Giáo trình nguyên lý thống kê - Bài 2 - Pdf 22



GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ
THỐNG KÊ
Bài 2: Quá trình nghiên cứu
thống kê Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

v1.0 15
0 Nội dung Mục tiêu
 Điều tra thống kê.

BÀI 2: QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

16 v1.0
TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP
Tình huống: Hàm lượng canxi trong sữa
Thời gian qua, trên thị trường sữa Việt Nam xôn xao thông
tin dư luận về sự kiện hàm lượng canxi của hãng sữa Mead
Johnson cao hơn mức công bố. Điều này ít nhiều đã ảnh
hưởng đến hình ảnh và doanh số bán hàng của hãng. Bạn,
với vai trò là một nhân viên làm công tác thống kê của hãng
được yêu cầu phải đánh giá tình hình thị trường sữa ở Việt
Nam trước và sau sự việc này.
Câu hỏi

1. Bạn quyết định thực hiện một nghiên cứu thống kê để trên cơ sở đó viết báo cáo đánh giá.
Vậy bạn sẽ thực hiện nghiên cứu đó như thế nào?
2. Bài học này sẽ giúp bạn tìm hiểu một quá trình nghiên cứu thống kê bao gồm những giai
đoạn nào và nội dung cụ thể của từng giai đoạn đó.

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

v1.0 17
Bài học sẽ tập trung đi sâu vào nội dung cơ bản của 3 giai đoạn chủ yếu trong quá trình nghiên
cứu thống kê: điều tra thống kê, tổng hợp thống kê và phân tích thống kê.
2.1. Điều tra thống kê

Tài liệu của điều tra thống kê phải đáp ứng 3 yêu cầu cơ bản sau:
 Chính xác: Tài liệu phải được thu thập chính xác, khách quan, phản ánh đúng tình
hình thực tế của hiện tượng.
Đây là yêu cầu hết sức quan trọng, là cơ sở để phân tích, tính toán nhằm rút ra kết luận
đúng đắn về hiện tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, độ chính xác trong thống kê không
mang ý nghĩa tuyệt đối như trong kế toán. Do thống kê nghiên c
ứu hiện tượng số lớn
nên chắc chắn sẽ có sai lệch. Độ sai lệch cho phép trong thống kê là ± 5%.

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

18 v1.0
 Kịp thời: Tài liệu phải được thu thập kịp thời, tức là theo đúng thời hạn qui định.
Bên cạnh đó, tính kịp thời còn thể hiện ở chỗ tài liệu phải được cung cấp đúng lúc
khi người sử dụng cần.
Tại sao phải kịp thời? Như bài 1 đã trình bày, mặt lượng của hiện tượng thường
xuyên thay đổi, nếu không thu thập kịp thời, nó sẽ thay đổi; khi đó không phản ánh
đúng hiện tượng được nữa. Ngoài ra còn có một ý nghĩa thực tiễn khác là kịp thời
để còn có chính sách phù hợp.
Ví dụ: Khi có thiên tai, lũ lụt, phải kịp thời thống kê được thiệt hại cả về người
và của để có chính sách cứu trợ hợp lý.
 Đầy đủ: Tài liệu phải được thu thập đầy đủ trên 2 phương diện:
o Về nội dung: phải theo đúng nội dung như trong kế hoạch và phương án điều tra.
o Về số đơn vị điều tra: đảm bảo số lượng đơn vị theo yêu cầu.
Ví dụ: Trong điều tra toàn bộ thì toàn bộ các đơn vị phải được điều tra. Còn trong
điều tra chọn mẫu thì phải chọn mẫu đủ lớn và đảm bảo tính đại diện.
Hàng năm, người ta tiến hành hàng trăm các cuộc điều tra khác nhau. Có cuộc điều tra
do ngành thống kê tổ chức nhưng cũng có cuộc điều tra do các ngành khác tổ chức.
Vậy có những loại điều tra nào trong thực tế?
2.1.2. Các loại điều tra thống kê

