CNH HĐh và vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH HĐH của nước ta hiện nay - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
Từ đại hội Đảng lần thứ III, Đảng ta luôn coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH-HĐH) là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ.Đảng ta đã xác định thực
chất của CNH xã hội chủ nghĩa là “Quyết tâm thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực
hiện phân công mới về lao động xã hội là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để
không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng“. Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ để thủ
tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế xã hội, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế,
bảo đảm tăng trưởng nhanh ổn định, nước ta phải xác định rõ cơ cấu kinh tế hợp
lý, trang thiết bị ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế. Mặt khác, nước ta là
nước đang phát triển vì vậy quá trình ấy gắn liền với quá trình công nghiệp hoá để
từ đó hiện đại hoá đất nước.
Trong các nhân tố tạo nên sự phát triển kinh tế-xã hội gắn với CNH-HĐH
đất nước thì nhân tố con người có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng hàng đầu. Ở
nước ta hiện nay, cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước và bước vào giai
đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH thì chúng ta càng nhận thức đựơc vị trí, vai trò lớn
lao của nhân tố con người.
Để đạt được sự phát triển, tính hiệu quả của quá trình CNH –HĐH thì cần
phải có những chính sách phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lao
động và cách phân bổ, sử dụng hợp lí. Ở nước ta con người, nguồn nhân lực có
nhiều ưu điểm, lợi thế song cũng có những mặt hạn chế. Vấn đề sử dụng và đào
tạo nguồn nhân lực lại chưa thực sự hợp lý.Chính vì vậy việc phát huy và sử dụng
nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
là một điều hết sức cần thiết và cần có những sự quan tâm đúng mức.
I. CNH – HĐH VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP
CNH – HĐH Ở NƯỚC TA.
1. Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.
1.1. Khái niệm
CNH- HĐH hiểu theo nghĩa chung và khái quát là chuyển một nước có nền
kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại với trình độ kỹ thuật và công
nghệ tiên tiến, năng suất lao động cao trong các ngành kinh tế quốc dân
Ở thế kỷ XVII, XVIII, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây

+ Mô hình công nghiệp hóa ở Liên Xô: phát triển theo hướng nội khép
kín.
+ Mô hình công nghiệp hóa của những nước NICs như Hàn quốc, Đài
Loan, Hồng kông…
+ Mô hình công nghiệp hóa ở những nước ASEAN trong đó có Việt Nam:
có trình độ xuất phát điểm thấp.
1.2. Tính tất yếu khách quan
Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội
là sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học - kỹ
thuật; tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội; đặc biệt là quan hệ sản xuất
thống trị
Nói cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ sở
vật chất - kỹ thuật đó đã đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phương
thức sản xuất đó.
Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước
chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Đặc trưng của cơ
sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá.
Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơn chủ
nghĩa tư bản - đòi hỏi một cơ sở vật chất - kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình
độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại.
Do vậy, có thể hiểu, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền
công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao
dựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế
hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách
quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Đối với các nước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, dù đã có

tế quốc tế.
2. Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH – HĐH ở nước ta.
2.1. Vai trò của con người trong sự nghiệp CNH – HĐH ở nước ta
a) Con người là nhân tố chủ chốt, sử dụng các nguồn lực khác phục vụ
cho quá trình CNH-HĐH.
Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên,… nó đều tồn tại ở dạng
tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi kết hợp với
nguồn lực con người thông qua sự hoạt động ý thức của con người bởi vì con
người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có chí tuệ và ý chí biết lợi dụng các
nguồn lực khác gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng tác
động vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các nguồn lực khác chịu sự cải
tạo tác động , khai thác của con người va chúng đều phục vụ cho lợi ích của con
người nếu như con người biết cách tác động và chi phối. Vì vậy trong các yếu tố
thi nguồn nhân lực là quan trọng nhất. Chẳng hạn như vốn, tài nguyên là những
nguồn lực để tiến hành CNH-HĐH nhưng chúng chỉ trở thành nguồn lực quan
trọng và cấp thiết cho sự phát triển khi nằm trong tay của người biết khai thác và
sử dụng chúng. Nếu thiếu sự hiện diện của con người thi mọi nguồn lực đều trở
nên vô nghĩa.
b) Các nguồn lực khác là có hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt còn nguồn
nhân lực là vô tận.
Nguồn lực con người không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh học mà
còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con người xã hội nếu biết
chăm lo và bồi dưỡng hợp lý. Đó là cơ sở để làm cho năng lực và hoạt động thực
tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận. Nhờ vậy con người đã
từng bước làm chủ tự nhiên, sáng tạo khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới,
nhiều công cụ sản xuất mới, đưa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến
cao.
c) Trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn.
Một khi trí tuệ con người được vật thể hóa trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ

tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng
thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh
tế và đời sống xã hội. Giữa bối cảnh thế giới như thế, Đảng ta tổ thức Đại hội lần
thứ VIII, IX, X có những nội dung xây dựng phát triển nguồn nhân lực của nước
ta trong sự nghiệp CNH-HĐH của nước ta hiện nay.
. Tháng 6-1996, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII diễn ra, nhìn lại toàn
cảnh đất nước sau mười năm đổi mới (từ Đại hội VI của Đảng 1986). Mười năm
ròng rã phấn đấu thực hiện cải cách, đổi mới, “Đất nước thoát khỏi khủng hoảng
kinh tế - xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất của đông đảo nhân dân, giữ
vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh được củng cố. Đồng thời, thành tựu
10 năm đổi mới đã tạo được nhiều tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.”. Bước sang giai đoạn mới- giai đoạn quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ quan trọng cho thời kỳ này, đó là chuẩn bị
tiền đề cho CNH-HĐH đã cơ bản hoàn thành, cho phép nước ta chuyển sang thời
kỳ mới đấy mạnh CNH-HĐH đất nước. Đặc biệt nhấn mạnh chủ trương xây dựng,
phát triền hệ thống nguồn nhân lực trong nước.Đảng ta trong quá trình lãnh đạo
cách mạng Việt Namluôn chú trọng yếu tố con người, coi con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-
HĐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đại hội đã
nêu rõ quan điểm: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh chóng và bền vững”. Và “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát
huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của
công cuộc CNH-HĐH”. Đại hội Đảng VIII đã chỉ rõ nhiệm vụ ”Phát triển khoa
học và công nghệ, giáo dục và đào tạo. Đảng chủ trương phát triển mạnh mẽ sự
nghiệp giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài. Coi trọng cả quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo”. những quan
điển trên cho thấy, Đảng đã và đang tập trung vào nguồn lực quan tọng nhất của
nước ta hiện nay, đó không phải là tài nguyên mà là nguồn lực con người, chỉ có
nguồn lực con người mới khiến cho đất nước phát triển bền vững và lâu dài. Ngay

ta đang thực hiện và phấn đấu không ngừng để phát triển, để hướng Việt Nam trở
thành một nước công nghiệp đến năm 2020.
b. Từ 2011 đến nay.
Đại hội XI của Đảng họp vào lúc toàn Đảng, toàn dân ta kết thúc thập kỷ đầu
của thế kỷ XXI, thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, nhiệm vụ của Nghị quyết
Đại hội X và đã trải qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 10 năm thực hiện Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010. Cùng với đầy là công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước vấn đang trên con đường thực hiện và đấy nhanh mục
tiêu thắng lợi. Trên cơ sở tiếp tục thực hiện các mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển kinh tế thị trường
gắn với giải quyết hài hoà các vấn đề xã hội, môi trường như đã chỉ ra ở các đại
hội khóa trước, Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) đã cụ thể hóa, bổ sung, phát triển
và làm sáng tỏ thêm một số nội dung mới. Thể hiện ở những điểm sau:
Một là, đặc trưng về con người XHCN nêu trong Cương lĩnh (bổ sung, phát
triển năm 2011) được diễn đạt gọn hơn song vẫn bảo đảm đúng bản chất xã hội
XHCN mà chúng ta xây dựng. Đó là: “Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Chủ trương trên được đề ra nhằm mục
tiêu phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trong nước. Để phấn đấu đến
năm 2020, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và thực
hiện được mục tiêu phát triển con người mà Cương lĩnh 2011 đề ra, Đảng ta nhấn
mạnh: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ
thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”. Quan điểm này là sự tiếp
nối tư tưởng nhất quán của Đảng, coi con người là chủ thể và là nguồn lực quan
trọng nhất, quyết định sự phát triển xã hội và sự nghiệp cách mạng Việt Nam; mọi
quá trình phát triển kinh tế - xã hội phải hướng tới mục tiêu nhân văn cao cả là vì
con người. Điểm mới trong tư duy của Đại hội Đảng lần thứ XI là, một mặt, khẳng
định vai trò chủ thể của con người. Mặt khác, chỉ rõ để con người có điều kiện
phát triển toàn diện và thực sự là chủ thể, cần phải có cơ chế thích hợp. Cơ chế đó
là mở rộng dân chủ, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát huy

