Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
LỜI MỞ ĐẦU
Lao động sản xuất là cơ sở tồn tại và phát triển xã hội loài người.
Trong quá trình sản xuất một mặt con người tác động vào giới tự nhiên để
tìm hiểu những thuộc tính của nó nhằm phục vụ lơi ích của mình, mặt khác
trong quá trình đó xuất hiện những mối quan hệ phức tạp giữa người với
người đặc biệt khi xã hội hình thành các giai cấp đối kháng nhau về lợi ích
thì đấu tranh giai cấp là động thúc đẩy xã hội phát triển từ chế độ này sang
chế độ khác tiến bộ hơn. Nhận thức những quy luật vận động và phát triển
của tự nhiên là yêu cầu tất yếu để con người đảm bảo sự tồn tại và phát triển
của mình. Triết học Mac- Lê Nin đã đề cập đày đủ về mọi mặt của đời sống
xã hội,mặt khác đã giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát
triển không ngừng của xã hội. Một trong những vấn đề đặc biệt quan trọng
đối với toàn bộ xã hội là quan hệ xã hội trong đó có quan hệ kinh tế bởi vì nó
quyết định sự phát triển và tồn tại của xã hội .trong phát triển kinh tế tồn tại
nhiều vấn đề phức tạp cần giải quyết “ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phất triển của lực lượng sản xuất” la quy luật đặc biệt
quan trọng, nó phản ánh sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội qua các
giai đoạn lịch sử. Lịch sử nhân loại sự kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế
xã hội. do duy tri sự sống và đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của
mình, con người phải phát triển lực lượng sản xuất,lực lượng sản xuất tuy
được tạo ra băng năng lực thực tiễn của con người,song không phải do ý
muốn chủ quan cua con người lục lượng sản xuất phát triển kéo theo quan hệ
sản xuất phải thích ứng với nó.quan hệ sản xuất do lực lượng sản xuất quyết
định ,nhưng ngược lại quan hệ sản xuất lại qui định các quan hệ khác của xã
hội.khi lực lượng sản xuất phát triển cao và quan hệ sản xuất không còn phù
hơp với nó tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng xã hội để thay thế quan hệ sản
xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp. Quy luật “quan hệ sản xuất phù
1
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lượng sản xuất” quyết định sư
Lực lượng sản xuất là sư kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất.
* Tư liệu sản xuất được cấu thành từ hai bộ phận: đối tượng lao động
và tư liệu lao động.
1) Đối tượng lao động:
Là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác động vào
làm thay đổi hình thái của nó cho phù hơp với mục đích của con người .
Đối tượng lao động gồm:
-Thứ nhất: là bộ phận của tư nhiên mà con người trực tiếp sử dụng và
đưa vào sản xuất như gỗ trong rừng, quặng trong lòng đất, hải sản, sông ngòi,
khí hậu…
3
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
-Thứ hai: là loại không có sẵn trong tự nhiên mà phải trai qua lao
động, được cải biến ít nhiều như:sợi tổng hợp, các loại hóa chất , hợp kim…
đó được gọi là nguyên liệu.
-Thứ ba: là những bộ phận của tự nhiên không thuộc về gới hạn của
đối tượng lao động trực tiếp, chưa mang đấu ấn của con người, nhưng lao
động của con người sẽ hướng tới. chảng hạn 97% tài nguyên dưới đáy đại
dương, tài nguyên trên mặt trăng sao hỏa và trong vũ trụ nói chung… hiên
chưa dược con người khai thác sử dụng, song tất yếu phải được tiến hành
trong tương lai. Chúng ta có thể tin rằng với những tiến bộ của khoa học kĩ
thuật,con người hoàn toàn co thể tạo ra những sản phảm mới có ý nghĩa
quyết định chất lượng cuộc sống và văn minh nhân loại. Bởi loài người luôn
muốn tiên đến những gì tốt đẹp và hoàn thiện hơn. Chính việc tìm kiếm ra
những đối tượng lao động mới sẽ cuốn hút mọi hoạt động của con người.Do
vậy khi nói đến đối tượng lao động, chúng ta không thể bỏ qua những cái con
người cần hướng tới.