tất cả các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu.
Ví dụ: Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009.
o Ưu điểm: Cung cấp tài liệu đầy đủ nhất về từng
đơn vị tổng thể, cho biết được quy mô tổng thể.
o Hạn chế: Chi phí lớn, thời gian dài, chất lượng
tài liệu thu được không cao do phạm vi rộng,
chỉ điều tra được những nội dung cơ bản, không
đi sâu vào chi tiết, đặc biệt có nhiều trường hợp
không thể tiến hành điều tra toàn bộ (vì là tổng thể tiềm ẩn hay tổng thể bộc lộ
nhưng việc điều tra gắn liền với việc phá huỷ đơn v
ị điều tra) hoặc không cần
thiết để điều tra toàn bộ (vì tổng thể là lớn và các đơn vị trong tổng thể không
khác nhau nhiều).
Ví dụ: Điều tra chất lượng sản phẩm đồ hộp, điều tra tuổi thọ bóng đèn, điều tra
trọng lượng hành khách đi đường hàng không
Chính vì những nhược điểm trên mà hình thức điều tra này không phổ biến. Trên
th
ực tế người ta thường sử dụng điều tra không toàn bộ.
 Điều tra không toàn bộ: tiến hành thu thập tài liệu trên một bộ phận các đơn vị
của hiện tượng nghiên cứu.
o Ưu điểm: Tiết kiệm chi phí, thời gian, chất lượng tài liệu thu được cao với
nhiều nội dung chi tiết, ứng dụng rộng rãi hơn trên các tổng thể, các lĩnh vực.
o Nhược điểm: Không cung cấp tài liệu chi tiết, đầy đủ về từng đơn vị tổng thể;
không biết được quy mô tổng thể; không tránh khỏi những sai số khi nhìn nhận
tổng thể chung trên cơ sở kết quả điều tra không toàn bộ.
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà cách chọn đơn vị điều tra khác nhau, dẫn
đến có các loại điều tra không toàn bộ khác nhau. Thông thường, có 3 loại đ
iều
tra không toàn bộ, gồm:
 Điều tra chọn mẫu: chỉ tiến hành thu thập tài liệu ở một số đơn vị nhất định

vực quản lý vĩ mô toàn bộ nền kinh tế quốc dân nhằm quản lý tập trung nề
n kinh tế.
Chủ yếu áp dụng điều tra toàn bộ, thường xuyên và thu thập tài liệu một cách gián tiếp.
2.1.3.2. Điều tra chuyên môn
Điều tra chuyên môn là hình thức tổ chức điều tra không
thường xuyên, tiến hành theo một kế hoạch và phương
pháp quy định riêng cho mỗi lần điều tra.
Điều tra này chỉ được thực hiện khi cần thiết. Hình thức
điều tra này không mang tính pháp lệnh mà vận động đối
tượng cung cấp tài liệu điều tra.
Tài liệu thu được từ điều tra này rất phong phú, có ý
nghĩa nhiều mặt hơn do:
 Thu thập tài liệu của hầu hết những hiện tượng báo
cáo thống kê định kỳ chưa hoặc không cung cấp được.
 Thu thập tài liệu đối với khu vực ngoài quốc doanh.
 Kết quả của điều tra chuyên môn được dùng để kiểm tra chất lượng tài liệu của
báo cáo thống kê định kỳ.
Về cơ bản, điều tra chuyên môn được áp dụng linh hoạt các loại điều tra và các
phương pháp thu thập tài liệu khác nhau.
2.1.4. Phương pháp thu thập thông tin trong điều tra thống kê
Các loại điều tra thống kê khác nhau sẽ sử dụng những phương pháp thu thập tài liệu
khác nhau. Căn cứ vào tính chất trực tiếp hay gián tiếp của việc thu thập tài liệu sẽ có
2 phương pháp sau:
2.1.4.1. Phương pháp thu thập trực tiếp
 Khái niệm
Phương pháp thu thập trực tiếp là phương pháp mà người điều tra tự mình quan sát
hoặc trực tiếp hỏi đơn vị điều tra và tự ghi chép vào tài liệu.