vững.
Trênđây là những quan điểm cụ thể mà Đại hội Đảng XI đã chỉ rõ và thể hiện
chủ sự đúng đắn trong quản lý và nhận thức vai trò của nguồn nhân lực trong sự
phát triển chung của toàn dân tộc hiện nay.
Con người là nhân tố thực sự quan trọng cho sự phát triển bền vững của một
quốc gia. Và, vấn đề nhân lực thực sự là một bài toán khó và cần một quá trình để
phát triển, cũng như cần sự thống nhất đồng bộ trong quản lý cũng như thực hiện,
cùng phát triển, xây dựng mới có thể đạt được các mục tiêu đã đặt ra.
II. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY.
1. Thực trạng.
Rõ ràng không thể phủ nhận vai trò to lớn của nguồn nhân lực trong thời kỳ
công nghiệp hóa-hiện đại hóa, đó là nhân tố quyết định đến sự phát triển của nước
ta cũng như của các doanh nghiệp hiện nay. Tuy nhiên Trong thời điểm nền kinh
tế đang có hướng chững lại, thị trường lao động tại nước ta đã bộc lộ những bất
cập về dòng chuyển dịch, chất lượng, sử dụng
 Việt Nam là một trong những nước đông dân với cơ cấu dân số trẻ tạo ra một lực
lượng lao động dồi dào.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến năm 2011 dân số Việt Nam gần đạt
ngưỡng 88 triệu người (ước tính khoảng 87,84 triệu người). Với lượng dân số này,
hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 13 trên thế giới về dân số và thứ 2 trong khu
vực Đông Nam Á. Về lực lượng lao động , tính đến 1/7/2011, cả nước có 51,4
triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,5% tổng dân số.
Trong đó lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 70,3%.
Về cơ cấu lao động nước ta hiện nay cho thấy những bước chuyển dịch tích
cực, tỷ trọng lao động ngành nông – lâm – thủy sản giảm, ngành công nghiệp và
dịch vụ tăng, tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch số lượng lao động giữa các
ngành kinh tế vẫn tương đối lớn.
Bảng 1. Cơ cấu lao động của các khu vực kinh tế, 2006-2011

Năm Nông, lâm,

kế hoạch đã không thể được tạo ra trong riêng năm 2011 do tăng trưởng kinh tế
thấp.
 Số lượng không song hành với chất lượng.
Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động đông không có nghĩa là thị trường
lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp. Bởi số lao
động có tay nghề, có chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế. Trong tổng số
51,4 triệu lao động chỉ có gần 7,8 triệu người đã được đào tạo, chiếm 15,4%. Sự
chênh lệch về chất lương nguồn lao động được thể hiện rõ nhất là ở khu vực nông
thôn và thành thị. Ở thành thị lao động đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi ở
nông thôn chỉ có 9%. Sự chênh lệch này là quá lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự
phát triển kinh tế chung của nước. Trong khi đó, lượng lao động từ nông thôn đến
thành thị tìm việc là rất lớn.Nhưng mục đích chính của những lao động này lên
thành phố không phải để học nghề, học việc mà tham gia vào các công việc mang
tính chất thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc không đòi hỏi kinh nghiệm,
tay nghề.
Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo
trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng
cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Số người từ 15 tuổi trở
lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40%. Cơ
cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại
học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi
trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB),
Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao
và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác.
Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm
(xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là
6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94
Cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối. Các ngành kỹ
thuật - công nghệ, nông - lâm - ngư nghiệp ít và chiếm tỉ trọng thấp, trong khi đó
các ngành xã hội luật, kinh tế, ngoại ngữ lại quá cao. Nhiều ngành nghề, lĩnh

