự phát triển của xã hội loài ngừơi sẽ tiến tới Chủ nghĩa Cộng sản mà
giai đoạn thấp của nó là CNXH. CNXH không đối lập với phát triển, với
KTTT , mà là một nấc thang phát triển của loài người được đánh dấu bằng tiến
bộ xã hội của sự phát triển. Nó là cách thức giải quyết của các quan hệ xã hội ,
là một sự thiết lập một trật tự xã hội với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh. Cuộc đấu tranh cách mạng trường kỳ gian khổ và quyết
liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu
là chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng nhân dân lao động đem lại cuộc

quan trọng có ý nghĩa quyết định đế sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Nền kinh tế hàng hoá, nền KTTT phải là một nền kinh tế đa thành phần, đa
hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền KTTT mà chúng ta sẽ xây dựng là nền
KTTT hiện đại, cho nên cần có sự tham gia bởi “Bàn tay hữu hình” của nhà
nước trong việc điều tiết, quản lí nền kinh tế đó. Đồng thời, chính nó sẽ bảo
đảm sự định hướng phát triển của nền KTTT. Việc xây dựng kinh tế Nhà nước
giữ vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa KTTT định
hướng XHCN với KTTT TBCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế ở
nước ta đã quy định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bởi lẽ mỗi một chế
độ xã hội đều có một cơ sở cho chế độ xã hội mới-chế độ XHCN.
Thứ ba, nhà nước quản lý nền định hướng XHCN ở nước ta là nhà
nước pháp quyền XHCN, là nhà nước của dân, do dân và vỡ dõn. Thành
tố quan trọng mang tớnh quyết định trong nền KTTT hiện đại là nhà
nước tham gia vào các quá trỡnh kinh tế. Nhà nước ta là nhà nước
"của dân, do dõn và vỡ dõn", nhà nước công nông, nhà nước của đại đa số
nhân dân lao động, đặt dưới sự lónh đạo của ĐCS Việt Nam. Nó có đủ bản
lĩnh, khả năng và đang tự đổi mới để bảo đảm giữ vững định hướng XHCN
trong việc phát triển nền KTTT hiện đại ở nước ta .
Thứ tư, cơ chế vận hành của nền kinh tế được thực hiện thông qua
cơ chế thị trường với sự tham gia quản lý, điều tiết của Nhà nước.
Mọi hoạt động sản xuất- kinh doanh trong nền kinh tế được thực hiện
thụng qua thị trường. Điều đó có nghĩa là nền KTTT định hướng XHCN
ở nước ta vận động theo những quy luật nội tại của nền KTTT nói
chung, thị trường có vai trũ quyết định đối với việc phân phối các nguồn
lực kinh tế. Việc quản lý Nhà nước nhằm hạn chế, khắc phục những "thất
bại của thị trường", thực hiện các mục tiêu xó hội, nhõn đạo mà bản
thân thị trường không thể làm được.
Vai trũ quản lý của Nhà nước trong nền KTTT hết sức quan trọng . Sự
quản lý của Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu
quả, đặc biệt là bảo đảm sự công bằng và tiến bộ xó hội. Khụng cú ai ngoài

vào sự phát triển, khả năng và sức mạnh kinh tế của quốc gia.
Túm lại, quỏ trỡnh phỏt triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta phải
là "Quá trỡnh thực hiện dõn giàu nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xó
hội nhõn dõn làm chủ, nhõn ỏi, cú văn hóa, có kỉ cương, xóa bỏ áp bức bất
công tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc".
Từ những đặc trưng và sự phát triển đúng hướng của nền KTTT ở nước ta
chúng ta đó đạt được nhiều thành tựu to lớn:
* Nền kinh tế Việt Nam chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa toàn diện,
khép kín sang một nền KTTT mới, theo định hướng XHCN. Công cuộc đổi
mới kinh tế- xó hội được mở đầu từ Đại hội VI của ĐCS Việt Nam ( 1986)
- Năm 1991 Đại hội VII của Đảng nhận định "Công cuộc đổi mới đó đạt được
những thành tựu bước đầu quan trọng nhưng nước ta vẫn chưa thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế xó hội".
- Năm 1996 Đại hội đảng VIII nhận định "Nước ta đó ra khỏi cuộc khủng
hoảng kinh tế- xó hội, nhưng một số mặt cũn chưa được củng cố vững chắc".
Nền kinh tế Việt Nam đó ra khỏi khủng hoảng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế
ngày càng cao: tốc độ tăng GDP bỡnh quõn thời kỳ 1986- 1990 là 3,6%; 1991-
1995 là 8,2%; 1996-2000 là 7%.
* Lạm phát được đẩy lùi từ 67,4% năm 1990 xuống 12,7% năm 1995, 0,1%
năm 1999 và 0% năm 2000. Phá được thế bao vây cấm vận, mở rộng quan
hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiờn tiến.
* Điều kiện vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rừ rệt, văn hóa
không ngừng tiến bộ. Việt Nam từ một nước thiếu lương thực đó trở thành một
nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.
* Quốc phũng và an ninh được đảm bảo, ổn định chính trị được giữ vững, các
mối quan hệ kinh tế được mở rộng với nhiều nước trên thế giới, bộ mặt đất
nước đó cú những biến đổi to lớn trên mọi lĩnh vực.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status