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê


phương án điều tra sẽ khác nhau. Nhưng về cơ bản, một phương án điều tra thống kê
bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
 Xác định mục đích điều tra
Với nội dung này, chúng ta phải trả lời được câu
hỏi, cuộc điều tra đó nhằm mục tiêu gì và phục vụ
cho yêu cầu cụ thể nào.
Mục đích điều tra là nội dung quan trọng đầu tiên của
kế hoạch điều tra. Nó có tác dụng định hướng cho
toàn bộ quá trình điều tra và giúp chúng ta xác định
chính xác đối tượng, đơn vị và nội dung điều tra.
 Xác định đối tượng điều tra và đơn vị điều tra
Đối tượng điều tra là tổng thể các đơn vị thuộc hiện tượng nghiên cứu có các
dữ liệu cần thiết khi tiến hành điều tra. Xác định đối tượng điều tra là xác định

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

22 v1.0
phạm vi đối tượng cần nghiên cứu, cần điều tra nhằm thu thập tài liệu chính xác,
không nhầm lẫn với các hiện tượng khác.
Đơn vị điều tra là từng đơn vị cá biệt thuộc đối tượng điều tra và được xác định sẽ
điều tra thực tế. Trong điều tra toàn bộ, số đơn vị điều tra cũng chính là số đơn vị
thuộc đối tượng điều tra. Trong điều tra không toàn bộ, số đơn vị điều tra là những
đơn vị được chọn ra từ tổng thể các đơn vị thuộc đối tượng điều tra.
Xác định đơn vị điều tra tức là xác định tài liệu sẽ được thu thập ở đâu. Tuỳ theo
mục đích và đối tượng điều tra mà đơn vị điều tra được xác định khác nhau.
Ví dụ: Trong Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009.
Mục đích điều tra: Phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích và dự báo quá trình
phát triển dân số và nhà ở trên phạm vi cả nước và từng địa phương
Đối tượng điều tra: Tất cả công dân Việt Nam.
Đơn vị điều tra: Hộ gia đình.

tượng nghiên cứu.

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

v1.0 23
Ví dụ: Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009,
thời điểm điều tra là 0 giờ ngày 1/4/2009.
Tuỳ theo tính chất, đặc điểm của hiện tượng
nghiên cứu mà xác định thời điểm điều tra. Tuy
nhiên, thời điểm điều tra thường được xác định
vào lúc hiện tượng ít biến động nhất và gắn kết
với những kế hoạch của địa phương.
Ví dụ: Điều tra về du lịch biển ở Sầm Sơn thì
không nên chọn vào mùa đông.
o Thời kỳ điều tra là độ dài (khoảng) thời gian có sự
tích luỹ về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu.
Ví dụ: Điều tra tình hình xuất khẩu gạo của địa
phương A trong quý 1 năm 2008.
Thời kỳ điều tra dài hay ngắn phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu.
o Thời hạn điều tra là khoảng thời gian kể từ lúc bắt đầu tiến hành điều tra cho
đến khi hoàn thành việc thu thập tài liệu trên tất cả các đơn vị điều tra.
Ví dụ: Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, thời hạn điều tra trong vòng 20
ngày từ sáng 1/4 đến tối 20/4
Như vậy, thời hạn điều tra dài hay ngắn phụ thuộc vào qui mô, tính chất phức
tạp của hiện tượng, nội dung nghiên cứu và lực lượng tham gia nhưng nhìn
chung, thời hạn điều tra không nên quá lâu vì sẽ dẫn đến việc thu thập tài liệu
thiếu chính xác.
Ngoài 4 vấn đề chính ở trên, trong phương án điều tra thống kê còn đề cập tới
một số vấn đề về nguồn nhân lực, kinh phí, thời gian thực hiện, điều tra thử,
thành lập các cơ quan điều tra và tuyên truyền trong nhân dân