2) Tư liệu lao động:
Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật lam nhiệm vụ
truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao lao động.Các Mác đã
lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Người lao động với tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất xã
hội phải là người có thể lực, có tri thức văn hóa, có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm và những thói quen tốt, phẩm chất tư cách
lành mạnh, lương tâm nghề nghiệp cao đối với công việc.
Lâu nay do chưa chú trọng đúng mức đến vị trí của người lao động,
chúng ta chưa khai thác và phát huy hết tiềm năng của nhân tố con người.
5
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Mặc dù năng lực sản xuất của con người còn phụ thuộc vào những tư liệu sản
xuất hiện có mà họ đang sử dụng. Nhưng với tính tích cực sáng tạo của họ
bao giờ cũng là động lực thúc đẩy tốc độ, quy mô hiệu quả và chất lượng của
nền sản xuất. Thiếu nó sản xuất sẽ mất đi sinh khí, vì vậy phải thấy con
người là sản phẩm phát triển của công cụ sản xuất, mà mỗi bước phát triển
của công cụ sản xuất phải thích ứng và gắn liền với trình độ của người lao
động. Công cụ sản xuất và người lao động là hai bộ phận quan trọng không
thể tách rời của lực lượng sản xuất.
3) Trình độ của lực lượng sản xuất.
Trình độ của lực lượng sản xuất được thẻ hiện ở trình độ tinh xảo và
hiện đại của công cụ sản xuất,trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng, kỹ
xảo của người lao động;trình độ phân công lao động xã hội, tổ chức quản lý
sản xuất và quy mô của nèn sản xuất.
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất càng cao thì chuyên môn
hóa và phân công càng sâu, trình độ phân công lao động và chuyên môn hóa
là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
b. Quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất là toàn bộ những quan hệ giữa người với người trong
quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nó bao gồm ba mặt cơ bản sau:
- Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất
- Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất
sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất loài người đã bốn lần thay
đổi quan hệ sản xuất gắn liền với bốn cuộc cách mạng xã hội, dãn đến sự ra
đời nối tiếp nhau của các hình thái kinh tế xã hội.
7
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
2.2. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất.
Tuy bị chi phối bởi lực lượng sản xuất nhưng với tính chất là hình
thức, quan hệ sản xuất cũng có những tác độngnhất định trở lại đối với lực
lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất nó sẽ trở thàng động lực thúc đẩy, định hướng và
tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại nếu quan hệ sản
xuất lỗi thời , lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất thì nó sẽ trở thành xiềng xích kìm hãm sự
phát triển của lực lượng sản xuất.
2.3. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất phải tạo được điều kiện sử dụng và kết hợp tối ưu
giữa tư liệu sản xuất và người lao động .
Mở ra điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất , tinh thần đối
với người lao động .Nhưng lực lượng sản xuất luôn luôn phát triển còn quan
hệ sản xuất có xu hướng tương đối ổn định . Khi lực lượng sản xuất phát
triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa ,
trở thành chướng ngại đối với sự phát triển của nó, sẽ nảy sinh mâu thuẫn
gay gắt giữa hai mặt của phương thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó
tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một quan hệ
sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ mới của lực lượng sản xuất,
mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển .
Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ , thay thế nó bằng quan hệ sản xuất
mới cũng có nghĩa là sự diệt vong của một phương thức sản xuất lỗi thời và
sự ra đời của phương thức sản xuất mới. Trong xã hội co giai cấp đối kháng
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất do đó được quyết định bởi sự phù
hợp về trình độ.
3.2. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất khi lực
lượng sản xuất xuất hiện chất mới.
Những năm gần đây, các đảng cộng sản ở một số nước xã hội chủ
nghĩa đã tiến hành tổng kết làm rõ nhiều vấn đề trong đó có những vấn đề
nhận thức và vân dụng quy luật này. Nghị quyết đại hội VI của đảng đã chỉ
ra: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ do quan hệ sản xuất lạc hậu, mà
cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa
so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Các nhà lý luận, từ nhiều góc độ khác nhau cùng nghiên cứu luận giải
quy luật này. Nhiều công trình đã có những đóng góp thiết thực vào việc làm
thế nào cho đúng với các vấn đề của quy luật này và vận dụng nó như thế nào
trong hoàn cảnh cụ thể của đất nước mình để phát triển lực lượng sản xuất.