lượng cao. Trong khi đó, tỷ lệ lao động có chất lượng của chúng ta lại quá ít,
không đủ để đáp ứng cho nhu cầu của các doanh nghiệp.
2. Nguyên nhân
Có thể rút ra đượcmột số đặc điểm trọng tâm về thực trạng nguồn nhân
lực ở Việt Nam hiện nay:
- Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm
đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, chưa được nâng cấp, còn
đào tạo thì chưa đến nơi đến chốn, nhiều người chưa được đào tạo.
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa
lượng và chất.
- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công
nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Có thể đánh giá tổng quát về nhân lực Việt Nam hiện nay là số lượng
đông, chất lượng không đông, thể hiện là tay nghề thấp, chưa có tác phong công
nghiệp, chưa có những tổng công trình sư, kỹ sư, nhà khoa học thật sự giỏi; chưa
có những chuyên gia giỏi; chưa có những nhà tư vấn, nhà tham mưu giỏi; chưa có
những nhà thuyết trình giỏi; chưa có những nhà lãnh đạo, nhà quản lý giỏi.
Báo chí nước ngoài bình luận người Việt Nam khá thông minh, rất nhanh
nhạy trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới. Tiếc rằng, lại chưa được khai thác
đầy đủ, đào tạo chưa bài bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Nguyên nhân là do:
Nguồn nhân lực trong nông thôn chưa được khai thác, đào tạo, cho nên một
bộ phận nhân dân ở nông thôn không có việc làm ở các khu công nghiệp, công
trường và hiên nay các doanh nghiệp đang thiếu nghiêm trọng thợ có tay nghề
cao, trong khi đó, lực lượng lao động ở nông thôn lại dư thừa rất nhiều; chất lượng
lao động rất thấp đó là do khâu tổ chức lao động và quy hoạch lao động trong
nông thôn chưa tốt. Chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa
đồng bộ, chưa mang tính khuyến khích và tính cạnh tranh.
Tình trạng giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất

và liên kết với hoạt động nghiên cứu, chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên,
chiến lược phát triển học suốt đời
Ở châu Á, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn
nhân lực. Xuất phát từ việc xác định rằng, nước Nhật nghèo tài nguyên thiên
nhiên, để phát triển, chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản,
Chính phủ nước này đã đặc biệt chú trọng tới giáo dục - đào tạo, thực sự coi đây
là quốc sách hàng đầu. Theo đó, chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và
trung học cơ sở là bắt buộc; tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi được học
miễn phí. Kết quả là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở nước
này ngày càng nhiều. Và Nhật Bản đã trở thành một trong những cường quốc giáo
dục của thế giới.
Về sử dụng và quản lý nhân lực, Nhật Bản thực hiện chế độ lên lương và tăng
thưởng theo thâm niên. Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu
dựa vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường
hợp cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm
lâu năm.
Tại Trung Quốc, Chính phủ đang hết sức quan tâm đến việc đào tạo và sử
dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất lượng
nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức. Năm 2003, Trung Quốc đã đề
ra Chiến lược tăng cường hơn nữa công tác bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực
hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả được đề ra trong Đại hội XVI của
Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội dung của chiến lược là: lấy nhân tài chấn hưng
đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài có chất lượng cao; kiên quyết quán
triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và sự sáng tạo,
lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều
chỉnh nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy
mạnh công tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ
chế đánh giá và sử dụng nhân tài một cách khoa học
Singapore áp dụng linh hoạt chính sách giáo dục và luôn hướng đến khả
năng, sở thích cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy

người trong thời đại hiện nay như trách nhiệm công dân, tinh thần học tập, trau dồi tri
thức; có ý thức và năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội; sống có nghĩa tình, có
văn hóa, có lý tưởng. Đây cũng là những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, rất cần được tiếp tục phát huy trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là đối với
thế hệ trẻ.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nâng cao chất lượng chăm sóc
sức khỏe người dân, chính sách lương - thưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Đại hội XI
đã đề cập tới việc cụ thể hóa những hoạt động của lĩnh vực này nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập,
cạnh tranh gay gắt và yêu cầu cường độ lao động cao.
Thứ tư, cải thiện và tăng cường thông tin về các nguồn nhân lực theo hướng rộng
rãi và dân chủ, làm cho mọi người thấy được tầm quan trọng của vấn đề phát triển
nguồn nhân lực ở nước ta và trên thế giới.
Thứ năm, cần có sự nghiên cứu, tổng kết thường kỳ về nguồn nhân lực Việt
Nam.
Thứ sáu, cần đổi mới tư duy, có cái nhìn mới về con người, nguồn nhân lực Việt
Nam.

THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂ LỰC KẾ TOÁN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1. Thực trạng
Hiện nay khi đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất
nước, nhất là sau khi gia nhập WTO tình hình kinh tế đang phát triển, các doanh
nghiệp, khu công nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài mọc lên ngày càng nhiều và kéo
theo hàng loạt dịch nhu cầu tuyển dụng nhân sự mà kế toán là một trong những vị trí
bắt buộc phải tuyển để có thể hình thành một bộ máy hành chính phục vụ cho hoạt
động của doanh nghiệp. Dù trong bối cảnh kinh tế đi xuống, nghề kế toán vẫn cần
thiết bởi nhu cầu về phân tích tài chính, hoạch định kinh doanh, sổ sách tài chính
công ty càng trở nên cấp thiết vì nhân viên kế toán được ví như tay hòm chìa khóa
của doanh nghiệp,giữ một vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp. Khi hội nhập và

ngành của thành phố.Trong khi đó cơ cấu cầu của ngành này chỉ đứng thứ 7 hoặc
8,có khi là thứ 9 trong 40 ngành.Cơ cấu nguồn cung gấp gần 10 lần so với nguồn cầu
của ngành.
 Phẩm chất nghề nghiệp.
-Về thể lực: Nguồn nhân lực kế toán đa số đều có sức khỏe tốt,có khả năng làm
việc với cường độ cao,chịu được áp lực công việc,đáp ứng tương đối yêu cầu của
CNH-HĐH đất nước.
-Về trí lực: Nguồn nhân lực kế toán đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của thời
đại công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.
- Về đạo đức nghề nghiệp: đối với bất kỳ ngành nghề nào, người lao động cũng
cần phải luôn coi trọng vấn đề đạo đức nghề nghiệp. Đối với nghề kế toán, vấn đề
đạo đức nghề nghiệp lại được đề cao. Đối với mỗi doanh nghiệp, vai trò của công tác
kế toán cũng như nhân lực kế toán đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản
lý, sử dụng và hoạch định nguồn tài chính của doanh nghiệp, đóng vai trò quyết định
đến sự sống còn của doanh nghiệp. Chính vì thế, chỉ cần nhân viên kế toán có sai sót,
nó sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp cũng như các chính sách của Nhà nước đối với
doanh nghiệp.
Một vấn đề nổi trội hiện nay, là tình trạng gian lận của lực lượng lao động kế
toán trong các tổ chức, doanh nghiệp ngày càng gia tăng gây nên nhiều tổn thất
nghiêm trọng cho bản thân doanh nghiệp cũng như cho toàn xã hội.
Bên cạnh những nguồn lực kế toán có phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp thì
cũng không ít nguồn lực kế toán vì lợi nhuận cho doanh nghiệp,lợi tư cá nhân hay vì
theo yêu cầu của cấp trên mà đánh mất đạo đức nghề nghiệp gây thiệt hại không hề
nhỏ cho chính doanh nghiệp,cho xã hội cho sự công nghiệp hóa hiện đại hóa phát triển
của đất nước.Tiêu biểu chúng ta có thể điểm qua một số vụ việc như sau:
Vụ việc chốn thuế của Coca –Cola Việt Nam. Do yêu cầu, sự chỉ đạo của cấp
trên của Tổng công ty Coca-Cola mẹ đã làm cho kế toán của Coca-Cola Việt Nam mất
đi phẩm chất nghề nghiệp bằng việc lách luật, chế biến báo cáo tài chính để làm công
ty bị lỗ, chốn thuế thu nhập doanh nghiệp. Kế toán chế biên báo cáo tài chính của
công ty Coca-cola Việt Nam trong nhiều năm đều thuộc diện lỗ mặc dù doanh thu tăng