 Sai số do tính chất đại biểu của số đơn vị được chọn: chỉ xảy ra trong điều tra
chọn mẫu, do các nguyên nhân:
o Cỡ mẫu không đủ lớn.
o Do cố tình vi phạm nguyên tắc chọn mẫu.
o Do bản thân nguyên tắc chọn mẫu.
2.1.6.3. Các biện pháp khắc phục sai số
Sai số trong thống kê là một vấn đề không thể tránh khỏi. Để khắc phục sai số, cần
phải thực hiện tốt các biện pháp sau:
 Làm tốt công tác chuẩn bị điều tra
o Lập phương án điều tra khoa học, chi tiết.
o Chuẩn bị cán bộ điều tra đảm bảo chất lượng.
o Coi trọng công tác tuyên truyền sâu rộng về mục đích cuộc điều tra.
 Làm tốt công tác kiểm tra điều tra
o Kiểm tra tài liệu thu thập được có đầy đủ về nội dung và số đơn vị điều tra
không, có chính xác về con số và logic không.
o Kiểm tra tính đại biểu của số đơn vị được chọn trong điều tra chọn mẫu.
Sau khi kết thúc điều tra, chúng ta thu được một số lượng lớn các tài liệu. Nhưng
những tài liệu này mới chỉ ở dạng thô, mang tính chất rời rạc, chưa cho thấy đặc trưng
chung của hiện tượng nghiên cứu. Công việc tiếp theo là phải tổng hợp những tài liệu
đó lại để tìm ra các đặc trưng của hiện tượng làm cơ sở cho quá trình phân tích và dự
đoán thống kê.
2.2. Tổng hợp thống kê
2.2.1. Khái niệm chung về tổng hợp thống kê
2.2.1.1. Khái niệm
Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung chỉnh lý và hệ thống hóa một cách khoa học
toàn bộ tài liệu thu thập được trong điều tra thống kê.
Ví dụ: Sau khi điều tra về thị trường sữa trẻ em ở Việt Nam hiện nay, chúng ta thu
được một tập số liệu nhưng chưa biết được hiện có bao nhiêu chủng loại sữa, giá bán
mỗi loại, thị phần Tổng hợp thống kê sẽ giúp giải quyết những câu hỏi đó.
Chỉnh lý, hệ thống hoá là việc kiểm tra lại và sắp xếp tài liệu theo một trật tự nào đó

chia tổng thể điều tra thành các loại sữa với nhãn
hiệu khác nhau; hoặc căn cứ vào tiêu thức giá bán để phân chia thành các loại sữa
với mức giá bán khác nhau
 Ý nghĩa: Phân tổ thống kê là một trong những phương pháp thường được sử dụng
trong nghiên cứu thống kê.
o Giai đoạn điều tra thống kê: Trong điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ,
người ta phải phân tổ trước các hiện tượng cần nghiên cứu nhằm giúp cho việc
điều tra được dễ dàng, thuận tiện; trong điều tra chọn mẫu, phương pháp phân
tổ được sử dụng để đảm bảo tính đại diện của mẫu.
o Giai đoạn tổng hợp thống kê: Phân tổ là phương pháp cơ bản nhất dùng để
chỉnh lý và hệ thống hóa toàn bộ tài liệu thu thập được trong điều tra thống kê.
o Giai đoạn phân tích thống kê: Phân tổ là một trong những phương pháp quan
trọng, là cơ sở để vận dụng các phương pháp thống kê khác một cách có hiệu
quả. Bản thân phân tổ thống kê cũng đã là một phương pháp phân tích thống kê
quan trọng, đó là phân tích kết cấu của hiện tượng ở trạng thái tĩnh và chuyển
dịch cơ cấu ở trạng thái động.
 Nhiệm vụ: Nó cho phép giải quyết ba nhiệm vụ cơ bản sau:

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

26 v1.0
o Thứ nhất, phân chia các loại hình kinh tế – xã hội theo đúng với sự tồn tại
khách quan của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa các loại hình
kinh tế – xã hội nhằm nhận thức được quá trình vận động và phát triển của
hiện tượng.
Ví dụ: Phân tổ các cơ sở sản xuất công nghiệp ở nước ta theo thành phần
kinh tế: Nhà nước, ngoài Nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài.
o Thứ hai, biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu, qua đó nêu lên đặc điểm
cơ bản của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. Mặt khác,
khi nghiên cứu sự biến động kết cấu của hiện tượng qua thời gian ta sẽ thấy

nhưng có vai trò ngang nhau trong phản ánh hiện tượng.
Ví dụ: Khi phân tổ các doanh nghiệp xây dựng theo qui mô nhưng không
nói rõ qui mô gì, người ta sẽ phân tổ đồng thời theo các tiêu thức: vốn, lao
động, tài sản cố định, giá trị xây lắp, doanh thu Các tiêu thức này có vai
trò ngang nhau khi phản ánh qui mô của doanh nghiệp.