Từ góc dộ tính chất của lực lượng sản xuất và tương quan giữa chúng,
chúng ta đã tìm hiểu vấn đề phù hợp đặt ra trong quy luật này ở hầu hết
những trường hợp cần thiết . Những vấn đề đặt ra đã cơ bản được giải quyết ,
có thể kết luận: trong sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất
thì sự phù hợp về trình độ luôn đặt ra trước và bao hàm sự phù hợp về tính
chất. Giải quyết yêu cầu phù hợp về trình độ cũng đồng thời là việc giải
quyết yêu cầu phù hợp về tính chất. Do vậy sự phù hợp về tính chất là điều
không cần thiết phải đặt ra và nêu lên trong quy luật. Đó chính là điều C.Mác
khi phân tích quan hệ của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất thì hầu
như chỉ xét đến trình độ của lực lượng sản xuất chính là sự phù hợp về trình
độ.
Qua phân tích trên ta có thể gọi tên của quy luật là” quy luật phù hợp
của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất “.
10
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển thiết lập chế độ công hữu thuần
nhất dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể”, lúc đó được coi là điều
kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình độ xã hội hoá sản xuất cũng như sự
thắng lợi của CNXH ở nước ta. Song trong thực tế cách làm này đã không
mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật QHSX phải phù hợp với
tính chất và trình độ của LLSX, chúng ta đã xây dựng thành phần kimh tế
quốc doanh và thành phần kinh tế tập thể vượt quá trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, vượt qua trình độ quản lý của ta, quan điểm đưa quan hệ sản
xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
cũng đã bị thực tế bác bỏ; tất yếu để lại hậu quả là:
Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công,
buôn bán nhỏ ) thì tư hữu về TLSX là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức
lao động và TLSX. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng TLSX dưới hình thức
cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách
khỏi TLSX, không làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo
HTX, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự dấn đến TLSX trở thành
vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.
Thứ hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành.
Về pháp lý TLSX cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu
có quyền sở hữu chi phối, định đoạt TLSX & sản phẩm làm ra nhưng thực tế
thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ lương lại không
hợp lý không phản ánh đúng số lượng & chất lượng lao động của từng cá
nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về TLSX cùng với ông chủ của nó
trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, ngành chủ quản) là đại diện của
chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động,
sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại
không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng buộc trách nhiệm, nên
12
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình. Đây là căn nguyên nảy
là quốc doanh, thuộc thành phần kinh tế nhà nước); lực lượng sản xuất ngoài
quốc doanh (thường gọi là dân doanh, thuộc kinh tế tư nhân). Trong thành
phần kinh tế nhà nước bộ phận các doanh nghiệp nhà nước phải đóng vai trò
chủ đạo, chi phối, ảnh hưởng tác động chủ yeus đến toàn bộ nền kinh tế, nhất
là các doanh nghiệp nhà nước có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo cơ chế
thị trường với tiềm lực và lợi thế so sánh của mình nhà nước. Sau thời kỳ
được mở rộng quyền tự chủ và sắp xếp lại một bước, nhiều doanh nghiệp nhà
nước đã thích ứng với cơ chế mới, sản xuất kinh doanh năng động và hiệu
quả hơn. Song, nhìn chung sự chuyển biến trong các quan hệ sở hữu và sử
dụng tư liệu sản xuất, trong quản lý và phân phối sản xuất sản phẩm bên
trong các doanh nghiệp còn chậm chạp, việc cổ phần hóa chưa thực hiện
được nhiều.Tình trạng làm ăn thua lỗ, nợ đọng còn tương đối phổ biến. Vai
trò và hoạt động của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và quản lý nhà nước
về kinh tế còn có mặt hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Những hạn chế
trên đã làm cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong khu vực quốc
doanh còn yếu kém. Củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất hiên nay,công
việc hàng đầu chính là củng cố và phát triển khu vực kinh tế nhà nước nói
riêng, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất ở khu vực này được phát triển
mạnh mẽ, xứng với tiềm năng và vai trò của nó. Trên cơ sở chủ đạo của kinh
tế nhà nước, kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân cũng đóng vai trò không
nhỏ trong thời kỳ quá độ. Trong nội dung kinh tế của đường lối đổi mới của
Đảng ta là khuyến khích các thành phần kinh tế này phát triển có lợi cho
quốc kế dân sinh. Trong những năm qua, khu vực kinh tế này đã có những
phát triển nhất định, có tác động tích cực đến nền kinh tế quốc dân; song sự
phát triển còn chậm, chưa đúng với tiềm năng, có mặt chưa đúng hướng.