đến thua lỗ liên tục trong nhiều năm và dẫn đến nhưng hoạt động do quá trình hoạt
động đã phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ, có nhiều thiếu sót, sai phạm trong quản
lý,công tác kế toán.Dù được công ty kiểm toán chỉ ra nhưng sai xót trọng yếu công ty
không thực hiện điều chỉnh và tiếp tục yêu cầu kế toán để những sai phạm này: hạch
toán chi phí không đúng, ghi nhận doanh thu khống, công nợ khống… diễn ra vào các
năm tiếp theo. Không chỉ vậy, lãnh đạo công ty còn chỉ đạo kế toán chỉnh sửa hồ sơ,
sổ sách để chứng minh rằng hoạt động kinh doanh của công ty có lãi. Kế toán trưởng
công ty qua các thời kỳ thừa nhận đã chỉ đạo và thực hiện điều chỉnh các bút toán với
mục đích báo cáo tài chính có lãi để có thể phát hành thêm cổ phiếu.Hành vi này của
kế toán trưởng dưới sự chỉ đạo của cấp trên cùng với hoạt động mở rộng loại hình
kinh doanh không đúng hướng đã làm công ty ngừng hoạt động vào năm 2008, và cố
phiếu bị hủy niêm yết trên sàn chứng khoán vào tháng 8-2009.
Bên cạnh đó còn có vụ việc kế toán trưởng Quảng Thanh Cần Công ty Phát triển
và kinh doanh nhà Cần Thơ đã nhận hối lộ, vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc về
quản lý, điều hành doanh nghiệp và các quy định của pháp luật về kế toán, tài chính,
như: thành lập quỹ sai quy định, chuyển nhượng đất cho cá nhân và các doanh nghiệp
khác gây thất thoát ngân sách Nhà nước hàng trăm tỷ đồng.
Như vậy chúng ta có thể thấy chỉ vì lợi ích cá nhân, cũng như lợi ích doanh
nghiệp mà có nhiều nhân lực kế toán đánh mất phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của
mình.Hành động này không chỉ gây mất uy tín, phẩm chất chung cho nghề kế toán mà
lớn hơn hết là làm cho đất nước ta nghèo nàn đi, kém phát triển,không thực hiện được
lộ trình CNH-HĐH như chủ trương đề ra.
 Kỹ năng thực hành của nguồn nhân lực kế toán trẻ còn yếu.
Về chuyên môn nghiệp vụ: công việc kế toán không chỉ yêu cầu nhân lực nắm
được chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp,
đánh giá từ những con số. Nguồn nhân lực kế toán của nước ta cũng chỉ mới đáp ứng
được một phần theo yêu cầu. Bởi một phần lớn nguồn lực là sinh viên mới ra trường
thì trình độ chuyên môn thực tế rất hạn chế. Bên cạnh đó trong quá trình công nghiệp
hóa –hiện đại hóa áp dụng thành tựu khoa học công nghệ,công nghệ thông tin hiện
đại thì trình độ tin học đặc biệt là tin học văn phòng,excel,phần mềm kế toán và tiếng

