Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngay khi xuất hiện, con người đã tiến hành các hoạt động khác
nhau như kinh tế, xã hội, văn hóa… Trong đó hoạt động kinh tế giữ vị trí
trung tâm và là cơ sở cho các hoạt động khác: xã hội càng phát triển, hoạt
động sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là
hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người. Bằng việc
“sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián
tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”. Đây là một quan điểm
duy vật hết sức cơ bản và khoa học. Quan điểm này là cơ sở để xem xét
giải thích nguồn gốc sâu xa của mọi hiện tượng kinh tế xã hội, đồng thời
nó cho chúng ta thấy được căn nguyên cơ bản của quá trình phát triển của
lịch sử xã hội loại người là thay đổi các phương thức sản xuất vật chất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản
xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một
cách biện chứng tạo thành quy luật, sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự
vận động, phát triển xã hội. Vận dụng quy luật cơ bản trên Đảng ta đã đề
ra những đường lối chủ trương vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất
nước. Nhìn lại chặng đường mà chúng ta đã đi qua: trước khi đổi mới đất
nước thật sự khó khăn. Bao nhiêu câu hỏi đặt ra, bao nhiêu lo lắng, băn
khoăn về tương lai đất nước. Hơn 20 năm đi qua, những câu hỏi đó đã có
lời đáp để ngày hôm nay chúng ta hãnh diện, tự hào hạnh phúc với một đất
nước Việt Nam có một vị thế hoàn toàn mới, một đât nước Việt Nam thật
sự đàng hoàng, to đẹp trong cảm nhận của bạn bề quốc tế. Đảng của chúng
ta đã thật sự vĩ đại và thành công đã đưa đất nước đến ngày hôm nay.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương , mỗi người cần phải có
sự quan tâm hiểu biết về tình hình phát triển của đất nước mình cũng như
những nhân tố tác động đến sự phát triển ấy. Đó chính là lí do em chọn đề
tài này. Qua đây em muốn gửi lời cảm ơn đến cô, những bài giảng của cô
dẫn dắt chúng em hiểu biết sâu sắc hơn về con đường mà đất nước chúng
2.2) Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất vào sự phát triển kinh tế dưới sự
lãnh đạo của Đảng
7
2.2.1) Việt Nam trong thời kì đổi mới và hội nhập (1986 – 2006) 8
2.2.2) Định hướng phát triển kinh tế Việt Nam 11
III) Kết thúc vấn đề
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I) NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT “QUAN HỆ SẢN
XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC
LƯỢNG SẢN XUẤT”.
1. Vai trò của quy luật “quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ của lực lượng sản xuất”.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình phát
triển của nhân loại qua các chế độ xã hội làm cho xã hội này thay thế xã
hội khác từ thấp đến cao. Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ
chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong
kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác
động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật “quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất” là quy luạt cơ
bản nhất
2. Vận dụng sáng tạo của Đảng.
Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất “Đảng và nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán
và lâu dài chình sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng
phía trước, bởi chủ nghĩa xã hội đổi mới của Việt Nam là biểu hiện sinh
động sự thống nhất biện chứng thuộc tính khoa học và thuộc tính cách
mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh của sự vận dụng
sáng tạo quy luật quan hệ sản xuất phù với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất của Đảng ta vào quá trình phát triển kinh tế. Trong những
năm gần đây nền kinh tế nước ta tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng
cao. Đặc biệt trong năm 2007 hầu hết các chỉ tiêu kinh tế xã hội đều đạt và
vượt mức quốc hội đề ra, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực,
thương mại trong nước và dịch cụ tiếp tục phát triển, xuất khẩu đạt hơn
48,3 tỉ đồng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt 20,3 tỉ USD, mức cao
nhất từ trước đến nay. Các lĩnh vực khoa học công nghệ, bảo vệ môi
trường, giáo dục đào tạo… đều có chuyển biến theo chiều hướng tích cực,
đời sống nhân dân được cải thiện. Việc ra nhập “sân chơi” WTO đã đánh
dấu bước ngoặc quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam, mở ra giai đoạn
phát triển mới – giai đoạn kinh tế Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế
giới. Với thành công ngày càng to lớn của công cuộc đổi mới, đất nước ta,
một lần nữa trở thành nơi gửi gắm niềm tin và sự kì vọng của bạn bè quốc
tế. Việt Nam hôm nay đang được nhìn nhận một cách đầy ngưỡng mộ
“đường lối đổi mới trong đó kết hợp kinh tế thị trường với kế hoạch tiến
lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần
kinh tế là con đường của những người mở đường mới mẻ trong lịch sử…
hi vọng rằng Đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã từng
chiến thắng trong cuộc đấu trang dầy gian khổ trước đây, sẽ thành công
trước thách thức mới trên chặng đường chưa một ai đi qua” (lời chào
mừng đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX ĐCSVN, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội 2001, trang 53)
* Hạn chế:
Bên cạnh những thành tựu nước ta tiềm ẩn những khó khăn thử
thách. Sự phát triển xã hội, kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội
có được, nền kinh tế còn nhỏ bé, trình độ năng suất lao động thấp, khả
động sản xuất. Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản
xuất. Cùng với quá trình tích lụy kinh nghiệm, với những phát minh và
sáng chế kĩ thuật, công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn
thiện. Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã
làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu
xa của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là
thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân
biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử.
“Bàn tay con người dài ra, khối óc lớn hơn” trong sự phát triển của
lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn. Sự phát triển
của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản
xuất phát triển. Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành
nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời
sống và trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”. Sức lao động đặc trưng
cho lao động hiện đại không còn chỉ là kinh nghiệm và thói quen của họ
mà là tri thức khoa học. Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc
trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
2.1.2 Khái niệm về quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình
sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:
quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản
lí sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra.
Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cách khách quan trong qúa trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của con người. C.Mác viết: “Trong sản xuất, người ta không chỉ
quan hệ với tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết
hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt
động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ
2.1.3 Quy luật “quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất”.
Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện
trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó.
Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động,
trình độ, kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người, trình độ tổ chức
và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.
Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản
xuất. Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa. Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ
công, phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có
tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí, hiện đại, phân công
lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa.
Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi
quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới
ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là
“hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất. Trong trạng thái đó, tất cả
các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản
xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp
một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực
lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm
cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát
triển của lực lượng sản xuất dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng gay
gắt. Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản
xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Yêu cầu khách quan của sự