Tích tụ và tập trung tư bản còn chậm chạp, quy mô vừa và nhỏ, ít đầu tư vào
14
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
lĩnh vực sản xuất, chủ yếu là hoạt động trong thương nghiệp và dịch vụ.
Nhiều hoạt động của kinh tế tư bản tư nhân trong nước trệch hướng, có tác
giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và
quy định sự vận động phát triển của xã hội tư bản. Từ đó, các ông đi đến dự
báo về sự thay thế chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ
công hữu. Việc thay thế chế độ tư hữu bằng chế độ công hữu, theo quan điểm
của các ông, không thể tiến hành ngay một lúc, mà phải là một quá trình lâu
dài. Tuy nhiên, vào giai đoạn lịch sứ đó, các ông chưa chỉ ra mô hình cụ thể
về chế độ công hữu.
Kiểu quan hệ sản xuất - quan hệ sở hữu này hay kiểu quan hệ sản xuất
- quan hệ sở hữu khác tuỳ thuộc vào tính chất và trình độ lực lượng sản xuất.
Ở nước ta hiện nay trình độ lực lượng sản xuất còn thấp lại không đồng đều
giữa các ngành, các vùng. Có những vùng, miền mà người dân vẫn dùng cái
cuốc, con trâu để lao động nhưng cũng có nơi lao động trong phòng thí
nghiệm, trong khu công nghệ cao.
Do vậy, tất yếu phải tồn tại nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất, nên chưa thể đặt vấn đề xoá ngay mọi hình thức
bóc lột. Chỉ đến khi trình độ xã hội hóa sản xuất phát triển cao mâu thuẫn với
chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thì khi ấy mới có điều kiện chín
muồi thực hiện cuộc cách mạng xây dựng xã hội không còn bóc lột. Chúng ta
không thể thủ tiêu chế độ sở hữu ngay lập tức được mà chỉ có thể thực hiện
dần dần, và chỉ khi nào đã tạo được một lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội
hóa cao độ với năng suất lao động rất cao thì khi đó mới xoá bỏ được chế độ
tư hữu.
Đất nước chúng ta đang thực hiện nhất quán nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, mục đích là phải sản xuất ra thêm
16
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
nhiều giá trị thặng dư. Vấn đề bóc lột hay không bóc lột thể hiện trong quan
hệ phân phối. Bình đẳng trong phân phối được thực hiện dưới những hình
thức cụ thể như thế nào là tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản
Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, "Mà đặc điểm to
nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa"
(1)
. Do đó, chúng ta phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bởi nông nghiệp, nông thôn
là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát triển nhìn chung là thấp nhất
so với các khu vực khác của nền kinh tế. Nông dân chiếm hơn 70% dân số và
hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% - 27% GDP của cả
nước Hơn thế nữa, Đảng ta coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, còn
vì nông dân, nông thôn Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách
mạng của đất nước trước đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Khu vực
nông nghiệp, nông thôn hiện có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng
thiên nhiên khác: hơn 7 triệu ha đất canh tác, 10 triệu ha đất canh tác chưa sử
dụng; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm nông - lâm
- hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu ). Nông nghiệp, nông thôn còn giữ vai
trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển công
nghiệp - dịch vụ. Bộ mặt nông thôn Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có
nhiều đổi mới, từ chỗ bị thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang
xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan). Tuy nhiên, vẫn còn
đó những hạn chế, yếu kém, mà nhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu
hiệu. Chẳng hạn, vốn đầu tư cho khu vực này vẫn thấp (chiếm 11% - 12%
tổng đầu tư toàn xã hội); sản phẩm nông nghiệp lại chủ yếu thiên về số
18
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
lượng, chứ chưa nâng cao về chất lượng, giá thành nông sản còn cao, năng
suất lao động và hiệu quả sản xuất còn thấp; sản lượng nông sản tuy tăng
sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng
sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,
quy hoạch và phát triển nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ
sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, văn minh, không ngừng nâng
cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân nông thôn.Tới Đại hội X,
Đảng ta xác định: "Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp,
nông dân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn
luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn"
(3)
. Tóm lại, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn chính là từng bước để phát triển nông thôn Việt Nam theo hướng hiện
đại, xóa dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn.