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

v1.0 27
o Căn cứ vào mục đích phân tổ, người ta chia thành:
 Phân tổ phân loại: để chia tổng thể thành các loại hình khác nhau, thường
phân tổ theo tiêu thức thuộc tính.
 Phân tổ kết cấu: để nghiên cứu kết cấu của tổng thể, có thể phân tổ theo tiêu
thức thuộc tính, có thể theo tiêu thức số lượng.
 Phân tổ liên hệ: để nghiên cứu mối liên hệ giữa các tiêu thức, phải đặt trong
những điều kiện thời gian, không gian khác nhau.
2.2.2.2. Tiêu thức phân tổ và chỉ tiêu giải thích
 Khái niệm: Tiêu thức phân tổ là tiêu thức thống kê
được chọn làm căn cứ để phân tổ thống kê.
Ví dụ: Phân tổ dân số theo giới tính thì giới tính là
tiêu thức phân tổ.
Mỗi đơn vị tổng thể đều bao gồm nhiều tiêu thức, tiêu
thức nào cũng có thể dùng để phân tổ được. Tuy nhiên,
mỗi tiêu thức lại có ý nghĩa khác nhau nhưng tiêu thức
phân tổ sẽ phản ánh đúng bản chất của hiện tượng nhất
theo mục đích nghiên cứu.
Với cùng một tài liệu, nếu chọn tiêu thức phân tổ khác
nhau có thể đưa đến kết luận khác nhau. Và nếu chọn
tiêu thức phân tổ không đúng theo mục đích nghiên cứu sẽ dẫn đến nhận xét đánh
giá khác nhau về thực tế của một hiện tượng. Vậy làm thế nào để chọn tiêu thức

Sau khi đã chọn được tiêu thức phân tổ, chúng ta tiến hành phân tổ. Nhưng
phân ra thành bao nhiêu tổ là phù hợp?
2.2.2.3. Xác định số tổ
Có các trường hợp sau:
 Nếu tiêu thức phân tổ là tiêu thức thuộc tính: Các tổ được hình thành theo các
loại hình khác nhau, tuy nhiên không nhất thiết mỗi loại hình phải hình thành một tổ.
o Trường hợp đơn giản (tiêu thức có ít biểu hiện): Mỗi biểu hiện của tiêu thức có
thể hình thành 1 tổ.
Ví dụ: 2 giới tính, 5 thành phần kinh tế
o Trường hợp phức tạp (tiêu thức có nhiều biểu
hiện): Ghép một số tổ nhỏ thành tổ lớn tùy theo
đặc điểm hiện tượng và yêu cầu về mức độ chi
tiết khi phân tổ. Cần bảo đảm yêu cầu các tổ
nhỏ được ghép phải giống nhau hoặc gần giống
nhau về đặc điểm và tính chất.
Việc ghép tổ này đạt được hai mục đích, làm cho số tổ ít đi và đảm bảo giữa
các tổ có sự khác nhau về đặc điểm, tính chất.
Ví dụ: Mặc dù chỉ có 5 thành phần kinh tế nhưng theo mục đích nghiên cứu, ta
chỉ cần phân tổ theo 2 thành phần: Nhà nước và ngoài Nhà nước.
Ví dụ: Trong công nghiệp, có thể phân thành 3 nhóm ngành lớn: công nghiệp
khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp điện, ga, nước.
Ví dụ: Phân chỗ ngồi ở chợ theo các nhóm ngành hàng: hàng khô, hàng rau
qu
ả, hàng thịt,
 Nếu tiêu thức phân tổ là tiêu thức số lượng: Tùy theo số lượng biến của tiêu
thức nhiều hay ít mà có cách giải quyết khác nhau.
o Số lượng các lượng biến ít: Với trường hợp này, lượng biến thay đổi ít, mỗi
lượng biến có thể hình thành nên 1 tổ. Khi đó gọi là phân tổ không có khoảng
cách tổ.
Ví dụ: Phân tổ công nhân doanh nghiệp A theo bậc thợ.