mềm: làm việc nhóm, giao tiếp ,đàm phán, thỏa hiệp…thực sự thiếu rất nhiều,và nếu
có thì khá hạn chế. Một bộ phận sinh viên khá thụ động , sức ì lớn không tự hòa mình
vào sự phát triển của thời đại, tiếp cận với khoa học công nghệ, năng động tham gia
các câu lạc bộ, thực hành ngoại khóa hay làm thêm để trau rồi kỹ năng mềm, tăng khả
năng giao tiếp. Hơn thế nữa trong thời đại công nghiệp hóa –hiện đại hóa, với xu thế
hội nhập toàn cầu thì trình độ tin học và tiếng anh lại càng cần thiết, nhưng nguồn
nhân lực của nước ta lại khó đáp ứng được. Nếu có học, trau rồi hai khía cạnh này thì
cũng chỉ là theo trào lưu chưa thực sự xuất phát từ bản thân nên chất lượng chưa tốt.
Hiện nay không chỉ có các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước mà còn có các tập
đoàn,tổng công ty,công ty liên doanh hay công ty nước ngoài đầu tư vốn vào Việt
Nam.Hầu hết các công ty tuyển kế toán thì đều yêu cầu có kinh nghiệm ít nhất là 1-2
năm.Đối với những vị trí cao như kế toán trưởng thì các doanh nghiệp lại có những
yêu cầu cao như :Thường chỉ tuyển nam,tuổi đời thường từ 28 trở lên,số năm kinh
nghiệm từ 5 năm trở lên và ưu tiên người có gia đình.Các nhà tuyển dụng có yêu cầu
rất cao,đặc biệt là kinh nghiệm,ngoại ngữ,tin học và họ không muốn đầu tư quá nhiều
đào tạo lại một nhân viên. Chính vì vậy, sinh viên mới ra trường thì khó đáp ứng,còn
những người đã làm việc không có nhiều cơ hội lựa chọn nên họ cố gắng bám việc,
thay vì nhảy việc tìm chỗ làm có lương, ưu đãi cạnh tranh hơn.
Do tình hình kinh tế nước ta hiện nay rất khó khăn, một số DN giải thể hoặc vẫn trong
tình trạng tạm ngưng hoạt đông, khiến nhiều lao động mất việc hoặc khó kiếm việc
làm. Chính vì vậy, NLĐ có tâm lý “giữ chỗ”, làm cho nhu cầu nhân lực càng giảm
trong khi nguồn cung năm nào cũng ra trường lại càng tăng.
Một bộ phận nguồn lực đã và đang làm kế toán thì thuộc một thế hệ trước, họ hoàn
toàn có kinh nghiệm,thâm niên làm việc nhưng việc tiếp xúc với công nghệ và những
phương pháp kế toán mới,khả năng ngoại ngữ thì lại còn khá hạn chế.
b) Nguyên nhân khách quan.
Trước hết ở khâu đào tạo chuyên muôn trên các giảng đường bộc lộ nhiều mặt hạn chế
về yếu kém trong giảng dạy cũng như cơ sở vật chất phục vụ sinh viên học tập và
nghiên cứu ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra của nguồn nhân lực kế toán
Các trường ồ ạt đào tạo kế toán, người người học kế toán theo trào lưu, làm ngành trở

kinh tế, môi trường văn hóa, môi trường kế toán và kiểm toán Việt Nam.Tạo dựng
một không gian kinh tế, một môi trường nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu công khai,
minh bạch, dân chủ, trong các mối quan hệ lợi ích, trong môi trường đó, chỉ có chỗ
cho những người thạo việc và giữ vững đạo đức nghề nghiệp, trong không gian đó,
người kế toán giỏi được vinh danh, tôn trọng và có thu nhập xứng với lao động của
họ.
Việc ban hành chuẩn mực kế toán, kiểm toán, việc quản lý và kiểm tra hành nghề kế
toán, việc tổ chức ôn thi, thi và cấp chứng chỉ nghề nghiệp về kế toán cần thực hiện
nghiêm ngặt chặt chẽ hơn để có được 1 nguồn lực thực sự chất lượng.
Bộ Tài chính sớm ban hành các quyết định để chuyển giao công tác quản lý hành nghề
kế toán,các loại Luật liên quan một cách triệt để, thay cho các Quyết định hiện hành
còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ, rắc rối.
Các doanh nghiệp cần tạo các buổi hội thảo,các buổi tập huấn,tạo điều kiện cho nhân
viên kế toán được đi công tác để cập nhập thông tin,công nghệ,rèn luyện,tu dưỡng
bản thân,nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của công cuộc
CNH-HĐH đất nước.
Khơi dậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội, trách
nhiệm đối với sự nghiệp CNH-HĐH của đất nước trong mỗi kế toán viên và đặc biệt
là tự ý thức rèn luyện, tu nghiệp, học hỏi công nghệ, học hỏi những điều mới mẻ của
thế giới, của xã hội áp dụng phù hợp với nước ta hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status