Từng bước phát triển nền kinh tế tri thức. Trong sự nghiệp đổi mới, khi
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta thấy cần và có thể rút ngắn
thời gian bằng những bước nhảy vọt xen lẫn những bước tuần tự. Đảng ta đã
đề ra chủ trương: tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và
phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước
phát triển kinh tế tri thức. Sau 20 năm đổi mới thế và lực của đất nước ta đã
mạnh hơn nhiều, tuy "từng bước phát triển" nhưng một số thành phần của
kinh tế tri thức như công nghệ thông tin, internet, điện thoại di động trong
giai đoạn 2001 - 2005 đã phát triển khá nhanh. Nhiều nước phát triển như
Trung Quốc, Hàn Quốc, Phần Lan, Ấn Độ biết kết hợp phát triển kinh tế tri
thức đều đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Do đó, tranh thủ thời cơ mà
bối cảnh quốc tế tạo ra, kết hợp nội lực với các thuận lợi bước đầu về phát
triển kinh tế tri thức, Đảng ta đã đề ra đường lối: "Đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức".
Phát triển kinh tế tri thức là một xu thế tất yếu. Lao động sản xuất bao
giờ cũng phải dựa vào tri thức, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít. Kinh tế
20
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
một lịch sử tất yếu Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, khoảng từ giữa
thế kỷ XX, dựa trên những tri thức sáng tạo, đi sâu vào thế giới vĩ mô và thế
giới vi mô, dẫn tới sự phát minh ra các máy móc, thuộc loại hoàn toàn mới,
gọi là máy móc thông minh. Điển hình là máy điện toán, mô phỏng được
những chức năng chủ yếu của não người: biết nhớ, biết tính toán kể cả các
bài toán rất phức tạp, biết thực hiện các lệnh, biết tư vấn cho người dùng
trong một số việc , đóng vai trò chính trong các hệ tự động hóa toàn phần
của sản xuất và trong các mạng thông tin toàn cầu. Máy móc thông minh kết
hợp với tri thức sáng tạo trở thành nguồn lực của các công nghệ cao như:
công nghệ thông tin hoặc công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến , trong đó công nghệ thông tin và
truyền thông giữ vai trò dẫn đầu. Hệ thống công nghệ cao là cốt lõi của lực
lượng sản xuất mới. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới đã
thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trong nửa sau của thế kỷ XX. Nghị
quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: Tranh thủ thời cơ thuận lợi do
bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của
nền kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, kết hợp việc sử
dụng nguồn vốn tri thức của người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân
loại. Như vậy, lý luận và thực tiễn là căn cứ vững chắc để xây dựng đường
lối đúng đắn, tranh thủ thời cơ, rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại
hóa sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
* Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác
của đời sống xã hội (củng cố đổi mới kiến trúc thượng tầng):
- Đổi mới hệ thống chính trị.
- Nâng cao sức chiến đấu của Đảng.
22
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
huy mọi năng lực sản xuất của xã hội, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Tiến hành CNH HĐH đất nước, mở rộng quá trình liên doanh ,
tranh thủ kỹ thuật và thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài nhằm xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH. Trong thời kỳ quá độ cải tạo và xây
dựng phải gắn bó chặt chẽ với nhau, cải tạo để xây dựng và xây dựng là
nhằm cải tạo, trong đó xây dựng là chủ yếu. Do đó Đảng ta cho rằng mỗi
bước phát triển của lực lượng sản xuất là một bước góp phần hoàn thiện quan
hệ sản xuất nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Việc khẳng định sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế hiện
nay ở nước ta và chính sách thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người
24
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
lao động trong nông nghiệp là biểu hiện sự nhận thức và vận dụng đúng đắn
của Đảng ta.
25