Xác định trị số khoảng cách tổ:


max min
XX
h
n

Trong đó:
X
max
, X
min
: Lượng biến lớn nhất và nhỏ nhất của tiêu thức nghiên cứu.
n: Số tổ định chia.
Ví dụ: Khi nghiên cứu thu nhập bình quân một tháng (triệu đồng) tại một
phòng giao dịch của Ngân hàng ACB có 20 nhân viên, người ta thu được
kết quả sau:
3,0 4,6 5,8 15,0 6,5
9,0 7,7 9,5 3,4 8,5
5,2 7,0 5,5 11,0 10,0
12,5 8,8 7,5 5,8 8,2
Theo tiêu thức thu nhập bình quân một tháng, người ta muốn chia số nhân
viên nói trên thành 6 tổ có khoảng cách tổ bằng nhau.
Sau khi sắp xếp số liệu theo thứ tự tăng dần, nhận thấy, mức thu nhập thấp
nhất là 3 triệu đồng, mức thu nhập cao nhất là 15 triệu đồng. Khi đó,
khoảng cách tổ sẽ được tính như sau:
15 3
h2
6

270
10 – 12
180
Tổng
770
o Trường hợp phân tổ mở: là trường hợp tổ đầu tiên không có giới hạn dưới hay
tổ cuối cùng không có giới hạn trên.
Ví dụ: Phân tổ các cơ sở sản xuất công nghiệp của địa phương A theo số
lao động:
Số lao động (người) Số cơ sở công nghiệp
 20
10
21 – 50 30
51 – 100 20
 100
10
Tổng 70

Chú ý:
Quy ước: Khoảng cách tổ của tổ gần nhất được sử dụng làm khoảng cách tổ cho tổ
mở khi xác định trị số giữa.
Sau khi phân tổ hiện tượng nghiên cứu theo một tiêu thức nào đó thì các đơn vị của
hiện tượng được sắp xếp vào các tổ tương ứng với các biểu hiện của tiêu thức mà đơn
vị đó có, khi đó sẽ hình thành nên một dãy số phân phối.
2.2.2.4. Dãy số phân phối
 Khái niệm: Dãy số phân phối là một dãy số được lập nên do phân phối các đơn vị
tổng thể vào các tổ theo một tiêu thức phân tổ nào đó và được sắp xếp theo trình tự
biến động của lượng biến tiêu thức phân tổ.

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

S
i
Tần suất tích lũy
S
i

x
1
f
1
d
1
S
1
= f
1
S
1
’= d
1
x
2
f
2
d
2
S
2
= S
1

S
n
’= S
n-1
’ + d
n
∑f
i
∑d
i

Trong đó lượng biến x
i
(i = 1, n ) là các trị số biểu hiện mức độ cụ thể của tiêu
thức số lượng.
Căn cứ vào tính chất liên tục hay không liên tục của lượng biến có thể chia ra:
 Lượng biến liên tục: các trị số của nó có thể được biểu hiện bằng số nguyên
hay số thập phân (ví dụ: tiền lương…). Khi đó, dãy số lượng biến phải có
khoảng cách tổ.
 Lượng biến không liên tục (rời rạc): các trị số của dãy số chỉ có thể biểu
hiện bằng các số nguyên (ví dụ: tuổi…). Dãy số lượng biến có thể có hoặc
không có khoảng cách tổ.
Đối với phân tổ có khoảng cách tổ, lượng biến x
i
là trị số giữa của từng tổ và
được tính:
x
i
=
Giới hạn dưới + Giới hạn trên

32 v1.0
 Tần số tích lũy tiến S
i
(i =
1, n
): Là cộng dồn tần số, có 2 tác dụng: cho biết
số lượng các đơn vị có lượng biến nhỏ hơn hay lớn hơn 1 lượng biến cụ thể
nào đó và cho phép xác định 1 đơn vị đứng ở vị trí nào đó trong dãy số có
lượng biến là bao nhiêu.
Ví dụ: Có tài liệu về NSLĐ của 40 công nhân như sau:
NSLĐ (kg)
(x
i
)
Số lao động
(người) (f
i
)
d
i
(%) S
i
50 3 7,5 3
55 5 12,5 8
60 10 25,0 18
65 12 30,0 30
70 7 17,5 37
72 3 7,5 40
∑ 40 100,0
S

Khi đó, người ta thường sử dụng bảng thống kê và đồ thị thống kê.
2.2.3. Bảng thống kê và đồ thị thống kê
2.2.3.1. Bảng thống kê
 Khái niệm: Bảng thống kê là hình thức biểu hiện
các tài liệu thống kê một cách có hệ thống, hợp lý
và rõ ràng nhằm nêu lên các đặc trưng về lượng
của hiện tượng nghiên cứu.
 Ý nghĩa: Trong bảng thống kê có những con số bộ
phận và con số chung có liên quan mật thiết tới
nhau do đó bảng thống kê phản ánh đặc trưng cơ
bản của từng tổ và của cả tổng thể.

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

v1.0 33
 Tác dụng: Giúp tiến hành so sánh, phân tích, đối chiếu và nghiên cứu số liệu
thống kê theo các phương pháp khác nhau.
 Cấu thành bảng thống kê
o Theo hình thức:
 Hàng ngang, cột dọc phản ánh quy mô của bảng.
 Tiêu đề phản ánh nội dung của bảng, gồm: Tiêu đề chung: nội dung chung của
cả bảng thống kê. Tiêu đề nhỏ (tiêu mục): nội dung từng bộ phận trong bảng.
 Các tài liệu và con số: Phản ánh đặc trưng về lượng của hiện tượng nghiên cứu.
o Theo nội dung:
 Phần chủ đề (chủ từ): Giải thích đối tượng nghiên cứu gồm những đơn vị
nào, loại hình nào, thuộc cột trái.
 Phần giải thích (tân từ): Gồm các chỉ tiêu giải thích đặc điểm của từng đối
tượng, thuộc cột phải.
Tên bảng thống kê (tiêu đề chung)
Đơn vị tính:…

chủ đề

Bài 2: Quá trình nghiên cứu thống kê

34 v1.0
Các số liệu phải ghi theo độ chính xác như nhau (bao nhiêu số thập phân
sau dấu phẩy theo nguyên tắc làm tròn số).
o Phải có phần ghi chú ở cuối bảng để giải thích nội dung một số chỉ tiêu (nếu
cần) hoặc ghi nguồn số liệu (nếu có).
Bên cạnh bảng thống kê, còn một công cụ nữa cũng rất hay được sử dụng trong trình
bày số liệu thống kê, đó là đồ thị thống kê.
2.2.3.2. Đồ thị thống kê
 Khái niệm: Đồ thị thống kê là các hình vẽ hay đường nét để miêu tả có tính chất
quy ước các tài liệu thống kê.
 Đặc điểm: Khác với bảng thống kê, đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với
hình vẽ, đường nét và màu để trình bày các đặc trưng về số lượng của hiện tượng
nghiên cứu hay trình bày khái quát các đặc điểm chủ yếu về bản chất và xu hướng
phát triển của hiện tượng.
 Tác dụng: Đồ thị thống kê có hai tác dụng sau:
o Hình tượng hóa sự phát triển kết cấu, mối quan hệ so sánh hay mối liên hệ giữa
các bộ phận trong tổng thể hoặc giữa các tiêu thức với nhau, giúp người đọc
nắm được đặc điểm cơ bản của hiện tượng một cách dễ dàng, nhanh chóng.
o Là phương tiện để tuyên truyền, biểu dương kết quả của hoạt động sản xuất
kinh doanh cũng như các hoạt động xã hội.
 Các loại đồ thị thống kê
o Theo hình thức biểu hiện:
 Biểu đồ hình cột.
 Biểu đồ diện tích.
 Biểu đồ tượng hình.
 Các loại đồ thị, đường gấp khúc.

các ý kiến trả lời.
o Lượng hoá các biểu hiện của tiêu thức thuộc tính thông qua các thang đo (mã
hoá số liệu: là việc thay thế một giá trị thông tin bằng lời của tiêu thức nào đó
bằng các con số quy ước).
Sau khi đã có kết quả tổng hợp dưới dạng các bảng biểu, đồ thị , chúng ta bước sang
giai đoạn phân tích và dự đoán.
2.3. Phân tích và dự đoán thống kê
2.3.1. Khái niệm chung về phân tích và dự đoán thống kê
2.3.1.1. Khái niệm
Phân tích và dự đoán thống kê là nêu lên một cách tổng hợp bản chất cụ thể và tính
quy luật của các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội trong điều kiện nhất định qua
biểu hiện bằng số lượng và tính toán các mức độ trong tương lai, nhằm đưa ra những
căn cứ cho quyết định quản lý.

Thế nào là điều kiện nhất định? Tùy thuộc vào tính
chất, đặc điểm cũng như xu hướng phát triển của
hiện tượng đã được phân tích trong quá khứ để có
căn cứ sử dụng mô hình dự đoán thích hợp.
Thế nào là biểu hiện bằng số lượng? Tất cả các xu
hướng phát triển của hiện tượng đều phải được
lượng hóa bằng con s
ố. Từ đó, nói lên bản chất và
quy luật vận động của hiện tượng, đồng thời làm cơ
sở lượng hóa, tìm hiểu sự biến động của hiện tượng trong tương lai.
2.3.1.2. Ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích và dự đoán thống kê
Đây là khâu cuối cùng của quá trình nghiên cứu thống kê. Nó biểu hiện tập trung kết
quả của toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê. Qua đó, ta có thể nêu rõ bản chất và tính
quy luật của hiện tượng. Trên cơ sở đó, dự đoán được sự phát triển của hiện tượng trong
tương lai.


TÓM LƯỢC CUỐI BÀI
Một quá trình nghiên cứu thống kê gồm có 3 giai đoạn chính: điều tra thống kê – tổng hợp
thống kê – phân tích và dự đoán thống kê.
 Điều tra thống kê là việc tổ chức thu thập tài liệu về các hiện tượng và quá trình kinh tế –
xã hội một cách khoa học, theo một kế hoạch thống nhất. Tính khoa học và thống nhất này
được thể hiện rất rõ trong phương án điều tra thống kê.
Có các loại điều tra thống kê khác nhau tuỳ theo cách phân loại: điều tra thường xuyên và
điều tra không thường xuyên; điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ. Trong đ
iều tra
không toàn bộ, tuỳ theo cách chọn đơn vị điều tra mà có 3 loại điều tra không toàn bộ khác
nhau: điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm và điều tra chuyên đề. Có hai hình thức tổ chức
điều tra thống kê khác nhau: báo cáo thống kê định kỳ và điều tra chuyên môn. Các loại điều
tra này thường sử dụng phương pháp thu thập thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp. Mặc dù đượ
c
thực hiện rất khoa học nhưng trong điều tra thống kê vẫn tồn tại hai loại sai số thống kê: sai
số do ghi chép tài liệu và sai số do tính chất đại biểu.
 Sau khi kết thúc điều tra, chúng ta thu được một số lượng lớn các tài liệu ở dạng thô. Công
việc tiếp theo là phải tổng hợp những tài liệu đó lại để tìm ra các đặc trưng của hiện tượng
làm cơ sở cho quá trình phân tích thống kê. Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung chỉnh lý
và hệ thống hóa một cách khoa học toàn bộ tài liệu thu thập được trong điều tra thống kê.
Có 3 phương pháp tổng h
ợp: phân tổ thống kê, bảng thống kê và đồ thị thống kê. Trong đó,
phân tổ thống kê theo một tiêu thức nào đó là phương pháp chủ yếu nhất. Kết quả của phân tổ
thống kê sẽ cho một dãy số phân phối – được sử dụng trong giai đoạn phân tích và dự đoán
thống kê.
 Phân tích và dự đoán thống kê là nêu lên một cách tổng hợp bản chất và tính quy luật của các
hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội trong điều kiện nhất định qua biểu hiện bằng số lượng
và tính toán các mức độ trong tương lai, nhằm đưa ra những căn cứ cho quyết định quản lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status